Kỳ 17:

….

Hảo Hớn bèn đem việc bọn Trần Đại Chí qua mặt mình để buôn hàng quốc cấm và trốn thuế trình bày thật lại cho Khắc Tuyên nghe. Xong ông nói:

– Thưa Tuần phủ, quả thật hạ quan có vì chút lợi riêng nên lơ là trong việc quản lý để chúng qua mặt mà không biết. Nay sự việc đã bị ngài Khâm sai đại thần cho điều tra, hạ quan nghĩ chỉ còn có Tuần phủ mới có thể giúp cho hạ quan giảm nhẹ được tội mà thôi.

Khắc Tuyên nghe chuyện tỏ vẻ ngần ngừ hỏi:

– Ông cũng biết ngài Hình bộ Thượng thư là người liêm khiết và cứng rắn như Thái úy Tô Hiến Thành[1] xưa kia rồi chứ?

– Dạ, hạ quan có biết.

– Đã thế sao ông biết ta có thể giúp được ông?

Hảo Hớn hít nhẹ một hơi, dè dặt nói:

– Hạ quan có biết Tuần phủ là người quen thuộc với quan Ngoại tả. Khâm sai đại thần Hình bộ Thượng thư lại là con rể của ngài Ngoại tả, nếu được ngài Ngoại tả nói cho một tiếng thì việc sẽ êm hơn.

Nói xong ông bưng bình rót thêm ba chén rượu đầy. Khắc Tuyên đưa tay cầm chén uống cạn:

– Hà! Việc này khó đấy! Thôi được, ông đã trình bày trung thực thì ta sẽ cố gắng nhờ anh ta nói giúp với ngài Ngoại tả xem sao. Việc thành hay bại ta không chắc đâu nhé.

Hảo Hớn mừng rỡ đứng lên chắp tay cúi đầu:

– Đa tạ ngài Tuần phủ! Chỉ cần ngài vui lòng giúp cho, hạ quan đã vui mừng lắm rồi. Ơn trọng này hạ quan nguyện sẽ đền đáp.

– Ông đừng cảm ơn vội, ta chỉ nói giúp thôi. Vẫn còn chưa nghe tin gì từ ngài Khâm sai cả mà. Vả lại, ta là người trông coi việc binh bị, còn việc hành chính trong phủ đều do quan Khám lý quyết định. Ông nên nhờ Hoàng Công Đức thì bảo đảm hơn.

– Vâng, hạ quan biết. Việc ở trên thì nhờ Tuần phủ nói hộ, việc địa phương hạ quan sẽ cậy đến quan Khám lý ạ.

Ngọc Chánh mỉm cười:

– Ông đụng tới hắn thì phải chuẩn bị trước cái hầu bao cho lớn.

Hảo Hớn nói:

– Cảm ơn Cai đội đã mách nước.

Khắc Tuyên phẩy tay nói:

– Việc ấy cứ tạm như vậy đi. Chúng ta hãy uống rượu đã, không nên để hư mùi vị của loại quí tửu này.

Huỳnh Hảo Hớn trong lòng mừng vô cùng, ông nghĩ việc tưởng khó không ngờ lại dễ thành như vậy. Ông nhanh nhẹn rót rượu vào chung.

– Mời hai vị. Hạ quan ước gì được gần gũi để có thể cùng uống rượu với hai vị mỗi ngày thì vui biết bao.

Ngọc Chánh tỏ vẻ đồng tình:

– Tôi cũng mong được như vậy. Thiên hạ rộng lớn nhưng không dễ tìm được người tri kỷ để uống với nhau đâu. Mời quan huyện.

Ba người uống cạn ly xong Hảo Hớn đứng lên chắp tay nói:

– Cũng đã khuya, hạ quan xin cáo từ để Tuần phủ và Cai đội nghỉ ngơi. Hạ quan sẽ trở lại thăm hai vị.

Khắc Tuyên và Ngọc Chánh cũng đứng lên:

– Ông về đi. Việc tôi hứa, tôi sẽ giúp cho.

Hảo Hớn cúi đầu:

– Đa tạ ngài Tuần phủ, hạ quan cáo từ.

