Kỳ 88:

………..

Trương Đồ và các tướng y lệnh, rầm rộ kéo đi chia nhau canh giữ bốn mặt Cù Lao. Mọi việc tiến hành đâu vào đó xong chợt thấy dưới sông có hai chiếc khinh thuyền lướt nhanh đến tấp vào bờ. Một người từ mũi thuyền tung người lên cao rồi đáp nhẹ nhàng xuống mặt đất, tiếp liền theo sau là một người mặc quân phục cũng nhún mình nhẹ tênh phi thân lên bờ, thân ảnh của cả hai đều tuyệt đẹp. Đoàn Phong nhận ra ngay Ngô Mãnh đang đi trước, còn người trẻ tuổi mặc quân phục đi sau mau mắn bước tới cúi đầu chào Tống Phước Đại và Đoàn Phong:

– Tiểu tướng Hoàng Kim Phụng xin ra mắt Tống Tướng quân. Xin chào Đoàn Tả Hộ vệ.

Phước Đại hỏi:

– Ngươi là cận tướng của Vương Phó Đề đốc ở Phiên Trấn phải không?

Kim Phụng lễ phép đáp:

– Dạ đúng thế ạ!

– Ngươi người Tuy Viễn, Quy Nhơn à? Hôm trước gặp mặt, Vương Phó Đề đốc có khoe với ta là ông ấy vừa thu nhận được một viên tướng trẻ tài năng. Ông ấy đã không tiếc lời ca ngợi ngươi đấy. Khá lắm!

Kim Phụng cúi đầu nói:

– Đa tạ Tống Tướng quân đã ngợi khen. Dạ, tiểu tướng quê ở cạnh đầm Hải Hạc. Vương Phó Đề đốc lúc nào cũng yêu thương thuộc hạ của mình nên ngài mới nói thế thôi ạ.

– Thủy quân Phiên Trấn lên đến đâu rồi?

– Bẩm tướng quân, đang đóng ở ngã ba Đồng Nai và Sa Hà. Phó đề đốc đã cho giăng xích ngang sông để chặn bọn nghịch đảng bỏ chạy. Phó đề đốc muốn biết ý kiến của tướng quân thế nào?

– Phó đề đốc lần này mang theo bao nhiêu chiến thuyền? Quân số bao nhiêu?

– Bẩm, hai mươi chiến thuyền với năm trăm quân, thêm năm thuyền buôn của cánh Ngô huynh đây nữa là hai mươi lăm.

– Ngươi về nói với Vương Phó Đề đốc giữ chặt đường sông không cho bất cứ thuyền bè nào qua lại. Đổ một số quân lên bờ nam Cù Lao, nghỉ ở đó qua đêm nay rồi mang lên cho ta mượn mười lăm chiến thuyền. Hẹn đầu giờ Thìn ngày mai nhất loạt tấn công vào Giản Phố. Trách nhiệm cánh quân bên đó là bờ nam và góc tây nam. Nhắn lời ta là vạn bất đắc dĩ, phải cố giảm thiểu tối đa sự thiệt hại cho sinh mạng người dân và nhà cửa của họ.

– Tiểu tướng ghi nhớ. Tiểu tướng xin cáo từ.

Văn Hiến đang từ xa đi tới, nghe Tống Phước Đại nói như thế thì vội lên tiếng:

– Có một cách có thể giúp giảm thiểu sự thiệt hại về nhân mạng và tài sản của cư dân Giản Phố.

Tống Phước Đại vội chào hỏi:

– Vị hiệp sĩ này có phải là Trại Ức Trai không?

Đoàn Phong đáp:

– Đúng vậy!

Văn Hiến cúi đầu chào:

– Văn Hiến xin chào Tống Tướng quân.

Phước Đại cười nói:

– Chào Trương hiệp sĩ! Nghe danh Trại Ức Trai đã lâu giờ mới có dịp đàm đạo. Xin cho nghe cao kiến.

Văn Hiến nói:

– Trương Vệ úy đã cho kết bè lửa ở khúc sông trên, Vương Phó Đề đốc lại chăng dây xích ở khúc sông dưới, khi ta tấn công Giản Phố nên mở cho chúng một con đường thoát xuống bến sông. Chúng biết mình yếu thế hơn, lại thấy có sinh lộ tất không liều mạng đánh nhau mà sẽ kéo xuống bến, dùng thuyền xuôi dòng sông Đồng Nai chạy trốn ra biển Đông về Trung Quốc. Chừng đó thuyền của chúng sẽ vướng xích sắt nằm lại một chỗ, chúng ta cứ thả bè lửa từ trên xuống rồi chuẩn bị chu đáo để bắt từng tên một ở dưới sông.

