Kỳ 114:

……….

Trần Lâm bắt đầu luyện giai đoạn hai của Cửu dương khí công và bộ pháp Cửu cung di ảnh trên đỉnh núi Linh Phong. Một hôm nó đem bài kiếm gia truyền ra tập cho Ông Núi xem, ông lấy làm lạ hỏi:

– Đây là bài kiếm một thời được mệnh danh là thiên hạ đệ nhất của danh tướng Hoa Lư là Trịnh Tú thời kỳ loạn mười hai sứ quân, sau đó truyền cho họ Đoàn, con học ở đâu được bài kiếm này?

Trần Lâm biết không nên giấu thầy nữa nên nó quì xuống nói:

– Xin thầy thứ lỗi vì con đã giấu thầy về thân thế của mình, chẳng qua con có nỗi khổ tâm riêng.

Ông vỗ vai nó nói:

– Con không cần nói những việc quá khứ cũng như thân thế của con. Hãy giữ nó trong lòng để thúc đẩy thêm quyết tâm cho mình. Chỉ cần nhớ rằng quá khứ là chuyện đã qua, đừng để nó làm tâm trí mình phiền muộn, hiện tại và tương lai mới là việc con cần lưu tâm và vươn tới. Quá khứ đau buồn là một bóng đen, hiện tại và tương lai là những tia sáng, hãy dùng tia sáng này để xóa đi bóng đen kia. Con hiểu không?

– Đội ơn thầy dạy bảo. Con sẽ dùng hiện tại tạo ra ánh sáng cho tương lai và dùng ánh sáng đó để xua tan bóng đen của quá khứ như lời thầy dạy.

Ông Núi gật đầu:

– Con sáng trí lắm.

Một hôm, có một nhà sư tu ở một ngôi chùa nhỏ tại núi Phước Sơn ghé thăm Ông Núi, thấy Trần Lâm căn cốt hơn người nên đã truyền cho bài roi Nhất điểm tuyệt mệnh côn. Bài roi vô cùng đơn giản nhưng khi giao đấu thì thật ảo diệu vô song. Nguyên tắc chính của bài roi là “mượn sức địch đánh địch” tức “tá lực đả lực” của nhu công, chuyên dùng để đánh bạt vũ khí của đối phương. Tuyệt chiêu cuối cùng trong bài roi có tên Nhất điểm tuyệt mệnh, khi xuất thủ, đối phương dù tài giỏi đến đâu cũng không tránh khỏi bị đầu roi điểm vào huyệt uyên dịch ở nách. Đó là lối “đâm so đũa” thần kỳ. Bí quyết là chờ khi địch thủ tấn công, cây roi của mình liền luồn theo đường roi của địch ở thế song song mà đâm vào nách địch. Tuy ra chiêu sau nhưng đầu roi của mình đến trước là nhờ ba điều: tâm phải định, mắt phải nhanh, xuất thủ phải thật thần tốc. Trần Lâm sau khi thuần thục bài roi đã đem nó kết hợp với đường kiếm gia truyền của mình để sáng chế ra một chiêu kiếm mà chàng đặt tên là Nhất điểm hồng. Một kiếm xuyên yết hầu địch thủ.

***

Trong những năm ở trên núi, Trần Lâm đã thay mặt thầy mang thuốc xuống đổi lương thực dưới xóm và làm quen được với Phan Sinh, một nho sinh công tử con nhà bá hộ ở làng Phương Phi, người nức tiếng là diệu thủ vì có tài viết chữ chẳng kém Lan Đinh Thiếp của Vương Hy Chi ngày xưa, lại có tài thổi sáo chẳng khác chàng Trương Chi thuở trước. Mỗi dịp lễ lớn như đầu năm và rằm tháng Giêng, Phan Sinh thường đem giấy bút lên Linh Phong tự để viết câu đối cho bà con rồi lấy tiền đó cúng vào thùng công đức của chùa. Một hôm, Trần Lâm được thầy sai xuống núi để sắm ít vật dụng, chàng bèn rủ Phan Sinh cùng đi vào cảng Nước Mặn.

