Kỳ 121:

……..

Ở Bá Bích được một thời gian, một hôm Lía nói với Lưu Đằng:

– Ta có chút việc riêng gia đình nên phải trở về Phù Ly một chuyến, ngươi ở lại đây thay ta lo mọi việc. Nhất thiết đừng để bọn em út làm điều sai quấy.

Lưu Đằng hỏi:

– Thủ lĩnh có cần đến bọn tôi giúp sức không?

– Không cần. Ta đi một thời gian ngắn rồi sẽ trở về. Các ngươi an tâm.

Hôm sau, Lía một đao một ngựa rời Bá Bích thành qua Côn giang trở lại hòn Sưng thăm mộ mẹ và sư phụ rồi từ đó vòng theo hòn Sõng ở phía bắc, vượt đèo Bồ Bồ ra Vĩnh Thạnh để xuống Phù Ly. Nhớ lại lời chỉ dẫn của mẹ năm xưa, chàng phóng ngựa theo núi Bích Khê trở về trang trại. Dọc đường, những tờ cáo thị có vẽ hình treo giải thưởng năm trăm lạng vàng cho bất kỳ ai bắt được chàng được dán khắp nơi. Không muốn sinh sự rắc rối, chàng vội giấu hai đuôi tóc vào trong áo, dùng chiếc khăn choàng qua cổ, tìm một chiếc nón rộng vành che phần trên khuôn mặt để giấu hành tung của mình.

Dù tất cả chỉ còn lại những hình ảnh lờ mờ trong ký ức nhưng lúc về gần đến trang trại cũ, lòng chàng vẫn không xiết bồi hồi, rộn rã. Hơn mười lăm năm, ngôi mộ tập thể của gia đình chàng tuy cỏ dại phủ um tùm chung quanh nhưng mộ chí vẫn còn nguyên vẹn. Tấm bia đá lớn với những dòng chữ “Võ gia trang tập thể chi mộ”, bên dưới khắc sâu dòng “Đoàn Phong và bằng hữu kính lập” vẫn còn sạch sẽ như có người thường xuyên chăm sóc. Lía rất lấy làm lạ, một tia hi vọng chợt lóe lên trong đầu, chàng nghĩ có lẽ một trong những người sư huynh của mình năm xưa hãy còn sống sót, hoặc giả sư tổ đã trở về.

Chàng gục đầu phủ phục trước mộ, để mặc hai hàng nước mắt tuôn rơi cho vơi bớt niềm đau thương và uất hận tắt nghẹn trong lòng. Chừng đã nguôi ngoai, chàng lạy bốn lạy cho cha và tám lạy cho những sư huynh rồi phóng ngựa lên núi tìm ngôi am cũ của sư tổ với hi vọng gặp được người. Nhưng tất cả đã trở nên hoang tàn, cũ kỹ, không còn lại chút gì. Vậy là tia hi vọng coi như đã tắt. Đêm đó, chàng ngủ lại trước mộ, sáng hôm sau vượt đèo Lại Khánh ra Phú Xuân tìm chú Đoàn Phong.

Khi qua đò Lại Dương chàng nghe nhiều khách đi đò bàn tán về chuyện bọn cướp ở Truông Mây của hai tên cha Hồ, chú Nhẫn nào đó. Chúng đang hoành hành cướp bóc rất dữ dội ở huyện Bồng Sơn, quan quân không thể nào đánh dẹp được vì địa thế Truông Mây hiểm trở vô cùng. Họ than trời vì chuyện quan quân hách dịch, bóc lột, nay lại thêm bọn cướp quấy phá, thật không biết khổ cực đến cơ man nào mà nói. Lía nghe chuyện nghĩ thầm: “Tìm được chú Phong hỏi cho ra tên hung thủ rồi ta sẽ trở lại dẹp bọn Truông Mây này để giúp người dân ở đây. Thời buổi gì mà ăn cướp nổi lên khắp nơi vậy không biết!”

