Kỳ 61:

……..

Trong khi ở dinh Quảng Nam xảy ra hai vụ huyết án kinh thiên động địa thì trên núi Bửu Long, Văn Hiến và Hồng Liệt đã khai thông được Sinh Tử Huyền Quan nên nội lực cả hai giờ đây sung mãn vô cùng. Một hôm, Phật Chiếu thiền sư ghé lên động và nói:

– Về nội, ngoại công phu thì hai con đều đã thành tựu mỹ mãn, riêng các Luân Xa không phải trong một sớm một chiều là có thể khai mở tất cả được. Đời các con còn dài, hãy thường xuyên tập luyện rồi theo thời gian nó sẽ bổ sung thêm nội khí cho cơ thể. Hôm nay ta bắt đầu truyền thụ quyền pháp và kiếm pháp cho các con. Cả hai con đều dùng kiếm cả phải không?

Hai người đồng thanh đáp:

– Dạ!

– Tốt! Quyền và kiếm pháp này là do ta và nho hiệp đã tinh lọc ra từ tinh hoa của võ thuật Đại Việt và Trung Hoa rồi đúc kết lại mà thành. Đó là Long quyền, tức là quyền của Lạc Long Quân và Phụng kiếm, tức bài kiếm của người Việt nữ thuở xưa. Nói là Long quyền nhưng thực sự là Tiềm long phục hổ vì nó kết hợp sự uyển chuyển dẻo dai của rồng và sự mạnh bạo mau lẹ của hổ. Bộ pháp của bài quyền này dựa trên căn bản của Cửu cung bát quái mà thay đổi phương vị. Bài Phụng kiếm gồm một số chiêu thức của bài Việt nữ kiếm mà ngày xưa cô gái Việt đã giúp cho quân của Việt Vương Câu Tiễn đánh bại Ngô Vương Phù Sai còn lưu truyền lại. Nó kết hợp với tinh hoa kiếm pháp Đại Việt và Trung Hoa mà thành. Vì vậy, dù có tên là Phụng kiếm nhưng thế kiếm không quá uyển chuyển như chim phụng múa mà lại hàm chứa sát khí rất nặng bên trong. Tên gọi Phụng kiếm chỉ là cách để nhắc nhở chúng ta về người Việt nữ tài ba thuở xưa mà thôi.

Văn Hiến hỏi:

– Bài Việt nữ kiếm nghe nói đã thất truyền từ lâu rồi làm sao sư phụ và sư bá có được?

Phật Chiếu đáp:

– Có lẽ do anh linh của tổ tiên dòng Bách Việt phù hộ nên xui khiến sư phụ con trong một lần đi vào vùng núi Vũ Di ở Phúc Kiến đã gặp được một truyền nhân của Việt nữ kiếm tại một bộ lạc người Mân. Họ là hậu nhân của Vô Chư, vị Mân Vương cuối cùng của nước Mân Việt thời nhà Hán. Tuy bài kiếm đã bị biến đổi nhiều qua hơn hai mươi thế kỷ nhưng bấy nhiêu thôi cũng là quá may mắn cho người Việt ta rồi.

Văn Hiến và Hồng Liệt lại mất thêm nửa tháng nữa để lĩnh hội tất cả những yếu quyết của Long quyền và Phụng kiếm. Trình độ võ công của hai người xấp xỉ nhau nên việc luyện tập rất mau chóng và đạt nhiều hiệu quả. Thiền sư Phật Chiếu sau khi quan sát kiểm tra lại việc học tập của hai người thì ngài cho phép họ về chùa. Ngài dặn dò:

– Thành tựu của hai con thật vượt quá sự mong đợi của ta và nho hiệp. Bây giờ, hai con có thể xuống núi hành hiệp trượng nghĩa mà không lo gặp nhiều nguy hiểm, trở ngại nữa. Tuy nhiên núi này cao ắt có núi khác cao hơn, vả lại võ học mênh mông vô bờ bến nên hai con đừng bao giờ tự phụ vào võ công của mình, hãy luôn cố gắng luyện tập mọi lúc để tăng tiến hơn. Và điều quan trọng nhất là phải lấy hai chữ từ bi làm gốc, tình thương làm trọng. Dù là kẻ thù, nếu có thể tha được thì nên tha. Mong các con nhớ kỹ lời ta nói.

Cả hai đồng thanh đáp:

– Chúng con xin ghi nhớ lời dặn của sư bá!

Phật Chiếu gật đầu rồi vào trong mang ra hai thanh kiếm và hỏi:

– Hai con có từng nghe nói về một người tên Âu Dã Tử ở nước Việt xưa không?

Hồng Liệt đáp ngay:

– Dạ có! Âu Dã Tử nước Việt và Can Tương nước Ngô sống cùng thời với nhau, họ là hai là bậc thầy luyện kiếm trong thiên hạ tự cổ chí kim.

– Đúng! Còn gì nữa?