Ngọc Chánh tiễn chân Hảo Hớn ra bên ngoài. Khi ông quay trở lại bàn, Khắc Tuyên chỉ chiếc hộp nhỏ thứ ba mà Hảo Hớn còn để lại trên bàn chưa mở, mỉm cười nói:

– Hắn để quên chiếc hộp này lại. Tên này biết cách làm quan lắm. Chú mở ra xem trong đó có gì.

Ngọc Chánh mở chiếc hộp ra thấy bên trong đựng toàn là vàng liền nói:

– Ít gì cũng đến năm trăm lạng vàng ròng đấy. Hắn biết điều đó chứ đại ca.

Khắc Tuyên nói:

– Hắn thay cha giữ chiếc ghế quan huyện Bồng Sơn hơn mười năm nay, có lẽ cũng đã hốt của bá tánh nhiều lắm rồi. Hà, thời buổi này làm quan không nhận của đút lót là không xong. Ta cứ nhận rồi giúp hắn một tiếng cũng được.

Ngọc Chánh cười đẩy hộp vàng sang cho Khắc Tuyên. Tuyên lấy ra khoảng năm mươi lạng đưa cho Chánh:

– Chú cất đi để lo gia đình. Lương Cai đội cũng chẳng là bao. Phần còn lại ta lấy một ít, còn bao nhiêu gửi cho anh Cửu Thống để hiếu kính ngài Ngoại tả. Anh Cửu Thống vừa được Võ Vương đồng ý gả Đại Công chúa Ngọc Huyên cho. Ta nhân số vàng này mượn hoa hiến Phật là tiện nhất.

Ngọc Chánh mỉm cười:

– Khi viết thư cho Phò mã tương lai, anh cho em gởi kèm lời chúc phúc với nhé. Người ta nói một người làm quan cả làng được hưởng phúc mà.

Cả hai nhìn nhau cười.

***

Tối hôm sau Huỳnh Hảo Hớn ghé tư dinh của quan Khám lý. Vợ Hoàng Công Đức vốn là em họ một người sủng thiếp của Trương Phúc Loan, nhờ thế bên vợ nên khi hắn đỗ xong Cử nhân dưới thời Chúa Phúc Chú thì được bổ về làm tri huyện Triệu Phong ở Thuận Châu, là châu Ô cũ (nay thuộc miền nam tỉnh Quảng Trị). Được tám năm, nhờ vào sự giỏi giang của vợ, hắn được Trương Phúc Loan đề bạt về làm Khám lý phủ Quy Nhơn, tính đến nay đã ba năm (chức Khám lý sau đổi lại là chức quan Trấn thủ). Hoàng Công Đức tuổi độ ba mươi, còn trẻ nhưng đã có bụng nên trông bệ vệ ra dáng quan quyền. Thời còn làm Tri huyện Triệu Phong, hắn đã khiến cho dân trong huyện kêu trời không thấu vì tính tham lam và hách dịch. Sau ba năm về làm Khám lý ở vùng biên tái Quy Nhơn, xa “mặt trời”, hắn lại càng tham lam vộ độ và bạo ngược hơn nữa. Các hộ thương buôn phủ Quy Nhơn không hộ nào tránh được sự bòn rút có khi khéo léo có lúc trắng trợn của hắn. Quyền sinh sát hắn nắm trong tay, cho nên những vụ kiện cáo dù lớn đến đâu, nếu thân chủ chịu bỏ tiền ra thì tội nặng sẽ thành nhẹ và ngược lại.

Tuy lộng hành đến mức ấy nhưng hắn lại rất được lòng quan Ngoại tả vì hàng năm hắn khôn khéo sai vợ về Phú Xuân hiếu kính hậu hĩ cho bà chị ái thiếp của Phúc Loan. Hắn còn khôn ngoan không quên bày tỏ sự hòa hảo với Nguyễn Khắc Tuyên bằng những món quà trọng hậu để quan Tuần phủ vui vẻ mà lo giữ yên vùng đất biên tái nhưng màu mỡ này cho hắn tha hồ bòn rút, tác oai tác quái. Tuy nhiên giữa quan Tuần phủ và quan Khám lý, tính cách vốn khác biệt nhau nên trong quan hệ có vẻ bằng mặt mà không bằng lòng. Có điều họ biết rằng nếu thuận thảo với nhau thì cả hai đều có lợi, lại được ung dung làm vua một cõi nên chẳng ai dại gì mà ra mặt hiềm khích hay chống đối bên kia.