Cảng Nước Mặn cách làng Phương Phi chừng sáu bảy dặm, xéo về phía đông nam. Hai con ngựa chở trên lưng hai chàng thiếu niên tuấn tú thong dong bước đi. Trần Lâm mặt đẹp như ngọc, mặc toàn y phục trắng vì từ lâu chàng đã mặc thế là có ý để tang cho em gái mình. Phan Sinh phong thái nho nhã, vận y phục xanh dương. Hai chàng mỗi người mỗi vẻ nhưng quả là những trang mỹ nam tử trong đời.

Thời bấy giờ cảng Nước Mặn rất sầm uất, là cửa ngõ đường thủy chính của phủ Quy Nhơn. Xã Minh Hương với nhiều cửa hàng kinh doanh được những người Minh Hương bỏ nhà Thanh sang đây xây dựng dọc theo con sông Cầu Ngói. Họ cùng với người Việt bản địa kiến tạo Nước Mặn trở thành một thương cảng sầm uất. Cảng rất sâu nên dễ dàng cho tàu lớn của nước ngoài ra vào buôn bán. Những nhà truyền giáo của Bồ Đào Nha, Tây Ban Nha và Pháp Lãng Sa đã theo thuyền buôn đến cảng này, nhờ thế mà Nước Mặn là một trong những vùng khởi điểm việc phát triển chữ Quốc ngữ sau này.

Hai chàng thiếu niên vào đến thương cảng thì Trần Lâm nói:

– Tôi nhớ lúc trước theo thuyền chú Lê Trung đi khắp nơi, nghe được biết bao nhiêu chuyện giang hồ thật là thú vị. Bấy lâu nay ở riết trên núi buồn chết đi được, không biết thiên hạ giờ ra sao.

Phan Sinh đề nghị:

– Chúng ta hãy đến Chiêu Anh quán đi. Nơi đấy là chốn tụ tập của anh hùng tứ xứ, chuyện trên trời dưới đất gì ở đó cũng biết cả.

Sinh hoạt của Chiêu Anh quán thật đúng với cái tên của nó, quán lúc nào cũng đông khách, đủ các hạng người: giang hồ hiệp sĩ, khách thương buôn… Hai chàng bước vào quán thì một cô gái tuổi chừng mười sáu từ phía sau quầy bước ra chào:

– Chào anh Phan Sinh, lâu quá mới thấy anh đến quán này. Anh đi cùng người bạn mới hả?

Phan Sinh vui vẻ:

– Chào cô Lan Anh, cô khỏe chứ? Vâng, đây là Trần Lâm, bạn của tôi. Còn đây là cô Lan Anh, em gái của chủ quán.

Lan Anh nở nụ cười thật tươi trên khuôn mặt xinh xắn nói:

– Lan Anh bây giờ là chủ quán rồi. Chị Ngọc Chiêu đã đi lấy chồng.

– À, ra thế! Vậy tôi xin chúc mừng cô Lan Anh nhé.

– Cảm ơn anh. Để tạ ơn, Lan Anh sẽ mời hai anh một bữa rượu. Coi như là tiệc mừng Lan Anh trở thành chủ quán vậy mà. Mời hai anh đến bàn này.

– Cô chủ quán làm như thế chẳng khác nào trói chúng tôi vào mấy chiếc ghế này rồi. Nhưng không sao, rượu ngon, cô chủ diễm kiều, lại là rượu mời, nếu còn không uống gấp chẳng lẽ đợi uống rượu phạt hay sao?

Lan Anh nguýt dài và mỉm cười:

– Gớm chửa? Đúng là người bụng chứa đầy bồ văn chương.

Rồi cô quay vào trong dặn người mang rượu ra. Phan Sinh nói với Trần Lâm:

– Chị em của cô chủ quán này đẹp người lại đẹp nết. Tôi biết họ từ khi tôi và Lan Anh còn bé, lúc họ còn ở làng Phương Phi.