– Việt Vương Doãn Thường biết Âu Dã Tử có tài luyện kiếm nên cho mời tới và nhờ rèn kiếm báu. Âu Dã Tử vâng lệnh đi khắp nước Việt để tìm kim loại quí, khi ngang qua vùng suối Long Tuyền ở Tần Khê, Chiết Giang thì thấy có ánh sáng kim loại tỏa lên trong trời đêm, ông biết nơi đây có kim loại quí nên đào xới và tìm được một khối sắt tốt. Ông luyện ra năm thanh kiếm báu cho Việt Vương là Trảm Lư, Cự Khuyết, Thắng Tà, Ngư Trường và Thuần Quân. Sau, vua Việt đem thanh Trảm Lư tặng Ngô Phù Sai để tâng công. Nhưng khi Việt Câu Tiễn diệt được Ngô Vương đã thu hồi lại thanh Trảm Lư và đem chôn theo mình lúc tạ thế. Vua nước Sở là Sở Chiêu Vương nghe danh Âu Dã Tử bèn nhờ Phong Hồ Tử là bạn của Âu Dã Tử rước về rèn kiếm cho mình. Âu Dã Tử đã rèn cho vua Sở ba thanh Long Tuyền, Thái A và Công Bố. Tất cả đều là bảo kiếm trong thiên hạ.

– Còn Can Tương?

Hồng Liệt nghe hỏi đúng với sở thích của mình nên say sưa đáp:

– Can Tương có vợ là Mạc Gia. Vua Ngô sai Can Tương rèn kiếm, ông tìm được một lõi kim loại rất quí đem luyện nhưng luyện mãi kim loại vẫn không chảy. Mạc Gia nghe chồng nói kim loại này cần linh khí của người nên bèn tắm gội sạch sẽ rồi nhảy vào lò lửa, kim loại liền chảy ra. Can Tương đã luyện được hai thanh kiếm báu đặt tên là Can Tương và Mạc Gia nhưng ông chỉ giao cho vua Ngô thanh Can Tương, còn thanh Mạc Gia thì giữ lại cho con cháu mình. Sau vua Ngô phát hiện bắt đem nộp lên. Khi nước Ngô mất, hai thanh kiếm đó đã thất lạc không biết về đâu. Sau này con cháu của Can Tương lại theo nghề tổ tiên rèn ra hai thanh Ỷ Thiên trường kiếm và Thanh Hồng kiếm. Đời Tam Quốc hai thanh này rơi vào tay Tào Tháo. Mới đây con đã có dịp nhìn thấy thanh Ỷ Thiên trường kiếm này trong tay tên Lãnh Diện Truy Hồn khi bọn chúng tấn công Trần gia để mưu đoạt thanh Ô Long bảo đao của Đại Việt ta.

Phật Chiếu đã nghe nho hiệp kể lại chuyện này nên nhìn Hồng Liệt hỏi tiếp:

– Con biết gì về lai lịch thanh Ô Long đao?

Hồng Liệt bèn đem lai lịch thanh đao do Trần Nguyên Hào kể hôm trước nói lại. Phật Chiếu hỏi:

– Còn gì nữa không?

– Con chỉ biết có thế thôi.

Phật Chiếu thở dài rồi nói:

– Kỹ thuật luyện kiếm, đúc gươm của dòng Bách Việt đã đạt đến trình độ rất cao như Âu Dã Tử chẳng hạn. Về sau, người Hán thống trị Trung Nguyên và các nước nhỏ lân bang nên đã sở hữu luôn kho tàng trí tuệ đó. Họ lại cố xóa đi hoặc bưng bít, cấm đoán các dân tộc nhỏ nhắc nhở về cội nguồn tinh hoa trí tuệ của tổ tiên mình. Cho nên lâu dần chúng ta cứ ngỡ rằng những tài năng và tài sản quí báu kia là của người Hán. Những thanh kiếm báu con vừa kể chẳng hạn, đó đều là tinh hoa trí tuệ của người Bách Việt chứ không phải của người Hán. Riêng Âu Lạc ta, tài rèn kiếm đúc gươm, chế tạo nỏ của Cao Lỗ không thua kém gì Âu Dã Tử nước Việt. Ngoài cây Ô Long đao, Cao Lỗ còn rèn một thanh kiếm tên là Thanh Long, sắc bén vô cùng. Cặp đao kiếm này thuở xưa được coi là vật trấn quốc của nước Âu Lạc. Thanh kiếm này ông rèn xong dâng lên cho An Dương Vương, sau An Dương Vương bại trận đã dùng nó chém chết con gái rồi mang nó theo mà nhảy xuống biển tự vẫn ở vùng Châu Hoan xứ Nghệ.

Nói đến đó, thiền sư cầm một thanh kiếm lên rút ra khỏi vỏ, một làn ánh sáng xanh mát lạnh tỏa khắp gian phòng. Rồi ngài lại hỏi hai người:

– Hai con ai biết thanh kiếm này?

Cả hai nhìn thanh kiếm vừa ngạc nhiên trước ánh thép xanh ngời và luồng hàn khí toát ra từ nó vừa lắc đầu. Phật Chiếu nói:

– Đây chính là Thanh Long kiếm của tổ tiên ta ngày xưa. Ở gần cán kiếm có hai chữ “Âu Lạc” viết theo lối cổ tự.

Hồng Liệt vốn sành về bảo kiếm nên nói:

– Về thanh sắc và khí thế, thanh kiếm này hơn hẳn thanh Ỷ Thiên của Tào Tháo. Sư bá làm sao tìm được nó vậy?

………

(xem tiếp vào ngày mai)