Hắn không thích rượu, chỉ mê nghe ca hát và đàn bà đẹp. Thấy đàn bà đẹp là hắn tít mắt, ác nỗi bà vợ bửu bối của hắn thuộc loại sư tử Hà Đông, lại không bao giờ rời mắt khỏi chồng cho nên hắn đành ôm hận nuốt nước bọt nhịn thèm. Cũng may mụ vợ hắn cũng thuộc loại mê nghe ca hát nên đêm đêm vẫn thường thuê những nàng ca kỹ hoặc đám hát vào trình diễn trong tư dinh. Công Đức nhờ thế mà con mắt đỡ phải chết thèm.

Huỳnh Hảo Hớn tìm đến xin ra mắt quan Khám lý đương lúc vợ chồng Hoàng Công Đức đang xem hát. Nghe gia nhân vào báo có quan huyện Bồng Sơn ghé thăm, hắn gắt:

– Ra bảo hắn đợi một lát. Tuồng đang hồi hấp dẫn ngươi không thấy sao?

Tên gia nhân biết tính chủ nên “dạ” một tiếng rồi chạy ra nhà khách nói lại với Hảo Hớn:

– Quan huyện đợi một lát, ngài Khám lý đang coi dở vở tuồng, chốc nữa ngài sẽ ra ngay.

Hảo Hớn vui vẻ nói:

– Không sao, tôi sẽ đợi.

Tên gia nhân trở gót vào trong, một lúc sau hắn bưng trà nóng ra mời khách:

– Mời quan huyện uống tách trà giải khát. Ngài Khám lý sẽ ra ngay thôi.

Nói xong hắn quay trở lại nhà sau để tiếp tục coi tuồng. Hảo Hớn ngồi đợi một mình hơn một canh giờ nên trong lòng vừa nóng nảy vừa bực tức. Ông ta đứng lên đi lui đi tới trong phòng khách, đi chán lại ngồi, ngồi một lúc lại đứng lên đi. Tên gia nhân thỉnh thoảng lại bưng một tách trà nóng khác ra thay và nói: “Ngài Khám lý sẽ ra ngay thôi ạ,” rồi bỏ vào trong coi hát tiếp. Hảo Hớn cố nén giận trong lòng, kiên nhẫn đợi như thế từ giữa giờ Dậu đến cuối giờ Tuất (khoảng 6-9 giờ tối) thì Hoàng Công Đức coi hát xong mới uể oải bước ra. Hắn nheo nheo đôi mắt buồn ngủ nhìn Hảo Hớn hỏi:

– Quan huyện mới đến à? Có việc gì mà tìm bổn quan vào giờ này vậy?

Hảo Hớn đứng lên nói:

– Chào ngài Khám lý. Thật xin lỗi vì đã quấy rầy ngài đêm hôm thế này. Chỉ bởi hạ quan có chút việc gấp nên ghé thăm ngài, nhân tiện xin ngài giúp đỡ cho một việc. Hạ quan xin đội ơn ngài Khám lý trước.

Công Đức bước đến chiếc tràng kỷ ngồi xuống:

– Ông ngồi xuống đi. Có phải chuyện ông để bọn con buôn buôn hàng quốc cấm và trốn thuế rồi bị ngài Khâm sai đại thần bắt quả tang không?

Hảo Hớn đỏ mặt:

– Quan Khám lý nắm tin tức nhanh thật. Dạ, hạ quan quả có sơ sót trong việc quản lý nên để bọn con buôn qua mặt làm càn. Vì thế hạ quan mới đường đột đến đây để xin ngài Khám lý tìm cách giảm nhẹ sự việc này. Hạ quan nguyện đền ơn ngài xứng đáng.

Công Đức nheo mắt hỏi:

– Tên Trần Đại Chí được mệnh danh là “ông vua muối và gỗ”, giàu có nhất nhì ở phủ Quy Nhơn này là nhờ có ông đứng sau lưng phải không?

