Kỳ 112:

…………..

Trần Lâm thấy nhà sư nét mặt hiền từ, lòng sinh ngay niềm kính phục nên cúi đầu đáp:

– Dạ, con tên Trần Lâm. Con bị bọn cướp bắt nên bỏ trốn rồi lạc đến đây.

Xong, nó bèn đem chuyện chạy trốn, gặp hai con ác thú đánh nhau và ăn trái cây đỏ rồi ngất xỉu thuật lại. Ông sư hỏi:

– Vậy là con đã ăn trái cây đỏ trên cây đó phải không?

– Dạ, nhưng khi vừa ăn xong thì trong người con bỗng nóng dữ dội, con khát nước quá không biết làm thế nào bèn liều uống máu con rắn, sau đó thì bị ngất đi. Tỉnh dậy trong người không những hết nóng mà còn thấy khỏe lắm. Sư ông có biết vì sao lại thế không?

– Cây này có tất cả chín lá phải không?

– Dạ!

Nó liền lấy thân cây đã nhổ được và viên ngọc ra đưa cho sư coi. Ông nhìn nó bằng ánh mắt vừa vui mừng vừa kinh ngạc:

– Đây là cây Cửu diệp độc hỏa thảo. Loại cây này chỉ mọc những nơi rất lạnh, có nhiều khí âm hàn. Trái cây con ăn đó được gọi là Độc hỏa lê chứa rất nhiều dương tính, có thể nói nó là loại quả chí dương trong thiên hạ. Người ăn nó hỏa nhiệt sẽ tăng lên dữ dội, nếu không kịp thời hấp thu một chất chí hàn nào đó vào cơ thể thì hỏa khí xông lên làm cho mất mạng. Con may mắn đã uống máu con rắn lớn, loại rắn này quanh năm sống nơi lạnh lẽo nên máu của nó thuộc loại chí hàn. Hàn khí trong máu con rắn đã dung hợp với hỏa khí trong trái Độc hỏa lê tạo cho con một thân khí lực hết sức dồi dào. Khí lực này rất cần thiết cho người luyện võ. Cơ duyên này quả thật ngàn năm có một. Chúc mừng con!

– Thật thế hả sư ông? Hèn chi con ở trong động đá đó không còn thấy lạnh chút nào. Ra là thế!

– Loại ngọc mà con lấy được trong đầu con rắn ngàn năm gọi là Tỵ độc châu. Nó có thể trị bất kỳ loại độc nào trong thiên hạ. Con giữ lấy để sau này cứu người.

Ông sư trả lại viên ngọc và thân cây cho nó. Trần Lâm cất viên ngọc vào bọc rồi hỏi tiếp:

– Còn cây Cửu diệp độc hỏa thảo này có công dụng gì không sư ông?

– Nó có rất nhiều công dụng. Dùng nó để pha trộn với một số dược thảo khác có thể chế ra một loại linh đơn gọi là Cửu chuyển tục mạng đơn, giúp cải tử hồi sinh.

Trần Lâm liền trao thân cây cho ông sư nói:

– Vậy sư ông cất đi để chế thuốc cứu người.

Ông sư nhận lấy rồi hỏi:

– Cháu bé có muốn theo ta về chùa không?

Trần Lâm nghe nói mừng rỡ thưa:

– Dạ, con muốn chứ!

Ông sư bèn dẫn nó về ngôi chùa nơi ông đang trụ trì cách đó không xa. Ông nói:

– Con đi tắm rửa nghỉ ngơi rồi chúng ta nói chuyện sau.

Sau đó ông chỉ nó ra con suối. Con suối này chảy từ trên núi cao đổ xuống trước cửa động đá sau lưng chùa, rồi chảy quanh ra phía trước cửa chùa. Trần Lâm tắm rửa xong trở lên thì thấy ông sư đang ở trong một động đá, trước cửa động có mấy chữ “Dũng Tuyền thạch cốc” được khắc sâu vào vách đá. Ông sư bảo nó ngồi xuống chiếc ghế bằng đá rồi hỏi:

– Kể cho ta nghe con là ai, vì sao bị bọn cướp bắt?

Trần Lâm kể lại đoạn từ lúc nó lạc lên thuyền của Lê Trung cho đến khi gặp được ông sư. Thấy Trần Lâm mặt mũi phương phi, ngũ quan đoan chính lại thông minh lanh lẹ nên ông rất có thiện cảm. Ông nói:

– Cơ duyên của con ngàn năm chỉ có một. Gặp nhau âu cũng là một chữ duyên. Con có muốn ở lại đây học võ với ta không?

Trần Lâm từ khi gặp ông sư đã nảy sinh lòng kính trọng, nghe hỏi nó mừng quá, vội quì xuống lạy bốn lạy rồi nói:

– Đệ tử Trần Lâm xin ra mắt thầy.

Ông sư mỉm cười tỏ ý mãn nguyện bảo:

– Con đứng dậy đi. Lâu nay ta không nhận đệ tử học võ, con là người có duyên nên ta mới phá lệ. Con phải ráng tập luyện để trở thành người hữu dụng, giúp đời sau này.

Trần Lâm quì lạy một lần nữa nói:

– Đệ tử sẽ cố gắng để khỏi phụ lòng ân sư và nguyện sẽ ra sức cứu người, giúp đời.

– Tốt lắm! Bên phải có một động đá nhỏ, con sang đó nghỉ ngơi. Từ nay, đó là chỗ ở của con. Mai thầy trò chúng ta bắt đầu.