Rời Bồng Sơn, qua đèo Thạch Tân xuống địa phận Quảng Ngãi thì những tờ cáo thị truy nã chàng không còn thấy nữa. Suốt con đường thiên lý, đâu đâu cũng thấy ăn mày lang thang, cảnh thôn làng xơ xác và những lời kêu than không ngớt của bà con dân nghèo, lòng Lía dâng lên một niềm thương cảm không sao diễn tả được. Thế nhưng khi vào đến kinh đô Phú Xuân thì mọi thứ đổi khác hoàn toàn. Trước mắt Lía là cảnh tượng nguy nga, tráng lệ của cung đình phủ Chúa, đường sá dọc ngang dập dìu xe ngựa. Cảnh tượng trái ngược đó tạo cho chàng một cảm giác tức giận đến nghẹn họng. Chàng thầm chửi cái triều đình thối nát của Chúa Nguyễn, nguyền rủa bọn quyền cao chức trọng, ăn trên ngồi trốc, dẫm đạp lên sự đau khổ của đồng bào trăm họ làm vui. Nhớ lại lời Nguyễn Nhạc, chàng nghĩ cái thời nhiễu nhương của Lý Cao Tông chắc cũng chỉ đến thế này là cùng. Đã vậy thì sự sụp đổ của nhà Nguyễn nay mai cũng xảy ra y như lời sấm đã báo mà thôi.

Lía lần dò hỏi thăm và tìm được đến tư dinh của cựu quan Hình bộ Tôn Thất Dục, không may ông ta đi vắng, chỉ còn người lão bộc Ân Phúc. Phúc cho biết Dục công vừa cùng cô cháu gái đi ngao du sơn thủy rồi, không biết bao giờ mới về. Chàng hỏi thăm về Đoàn Phong thì hay Đoàn Phong đã bặt vô âm tín từ ngày Dục công bị bắt giam. Chàng thất vọng vô cùng, đành cảm ơn Ân Phúc rồi phóng ngựa ngược đèo Hải Vân, xuống cửa Đại Chiêm để tìm Cai đội Long. Chàng đến doanh trại thủy quân hỏi thăm thì người lính gác cho hay Cai đội Long đã bị cách chức, ông buồn bực nên đem gia đình vào Nam sinh sống rồi. Lại một lần nữa thất bại, chàng chán nản quay về Bồng Sơn, dự định tìm đến sào huyệt của bọn cướp Truông Mây đánh dẹp rồi trở ra lại Phú Xuân tìm Tôn Thất Dục lần nữa.

Chàng xuống đò Lại Dương lúc trời đã sập tối. Bến chỉ còn một con đò nhỏ và khách qua đò cũng chỉ có mình chàng và con bạch mã. Chàng lân la hỏi chuyện ông lái đò:

– Bác làm nghề này bao lâu rồi, thưa bác?

Ông lái đò tuổi ngoài bốn mươi, đáp:

– Chúng tôi làm nghề này cha truyền con nối. Tôi qua lại với con đò này đã hơn ba mươi năm rồi.

– Cũng lâu đó nhỉ? Nghe nói dạo này ở Truông Mây có bọn cướp đang hoành hành tác quái dữ lắm phải không bác?

– Đúng vậy. Bọn cha Hồ, chú Nhẫn tụ tập ở đó đã hơn năm nay, chúng đổ xuống vùng này cướp phá luôn. Quan binh ở Lại Khánh đánh dẹp không được nên đành bó tay để chúng làm càn. Mà có chết là chết bọn dân đen, người buôn bán chứ bọn quan lính có thiệt hại gì đâu mà chúng lo? Thời này cứ no cơm ấm cật là bọn quan lính vui rồi, mấy ai biết lo cho dân đen chúng tôi?

– Lý do gì mà không dẹp được chúng vậy bác?

– Một là bọn quan lính chết nhát, hai là Truông Mây um tùm gai góc, bọn cướp chạy trốn không biết đâu mà lùng.

– Ra là thế! Đường đến Truông Mây lối nào dễ đi nhất, bác có biết không?

Ông lái đò nghe hỏi vội nhìn Lía với ánh mắt đầy kinh ngạc:

– Hiệp sĩ định đến đó làm gì? Đừng nói với tôi là tới phá sào huyệt bọn cướp nghen? Nguy hiểm lắm! Hai tên cha Hồ, chú Nhẫn cùng bọn đàn em đứa nào võ nghệ cũng cao cường, một mình hiệp sĩ không làm gì được đâu. Chưa kể nơi đó nguy hiểm trùng trùng, rừng mây chằng chịt. Không nên mạo hiểm, tôi khuyên tráng sĩ thật lòng đó.