Hảo Hớn giật mình ấp úng:

– Dạ… đâu có ạ. Hạ quan với hắn chỉ có chút tình đồng song. Lúc nhỏ hai chúng tôi có thời gian học chữ chung một thầy nên có tình bè bạn mà thôi. Xin ngài Khám lý đừng hiểu lầm.

Công Đức cười mỉm:

– Ông không qua mặt tôi nổi đâu. Nhưng gác chuyện đó sang một bên. Ông có biết ngài Khâm sai hiện giờ đang ở phủ chúng ta là ai không?

– Dạ biết. Là ngài Hình bộ Thượng thư.

– Thế ông biết tính cách của ngài Thượng thư chứ?

– Dạ biết.

– Ông biết tính của ngài Thượng thư rồi còn bảo tôi giúp đỡ là giúp đỡ bằng cách nào? Ông định hại luôn cả tôi đấy à?

– Dạ, hạ quan đâu dám có ý đó. Chỉ mong ngài, qua phu nhân, nói giúp với quan Ngoại tả một tiếng. Chắc ngài Khám lý cũng biết giữa quan Ngoại tả và quan Thượng thư có tình cha vợ con rể mà. Sau đó ở công đường xin ngài giảm nhẹ tội trạng cho chúng tôi. Ngài cũng biết Đại Chí và bọn Diệp Sanh Ký là những người giàu có, chúng hứa sẽ đền ơn ngài xứng đáng.

– Ông biết được nhiều chuyện đó chứ. Ông mách thế thì tôi sẽ thử giúp ông. Ông tính thế nào?

Huỳnh Hảo Hớn biết mình đã gãi đúng chỗ ngứa của tên tham lam này rồi nên trong bụng mừng thầm. Ông cúi xuống lấy gói đồ mang theo để lên bàn và mở ra. Trong gói có hai chiếc hộp gỗ màu đen mun rất đẹp, một hộp lớn, một hộp nhỏ hơn. Hảo Hớn mở khóa bật nắp chiếc hộp lớn ra trước. Trong hộp đựng toàn vàng khối, mỗi khối mười lượng vàng chín tuổi. Có chừng năm mươi khối như vậy. Ông mở tiếp chiếc hộp nhỏ, trong đó đựng khoảng hai mươi khối vàng. Hảo Hớn hai tay đẩy nhẹ hai hộp vàng về phía Hoàng Công Đức:

– Chiếc hộp lớn để cho ngài Khám lý gởi tặng quan Ngoại tả. Hộp nhỏ là phần quà lễ của chúng tôi với ngài. Việc êm xuôi, chúng tôi sẽ hiếu kính riêng ngài thêm một hộp lớn nữa. Mong ngài nhận trước cho.

Hoàng Công Đức nhìn hai hộp vàng và nghe lời hứa hẹn liền cười tít mắt:

– Ông nhanh nhảu và thẳng thắn lắm. Được! Ta không chắc chắn lắm nhưng hứa sẽ giúp cho bọn ông. Hãy coi phước của các ông lớn nhỏ thế nào.

Hảo Hớn cũng cười theo:

– Đã có ngài Khám lý giúp cho thì vô phước cũng thành đại phước mà.

Công Đức uể oải đứng lên:

– Ngài Khâm sai lệnh cho ta ra trát tống giam ba tên Đại Chí, Đồng Bách và Thừa Ân để mười hôm nữa giải lên công đường xét xử. Ông về nhốt chúng lại rồi mang lên phủ cho ta.

– Dạ! Mai hạ quan về sẽ cho bắt bọn chúng và giải lên phủ cho ngài. Giờ xin cáo từ để Khám lý nghỉ ngơi.

– Ừ, ông về đi.

[1]  Tô Hiến Thành (1102 – 1179), quê làng Hạ Mỗ (nay thuộc huyện Đan Phượng thành phố Hà Nội), là quan đại thần phụ chính nhà Lý, phụng sự hai triều vua: Lý Anh Tông và Lý Cao Tông. Ông là viên quan văn võ song toàn, nổi tiếng công minh chính trực, được vua phong tước Vương mặc dù không phải tôn thất nhà Lý.

(xem tiếp vào ngày mai)