Phước Đại cười ha hả nói:

– Diệu kế! Quả nhiên không kém ngài Ức Trai năm xưa chút nào. Chúng ta sẽ thực hiện theo kế hoạch đó. Kim Phụng, ngươi về báo lại cho phó đề đốc việc này nhé.

Kim Phụng “dạ” một tiếng xong định quay đi, bỗng Ngô Mãnh nói:

– Ở đây đã có Tống Tướng quân và Đoàn Phong cùng Đại Bằng, Trương huynh và Đinh huynh đi với tôi xuống chi viện cho cánh quân dưới đó.

Đoàn Phong nói:

– Ý kiến hay đấy! Hai người đi đi!

Xong, chàng đưa thanh Thắng Tà trả lại cho Hồng Liệt. Hồng Liệt nói:

– Phong huynh cứ giữ nó. Cánh chúng tôi đã có Thanh Long kiếm rồi. Phòng trường hợp phải đối đầu với hai thanh kiếm Ỷ Thiên và Thanh Hồng. Phen này ta phải thu hết những thanh bảo kiếm đó mới được.

Văn Hiến mỉm cười:

– Ngươi lại nổi máu đạo chích, muốn sưu tầm cổ vật nữa rồi phải không?

Hồng Liệt cười hề hề:

– Bọn chúng dám dòm ngó tới bảo đao của Đại Việt ta thì ta cũng phải để ý tới bảo kiếm của chúng chứ. Đó gọi là có qua có lại.

Cả bọn cười rộ lên. Nhóm Ngô Mãnh chào Tống Phước Đại rồi nhảy xuống hai chiếc khinh thuyền chèo đi. Tống Phước Đại hạ lệnh cho quân lính hạ trại tại đầu cầu ăn uống nghỉ ngơi qua đêm. Quân lính vừa ăn uống xong đã thấy Kim Phụng đưa mười lăm chiến thuyền cập vào bờ. Kim Phụng lên trại gặp Phước Đại giao thuyền xong liền nhảy xuống khinh thuyền của mình trở về. Phước Đại buột miệng khen:

– Tên tiểu tướng này làm việc rất hăng say và rất hiệu quả. Con đường tương lai của hắn mai này tất sáng sủa vô cùng.

***

Đó là buổi sáng sớm mồng bốn tết Đinh Mão, năm 1747. Mặt trời vừa ló dạng chiếu những tia nắng mai yếu ớt xuyên qua màn sương mù dày đặc trên sông Sa Hà. Hai phần ba số quân Mô Xoài đã xuống mười lăm chiến thuyền theo lệnh chủ tướng, lẫn trong sương mù chèo đi rồi đổ bộ lên Giản Phố. Số quân còn lại trang bị cung tên đầy đủ trấn giữ bờ bên này không cho bọn nghịch đảng chạy trở lại Trấn Biên. Bên góc tây nam, đội thủy quân của Phó Đề đốc Vương cũng chia làm hai, một nửa tiến vào trung tâm Giản Phố, một nửa ở lại canh giữ mặt sông. Hai cánh quân tạo thành thế gọng kìm tiến sát đến trang viện Kim Cương Môn. Trận giao đấu nảy lửa giữa Kim Cương Môn và Thần Quyền Môn, rồi ngọn lửa thiêu rụi những cơ ngơi to lớn của Thần Quyền Môn và năm thương hiệu lớn khác vào sáng hôm qua đã khiến cư dân Giản Phố nơm nớp lo sợ. Ngay chiều hôm đó, những gia đình nào có thuyền thì đã thu gom toàn bộ đồ quí báu chạy đi lánh nạn. Những gia đình còn lại thì đóng tất cả các cửa nẻo, ở yên trong nhà không ai dám ra ngoài. Cả một cù lao rộng lớn trở nên yên ắng lạ thường trong ngày mồng bốn tết. Hai cánh cửa to lớn ở mặt trước và mặt sau của trang viện Kim Cương Môn đóng im lìm, bên trong bức tường cao cũng không nghe thấy một tiếng động gì. Một tên lính theo lệnh của Tống Phước Đại bắc loa nói lớn vào bên trong:

– Bọn phản nghịch Kim Cương Môn nghe đây, các ngươi đã bị bao vây, mau mở cửa đầu hàng để tránh thiệt hại đến tính mạng và tài sản. Bằng cứng đầu ngoan cố thì quân đội sẽ bắn tên lửa thiêu rụi cả trang viện, chừng đó các ngươi cũng sẽ phải chui ra nộp mạng mà thôi. Chúng ta cho các ngươi thời gian tàn nửa cây nhang để suy nghĩ rồi quyết định.