– Ồ không, bác an tâm. Cháu chỉ hỏi cho biết vậy mà. Bác có biết lối nào đến đó dễ nhất không?

– Nếu có đò qua sông thì dễ lắm. Hiệp sĩ chỉ cần đi dọc theo bờ trái Lại Dương Giang lên phía tây chừng ba bốn dặm, qua khỏi ngã ba sông theo nhánh Kim Sơn bên trái, đi lên tí nữa, nhìn sang sông thấy rừng mây bạt ngàn là Truông Mây đó. Nhưng nghe nói vùng này bọn cướp đặt trạm gác nhiều lắm. Động tí là chúng phát hiện ngay, do đó quan binh vừa đến nơi là chúng biết liền.

– Còn đi bằng ngựa?

– Đi bằng ngựa thì phải vòng theo con lộ gần ngã ba sông, đến một ngã ba rồi rẽ trái sẽ đến hồ Thạch Khê. Hiệp sĩ cứ đi thẳng vòng qua núi Lỗ Đố, rẽ phải qua thượng nguồn nhánh Kim Sơn, ở đấy sông cạn lắm có thể đi ngựa được, là có thể vào Truông Mây.

– Bác thật là tài, địa hình ở đây bác nắm rõ như trong lòng bàn tay. Thật cảm ơn bác.

– Có gì đâu, lúc nhỏ tôi đã từng lăn lộn ở vùng Kim Sơn để tìm vàng nên mới biết đó thôi.

– Nghe bác nhắc đến vàng ở Kim Sơn, cháu chợt nhớ thiên hạ từng kể rằng mười mấy năm về trước có một vụ huyết án kinh thiên xảy ra ở núi Bích Khê, cả một trang trại ngựa bị giết sạch, lúc đó bác có nghe nói đến không?

Ông lái đò nhìn chàng như để dò xét rồi đáp:

– Nghe chứ, lúc ấy ai mà không biết chuyện đó. Nhưng không phải chỉ riêng ở Bích Khê thôi đâu, ngoài Mộ Hoa bên cạnh Liên Trì, cả một nhà Trần gia cũng bị thảm sát cùng trong một đêm mưa gió với trại ngựa Bích Khê mới là kinh thiên chứ. Hai nơi tổng cộng gần bốn mươi nhân mạng đó.

Lía nghe nói ngạc nhiên hỏi:

– Cả hai nhà cùng bị giết trong một đêm à? Rồi chính quyền có điều tra ra ai là hung phạm không bác? Mà vì sao chúng giết cả hai nhà đó?

Ông lái đò vừa bơi nhẹ tay chèo vừa đáp:

– Có! Phải mất hai năm Hình bộ và một nhóm hiệp sĩ mới tìm ra là bọn giặc người Hoa ở Cù Lao Phố làm. Chúng giết Trần gia ở Liên Trì để mưu đoạt cây bảo đao Ô Long, còn Võ gia ở Bích Khê nghe đâu chúng cũng có liên quan ít nhiều. Nhưng cái chính là vì Võ Trụ thời đó làm tổng quản mỏ vàng Kim Sơn quá thanh liêm nên có người ganh ghét, bày mưu cấu kết với bọn Tàu giết ông ta đi để dễ bề tham ô.

Lía nghe nhắc đến cái chết cha mình thì máu nóng sôi lên nhưng chàng cố dằn xuống hỏi tiếp:

– Rốt cuộc bọn hung thủ đó có bị bắt không bác?

Ông lái đò đáp giọng có vẻ hả hê lắm:

– Bị chứ! Tên đầu sỏ Lý Văn Quang và gần năm trăm tên tặc đảng khác nổi loạn định chiếm Cù Lao Phố nhưng đã bị sáu chàng hiệp sĩ và quan binh Trấn Biên tiêu diệt sạch. Tên đầu sỏ cùng sáu mươi tên đàn em bị bắt đem về nhốt ở nhà lao Quảng Nam này nè. Nhưng nghe đâu mấy năm trước phủ Chúa đã trao trả bọn chúng về cho Thanh triều xử tội rồi. Thế mới tức chứ.

– Sáu chàng hiệp sĩ đó là những ai vậy?

……………

(xem tiếp vào ngày mai)