Hôm sau, Trầm Lâm bị đánh thức rất sớm bởi tiếng chuông vang lên từ ngôi chùa. Nó ra trước chùa mới biết ngôi chùa nằm ở lưng chừng sườn núi, dưới chân là làng mạc, ruộng lúa xanh bạt ngàn. Xa xa, có một đầm nước lớn và một dải cát trắng chạy dài bên ngoài đầm nước. Trời còn sớm, sương mù giăng trên sườn núi, mặt trời vừa nhú lên chiếu tia nắng ban mai xuống những hạt sương lấp lánh. Cảnh vật chẳng khác gì cõi non tiên.

Ngôi chùa không lớn lắm, mái ngói tường đá. Nó bước vào bên trong chánh điện, trên bàn thờ có một tượng Phật khá lớn, hai bên bàn thờ có hai câu liễn đối:

Hải ngạn khởi lương nhân, pháp vũ phổ thiên tư Phật thổ;

Linh Phong ngưng thoại khí, tường vân biến địa ấm nhân gian.

Nghĩa là:

Bờ biển gặp duyên may, mưa pháp khắp trời thấm nhuần đất Phật;

Chùa Linh Phong đọng khí tốt, mây lành khắp chốn che chở người đời

Bên vách phải có một tấm hoành phi khắc chữ Triện lớn:

“Linh Phong thiền tự”

Ở góc trái tấm hoành phi khắc chữ “Vĩnh Khánh, tháng giêng năm Quí Sửu”, còn góc phải thì khắc chữ “Quốc chủ ngự đề”.

Ông sư vừa gõ xong mấy tiếng chuông chấm dứt buổi kinh sáng, Trần Lâm bước vội đến quì sau lưng thầy lạy Phật ba lạy rồi đứng lên. Nó hỏi:

– Ở chùa mình không còn ai nữa sao thầy?

– Không. Thầy không thu nhận đệ tử. Chỉ có những dịp lễ lớn chùa mới mở cửa cho đạo hữu về dâng hương lạy Phật. Những dịp như vậy, bổn đạo quanh vùng, nhất là làng Phương Phi ở ngay chân núi tề tựu về đây cùng nhau lo việc lễ lạc.

– Con thấy trên bức hoành phi có mấy chữ “Quốc chủ ngự đề”, là của Chúa nào vậy thưa thầy?

– Của Chúa Phúc Chú. Thuở xưa khi thầy mới đến tu, ở đây chỉ có cốc Dũng Tuyền. Có lẽ nhờ tiếng đồn thầy hay phát thuốc cứu bà con dưới xóm lan rộng nên Chúa mới cho xây ngôi chùa này và ngự tứ cái tên Linh Phong thiền tự, ban cho bức hoành phi, hai câu liễn đối và chiếc hồng chung này.

Trần Lâm tỏ vẻ ngập ngừng nhìn thầy hỏi tiếp:

– Pháp danh của thầy…

– Thầy định hôm nay sẽ nói cho con biết. Thầy thuộc dòng họ Lê, vì chán ngán cảnh thế sự nhiễu nhương, kỷ cương điên đảo nên từ Đàng Ngoài phiêu dạt vào đây nương nhờ cửa Phật. Lúc trước thầy sống một mình trên núi này, chế thuốc để đổi lấy thức ăn nên bà con đặt cho thầy cái tên Ông Núi. Sau đó vào năm Quí Sửu, Chúa Phúc Chú ban hiệu là Tịnh Giác Thiện Trì đại lão thiền sư.

Ông Núi ngưng một chút rồi nói tiếp:

– Từ hôm nay thầy sẽ truyền cho con một môn khí công gọi là Cửu dương khí công. Đây là sự kết hợp giữa Đạo gia tâm pháp và Phật môn khí công. Môn nội công này kẻ bình thường phải luyện mười hai năm mới thành, người có căn cơ tốt như con chí ít cũng phải mất sáu bảy năm. Nhưng con may mắn ăn được trái Độc hỏa lê nên dương khí trong người sung túc, thầy hi vọng trong vòng bốn năm thì con có thể đại thành, nhâm đốc đả thông, sinh tử huyền quan khai mở.

Trần Lâm mừng rỡ cúi đầu tạ ơn thầy. Ông Núi dẫn nó ra trước cửa chùa, vừa thực hành vừa giải thích:

– Để chân trần, đứng quay mặt về hướng đông đón ánh thái dương, tập trung ý chí, gạt bỏ mọi tạp niệm, toàn thân buông xả thật tự nhiên. Tập trung ý về đan điền, ngưng hô hấp giữ khí ở đan điền một thời gian. Sau khi thở ra, dùng ý thu hút dương khí của mặt trời theo huyệt bách hội qua nhâm mạch xuống tụ ở đan điền. Tiếp đến là hút âm khí từ lòng đất theo huyệt dũng tuyền giữa hai bàn chân đưa lên đan điền. Âm dương nhị khí tụ ở đan điền tạo thành vòng thái cực, rồi thong thả dùng ý chu chuyển vòng thái cực để dung hợp âm dương, sau đó thở ra và trở lại từ đầu. Thực hiện chu trình này mỗi ngày một canh giờ, thời điểm tốt nhất là từ đầu giờ Mẹo đến giờ đầu Thìn. Sau một năm, âm dương nhị khí sẽ sung mãn tại đan điền, rồi mới đưa thái cực khí qua hệ nhâm đốc thực hiện vòng tiểu chu thiên để đả thông toàn bộ huyệt đạo thuộc hai hệ đại mạch này. Khi nhị đại mạch đã đả thông thì thực hiện tiếp vòng đại chu thiên, đưa khí đi khắp các đại tiểu huyệt trên cơ thể. Lúc ấy sinh tử huyền quan sẽ được khai thông. Con theo dõi kịp không?

…………

(xem tiếp vào ngày mai)