Trần Lâm hỏi:

– Cái tên Chiêu Anh quán là lấy tên của hai chị em họ phải không?

– Ừ.

Họ ngồi vào chiếc bàn mà Lan Anh vừa chỉ. Ngay sau đó, rượu thịt đã được mang ra. Trong quán mọi người đang xôn xao bàn tán về nhân vật chàng Lía, biệt danh là Hắc Hổ vì chàng thường khoác một bộ da cọp màu đen. Chàng vừa xuất hiện ở vùng núi phía Tây như một hiệp sĩ chuyên cứu khốn phò nguy, cướp của nhà giàu phân phát cho người nghèo. Một người đàn ông ra dáng dân buôn đang thao thao về chàng.

Ông ta kể rằng chàng Lía võ nghệ tuyệt luân, với đường roi và thanh đao đánh khắp thiên hạ vô địch thủ, tài khinh công cũng thuộc loại giang hồ đệ nhất, bay nhảy như chim. Chỉ trong vòng nửa năm kể từ khi xuất hiện, chàng Lía đã đánh gục hai tên đầu lĩnh của một bọn cướp hung dữ ở thành Bá Bích và được bọn chúng tôn lên làm đầu lĩnh. Sau đó, chàng Lía đã biến bọn thảo khấu hung tàn thành một đảng cướp hiệp nghĩa. Suốt một miệt Tây Sơn vùng thượng và hạ, xuống đến tận Tuy Viễn, tất cả những nhà hào phú, tham quan đều bị người của chàng ghé thăm. Nghe nói nhà nào tự động đem của ra nộp thì bọn chàng Lía để yên, nếu chống cự sẽ bị thẳng tay trừng trị. Nhiều nhà giàu mướn thêm võ sư về giữ của nhưng chàng Lía với cú đấm và cây đao của mình vẫn tung hoành, chưa có một ai có thể áp đảo được. Tài vật cướp được chàng đem phân phát cho người nghèo. Bọn quan binh phủ Quy Nhơn mấy lần đánh dẹp nhưng chẳng làm gì được vì địa thế núi rừng quanh Bá Bích thành rất hiểm trở.

Người đàn ông nọ kể chuyện hấp dẫn đến độ đám thính giả bu quanh nghe một cách hăng say. Rồi họ bàn ra tán vào, tô điểm thêm cho nhân vật chàng Lía như một thiên thần hạ thế để cứu giúp những kẻ khốn cùng đang ngày một nhiều vì sự mục nát của triều đình do bè đảng của quan Ngoại tả Trương Phúc Loan tạo ra.

Trần Lâm ngồi uống rượu với Phan Sinh nghe thiên hạ ca tụng chàng Lía cũng thấy ái mộ nhân vật này lắm, chàng nói:

– Làm trai như chú Lía mới đáng nên trai. Tôi thật hâm mộ nhân vật này.

Phan Sinh nói:

– Thì anh cứ xin thầy xuống núi hành hiệp trượng nghĩa là được như ý nguyện chứ gì. Tài trí như anh đâu thua kém gì chú Lía?

– Chí nguyện là như thế, chỉ sợ không được như lời anh nói mà thôi.

Phan Sinh khích lệ:

– Anh đừng khiêm tốn quá. Tôi rất tin ở tài nghệ của anh.

– Cảm ơn anh. Thầy nói tôi còn phải luyện tập thêm một thời gian nữa mới có thể xuất sơn được.

Hai người đang nói chuyện thì Lan Anh đến, Phan Sinh vui vẻ nói:

– Mời cô Lan Anh ngồi. Cảm ơn cô lần nữa nhé. Làm chủ một mình chắc là bận rộn và cực nhọc lắm phải không?

Lan Anh cười tươi:

– Còn phải hỏi, nhưng cũng phải ráng thôi. Đói đầu gối cũng phải bò mà.

