Kỳ 86:

………..

Trương Đồ quả nhiên là người hào sảng, bụng dạ rộng rãi. Ông ta thấy mưu kế hay thì buột miệng khen thật lòng, không có chút gì là tự ái hay đố kỵ với Văn Hiến. Đại Bằng khen:

– Trương tướng quân quả nhiên là người khoáng đạt. Sẵn bụng dung người không chút tị hiềm. Chẳng trách tuổi còn trẻ mà đã làm đến Phó Vệ úy.

Trương Đồ cười nói:

– Tự lừa dối mình là điều ngu xuẩn nhất thiên hạ. Tôi lúc nào cũng sẵn sàng học hỏi nơi cao nhân. Trương huynh đây xứng đáng làm thầy của tôi. Tôi thật sự kính phục chứ không nói lời đãi bôi đâu.

Văn Hiến nói:

– Cảm ơn Trương tướng quân. Giờ chúng ta hãy mau chuẩn bị mọi sự cho kịp.

Quay sang tên đệ tử, chàng dặn:

– Ngươi trở về lại bên đó, tìm cách gặp cho được Đinh sư thúc và Phong sư thúc, chuyển lời ta như vầy… như vầy… Ta giao cho ngươi ba viên pháo màu, màu đỏ là dấu hiệu bọn Kim Cương Môn giao đấu với Mô Xoài, màu vàng là chúng kéo nhau theo đường bộ lên, màu xanh là chúng dùng thuyền. Cẩn thận đừng để bị chúng bắt được.

Tên đệ tử vâng dạ rồi đi ngay. Trương Đồ cũng lập tức ra lệnh cho thuộc hạ lo làm bè dẫn hỏa và chia nhau thám thính dọc bờ sông. Sau đó ông lại sai lính chặt tre đan thúng, mỗi thúng có thể chở năm tên lính sang sông và trưng dụng những chiếc đò trên bến Bửu Long để chở ngựa. Cắt đặt xong đâu đó bèn đóng quân bên bờ nam chờ đợi.

Nhắc lại bọn Lý Văn Quang, khi đã tập trung đủ lực lượng tại đầu cầu ván để chuẩn bị tiến đánh đạo quân Bình Dương thì có tin thám báo nói rằng quân Mô Xoài đã tiến đến gần dinh Trấn Biên. Đang trong cơn hoảng hốt lại có quân chạy về báo đạo Bình Dương đóng quân bên kia bờ sông từ đầu giờ Tị mà vẫn không chịu sang. Hà Huy nghe quân báo than:

– Bên địch tất có người tài hiến kế. Chúng sợ ít quân sang sông sẽ bị bọn ta dồn sức tiêu diệt nên chúng đóng quân bên kia sông là có ý chờ đạo quân Mô Xoài hùng mạnh hơn tiến đánh trước rồi mới sang sông đánh giáp công.

Văn Quang tỏ vẻ lo lắng hỏi:

– Theo ý quân sư thì ta nên làm sao? Hay chúng ta cứ dùng thuyền đi ngược sông lên mạn trên rồi đổ bộ kéo sang Tây Ninh?

– Họ đã không chịu sang sông tất sẽ có kế hoạch ngăn chặn không cho chúng ta theo thủy lộ vượt lên mạn trên. Nếu dùng thuyền, e rằng không tránh khỏi bị chúng kết bè hỏa, chọn khúc sông hẹp và hiểm yếu thả xuống đốt sạch. Chừng đó chúng ta chỉ còn cách mạnh ai nấy nhảy xuống sông để lo cho mạng sống của mình. Nếu rơi vào tình huống đó thì không phải chúng ta sẽ bị chúng bắt gọn từng người một sao?

Lý Văn Quang nóng nảy:

– Cách này không được, cách kia không xong. Quân sư quyết định đi!

Hà Huy ngẫm nghĩ một lúc rồi đáp:

– Chúng ta đã có thuyền, chi bằng cứ đánh nhau với bọn Mô Xoài một trận, thắng thì từ đó khởi sự, thua thì xuống thuyền theo sông lớn ra biển Đông về lại Trung Quốc.

Tạ Tam hỏi:

– Trường hợp chúng cho thủy quân từ Nhà Bè tiến lên chặn đánh thì sao?

– Thì chúng ta rút lên Giản Phố, phá bỏ cầu ván cố thủ chờ cơ hội. Càng có nhiều thời gian bao nhiêu thì càng có nhiều cơ hội nảy sinh bấy nhiêu.

Dòng máu kiêu hùng của tổ tiên bỗng sôi sục trong huyết quản Lý Văn Quang, hắn ngửa mặt lên trời cười to:

– Được! Chúng ta trở lại giữ dinh Trấn Biên, đánh với bọn Mô Xoài một trận cho thật oai hùng. Sấm Vương ngày xưa đã không phải từ hai bàn tay không mà đánh ngã cả thiên hạ Đại Minh đó hay sao? Ta không cần bọn Cao Miên cũng có thể làm nên đại nghiệp vậy. Ha ha…

Nói rồi hắn phóng mình lên ngựa, tuốt thanh Ỷ Thiên trường kiếm cầm trong tay, thúc ngựa phi nhanh về phía dinh Trấn Biên. Hình ảnh đó thật oai phong lẫm liệt chẳng khác nào Lý Tự Thành năm xưa. Bọn thủ hạ nhìn vẻ kiêu hùng của đại vương mình cũng thấy dòng máu Đại Hán trong người như sôi lên sùng sục. Tạ Tam và cả bọn hô lớn:

– Đi! Chúng ta quyết tử chiến với bọn An Nam một phen. Được ăn cả, ngã về không! Tiến lên!!!