Bên trong trang viện vẫn lặng như tờ không chút động tịnh. Tên lính bắc loa lặp lại lời thông báo lúc nãy lần nữa. Tống Phước Đại đưa tay ra hiệu cho toán cung thủ sẵn sàng đợi lệnh phát tên. Khoảng chừng tàn nửa cây nhang, Tống Phước Đại phất tay, toán cung thủ châm lửa vào đầu mũi tên rồi tiến lại gần giương cung chuẩn bị bắn vào trong. Bỗng ngay lúc đó, bên trong bức tường cao có tiến hô lớn: “Bắn!” Tức thì vô số đầu người nhô lên khỏi bức tường, hàng loạt mũi tên bay vút ra, nhắm vào đội cung thủ đang đứng gần bờ tường. Bọn cung thủ bị tập kích bất ngờ, trúng tên ngã nhào hàng loạt. Tống Phước Đại kinh hoảng thét lớn:

– Lui!!!

Đội cung thủ vội tháo lui thật nhanh ra khỏi tầm tên. Bọn nghịch đảng bắn xong loạt tên liền thụp đầu xuống biến mất sau bức tường. Bên trong trở lại im lìm như trước. Chỉ một loạt tên đầu tiên đã có gần ba mươi cung thủ của quân triều đình bị bắn hạ, có người bị cắm một lúc hai ba mũi tên chết tại chỗ, số còn lại bị thương rên la không ngớt. Tống Phước Đại điên tiết hét lớn:

– Toán tiền phong đi trước đỡ tên, cung thủ theo sau phóng tên lửa. Một toán đợi bọn chúng nhô lên là xạ tiễn!

Lập tức toán lính tiền phong với mộc che tên liền tiến lên phía trước, bọn cung thủ có tên lửa theo sau. Khi đến gần bờ tường, bọn cung thủ liền bắn hàng loạt tên lửa vào bên trong và lên nóc trang viện. Ngay lúc đó lại có tiếng hô “Bắn!” vang lên. Bọn nghịch đảng lại nhô đầu lên định xạ tiễn nhưng đã nhanh chóng bị hàng loạt mũi tên bắn đến như mưa, chúng la lên kinh hoàng, té nhào trở xuống.

Tống Phước Đại lại hô lớn:

– Bắn tên lửa!

Một toán cung thủ khác đốt lửa ở các mũi tên rồi bắn vào trang viện. Chẳng bao lâu đã thấy có khói đen bốc lên. Bọn nghịch đảng bên trong lại đồng loạt nhô lên định trả đũa nhưng cũng như lần trước, chúng chưa kịp ra tay thì đã bị hàng loạt tên từ bên ngoài bắn vào. Cách thức luân phiên nhau, kẻ lắp tên, người bắn đã được bọn lính tập luyện nhuần nhuyễn, bởi vậy tên lửa bay vào bên trong tới tấp. Ngọn lửa đã bắt đầu cháy lớn thì Tống Phước Đại hô to:

– Phá cửa!

Tức thì bọn lính tiền phong lại làm bia đỡ tên che cho toán quân phá cửa tiến đến, họ định dùng thân cây lớn để phá cánh cửa nhưng Đoàn Phong la lên:

– Không cần! Để đó cho ta!

Chàng lướt người tới trước, vung thanh Thắng Tà chém vào cánh cửa mấy nhát rồi tung chân đạp mạnh một phát, cánh cửa bật ra. Chàng dẫn đầu đoàn quân xông vào bên trong. Hàng loạt tên bắn tới cản đường. Đoàn Phong múa kiếm gạt hết những mũi tên, phía sau Đại Bằng cũng múa tít thanh kiếm lướt tới. Bọn lính tiền phong giơ cao mộc đỡ tên che phía trước rồi hò hét xông vào. Ở bờ tường phía tây đã thấy xuất hiện một đám người rất đông, đó là bọn Hồng Liệt, Văn Hiến, Ngô Mãnh và các binh tướng của đạo thủy quân. Họ lao mình xuống tấn công bọn Kim Cương Môn đang đổ ra sân lớn phía trước chặn đánh toán quân triều đình. Cuộc hỗn chiến thật kinh thiên động địa. Bọn lính tuy võ công không cao nhưng kỹ thuật phối hợp tác chiến rất giỏi, họ lại đánh nhau với tinh thần quyết tử chứ không lùi, bởi vậy bọn võ sĩ Kim Cương Môn bị thương vong vô số. Trong khi đó hai thanh báu kiếm Thanh Long và Thắng Tà như hai con rồng thiêng uốn lượn khắp nơi, hạ thủ không biết bao nhiêu tặc đảng mà kể. Quanh trang viện, trên nóc nhà ngọn lửa đang bốc cháy mỗi lúc một mạnh hơn. Bỗng có tiếng thét lớn:

– Ngừng tay!

……….

(xem tiếp vào ngày mai)