– Cô chủ quán xinh đẹp thế này nên quán đông là phải. Đã có chàng nào đến đây đóng đô chưa?

Họ quen nhau từ bé nên đùa giỡn rất tự nhiên. Lan Anh nguýt dài:

– Có ma nào thèm ngó tới con Lan Anh xấu xí này mà anh hỏi. Anh đã chuẩn bị để tham dự kỳ thi sắp tới chưa?

– Học được mới có vài ba chữ mà thi với cử nỗi gì. Vả lại thời buổi nhiễu nhương thế này, cha tôi nói thà ở nhà làm ruộng cho thanh nhàn còn hơn. Làm quan chỉ tổ để dân chúng họ chửi rủa, cha tôi không thích.

Lan Anh cười, tiếng cười trong như pha lê:

– Tướng anh làm ruộng sao được mà đòi ở nhà? Thời buổi này mới cần những vị quan thanh liêm cho dân đỡ khổ chứ anh. Người tốt cứ trốn hết, chỉ còn lại bọn tham quan thì dân chúng chịu đời sao thấu?

– Bây giờ ra làm quan mà không ô lại thì ba bảy hai mươi mốt ngày cũng bị đuổi về vườn ngay. Biết vậy nên tôi về vườn trước, đỡ phải tốn công tốn của đi thi.

Lan Anh bĩu môi:

– Đúng là từ hồi nào giờ tôi không cãi thắng được anh mà. Còn anh Lâm, anh chắc không định ở vườn làm rẫy chứ?

Trần Lâm thấy cuộc trò chuyện tự nhiên nên cũng vui vẻ đáp:

– Tôi không có vườn để ở nên đành phải ở chùa quét lá đa.

Lan Anh tròn xoe mắt. Đôi mắt nàng còn đen hơn cả mái tóc óng mượt đang xõa trên vai.

– Anh ở chùa à? Chùa Linh Phong hả? Lâu quá rồi, từ ngày dọn ra đây Lan Anh chưa có dịp về chùa. Sư ông khỏe không anh Lâm?

– Cảm ơn cô Lan Anh, thầy vẫn khỏe. Lan Anh làm chủ quán rượu có gặp rắc rối với những tay giang hồ quá chén không?

Lan Anh buồn bã đáp:

– Có chứ. Nhất là bọn cướp Ngưu Ma Vương ngoài biển. Lan Anh phải nộp phí bảo kê hàng năm cho chúng thì mới được yên đấy.

Trần Lâm chợt nhớ lại chuyện Lưu Phương tự sát trước mặt mình ngày trước, cơn giận chợt bùng lên, mắt chàng long lanh giận dữ:

– Bọn Ngưu Ma Vương vẫn còn hoành hành ở đây à? Lâu rồi mà phủ Chúa không dẹp nổi chúng sao?

– Cũng có đem quân đánh dẹp nhưng chúng bỏ trốn rồi quay trở lại, tình trạng lại y như cũ. Riết rồi chính quyền cũng bỏ mặc luôn.

– Sào huyệt của chúng vẫn ở đảo Hòn Trâu và vùng núi gần hồ Đạm Thủy à?

– Nghe nói chúng còn đóng trại ở Hòn Trâu nhưng trại ở núi Bà đã bị quan binh phá sạch. Chúng dời ra một hòn đảo ngoài khơi Quy Nhơn, hòn Cù Lao Xanh gì đó.

Trần Lâm im lặng không hỏi nữa. Trong bụng chàng vừa nảy ra một chủ ý. Ngày xuống núi, việc đầu tiên cần làm của chàng là phải phá nát hai sào huyệt bọn cướp này giống như chú Lía đã làm vậy.

*****

Xem tiếp vào ngày mai:

 

Hồi thứ hai mươi mốt

Ơn chú Lía như mưa rào nắng hạn

Chu Muội Nương đơn kiếm loạn Truông Mây

*

Cuối hồi mời thưởng thức âm nhạc thư giãn:

Nhạc phẩm Toccata – Paul Mauriat