Cả bọn đồng thanh hô vang “Tiến lên!” làm rung động cả một bờ Sa Hà. Chúng hăng hái kéo nhau chạy theo Lý Văn Quang. Khi chúng vừa đi khỏi thì trong một lùm cây rậm cách đó không xa có một viên pháo hoa bay vút lên nền trời cao, nổ một tiếng nhỏ rồi tỏa ra làn khói đỏ. Bên kia bờ sông, thám mã của Trương Đồ nhìn thấy pháo hiệu vội vàng chạy về báo cho trung quân hay. Trương Đồ lập tức lệnh cho quân bỏ thúng xuống sông, mỗi chiếc chở năm sáu tên lính thả trôi theo dòng nước tấp sang bờ bên kia và đổ bộ lên đất liền. Đồng thời lại dùng đò chở ngựa sang sông, sau đó cùng kéo nhau xuống Trấn Biên.

Trong dinh, Hà Huy cắt đặt thuộc hạ vào những vị trí phòng thủ xung yếu mang tính chiến lược. Việc xong hắn và Lý Văn Quang cùng bọn Tạ Tam lên vọng gác quan sát. Trên nóc vọng gác, Hà Huy cho treo một lá cờ lớn mô phỏng hình thức và màu sắc của lá cờ mà ngày xưa Sấm Vương Lý Tự Thành đã dùng trong quân. Lá cờ hình chữ nhật được viền rua màu đỏ, ở giữa cờ có một mặt trời màu vàng, quanh mặt trời có những tia chớp, chính giữa mặt trời có một chữ Lý thật lớn. Gió từ sông Đồng Nai thổi lên làm lá cờ tung bay phấp phới trông rất oai hùng.

Dinh Trấn Biên chỉ là một tòa thành nhỏ với hai cửa chính ở phía đông và tây, không có hào sâu bao bọc. Kể từ khi Lễ Thành Hầu Nguyễn Hữu Cảnh phân định địa giới cho dinh Trấn Biên đến nay, vì việc binh đao yên ổn, chung quanh lại có các đạo binh Long Hồ, Bình Dương, Mô Xoài trấn giữ nên dinh chỉ xây dựng theo lối một cơ sở hành chánh, vì vậy thành trì không vững chắc, không thể dùng trong chiến tranh để chống lại địch quân. Bốn mặt dinh chỉ có những trạm gác nhỏ để canh chừng, quân đội phòng thủ của dinh chủ yếu đóng trại ở hai bên hông nam và bắc thành. Lúc trước, hai trại lính này đặt dưới quyền chỉ huy của Cẩn Thành Hầu Nguyễn Cư Cẩn.

Chợt phía đông bụi đất tung bay mịt mù, đại quân của Tống Phước Đại kéo đến chỉ còn cách dinh chừng nửa dặm. Rất nhanh sau đó thì đã đến gần bên thành. Đi đầu là một viên tướng mình mặc giáp trụ vàng đang ngồi trên lưng con bạch mã, thanh đại đao gác ngang qua mình ngựa trông thật uy phong. Phía trên, một lá soái kỳ có chữ Tống đang bay phần phật trong gió. Bên phải là một viên phó tướng cưỡi con ngựa đen và bên phải nữa, ngồi trên mình con ngựa sắc lông đỏ như máu chính là Đoàn Phong. Hà Huy chỉ tay về phía đạo binh nói với Lý Văn Quang:

– Đạo binh này chí ít cũng phải có ngàn quân. Nhìn chúng tiến quân mà hàng ngũ chỉnh tề, giáo gươm sáng chói, ngàn quân mà bước đi như một cũng đủ biết Tống Phước Đại là một tay kiện tướng. Cuộc chiến này e rất khó cho chúng ta.

Lý Văn Quang nói:

– Từ lâu ta vẫn có ý coi thường bọn An Nam, nhưng qua mấy lần giao chiến mới biết mình đã lầm. Lời của Dung nhi nói quả không sai. Nhưng đánh với những địch thủ mạnh như thế mới thật sự thống khoái.

Bên dưới, đạo quân của Tống Phước Đại đã dừng lại trước cửa đông của dinh. Tống Phước Đại ngồi trên lưng ngựa nhìn lên vọng gác nói lớn:

– Lý Văn Quang, đại quân của ta đã kéo tới đây sao bọn ngươi còn chưa chịu bó tay quy hàng để may ra ta nể mặt Thanh triều mà tha cho con đường sống. Bằng ngược lại thì ngọc đá tan hoang, chớ trách ta hạ thủ vô tình.

Lý Văn Quang ngửa mặt lên trời cười to:

– Đầu hàng? Ha ha… Họ Lý ta chỉ có hoặc làm vua hoặc là chết chứ không bao giờ nói tới hai tiếng “đầu hàng”.

Đoàn Phong ngồi trên lưng con huyết mã nghe Lý Văn Quang nói như thế cũng ngửa mặt cười khan, giọng cười đầy vẻ chế giễu. Lý Văn Quang tức giận chỉ tay xuống nói:

– Họ Đoàn kia, giọng cười của ngươi đầy vẻ giễu cợt như thế là có ý gì?

Đoàn Phong lại cười ha hả nói:

– Ta nghe ngươi nói họ Lý nhà ngươi không biết nói tiếng “đầu hàng” làm cho ta tức cười quá không thể nhịn được.

Lý Văn Quang trợn mắt hỏi:

– Lời ta nói có điểm nào khiến ngươi tức cười?

Đoàn Phong nghiêm nét mặt lại đáp:

– Ngươi quên hay đã cố tình quên sự tích tổ tiên của mình?

– Ngươi biết gì về tổ tiên của ta, nói ra nghe thử?

………..

(xem tiếp vào ngày mai)