Kỳ 126:

Hồi thứ hai mươi hai

Châu Doãn Thành tự vận trả nợ xưa

Lam Tiểu Muội cắt đầu tên dượng ghẻ

*

Lía phóng ngựa trở lại núi Bích Khê. Chàng định bụng sẽ ngủ lại nơi ngôi mộ qua đêm nhưng sực nhớ bên cạnh am nhỏ của sư tổ có dòng suối nên chàng bèn phóng ngựa lên núi, xuống suối để tắm rửa. Vầng trăng vằng vặc soi sáng cả núi rừng tịch mịch, nước suối mát lạnh làm tiêu tan hết sự mệt mỏi trong ngày. Chợt chàng nhìn thấy trên vách núi, bên dưới một hòn đá lớn có một vệt sáng vuông như tấm gương. Lấy làm lạ, chàng tung người đến đó xem thử. Thì ra là một viên đá cẩm thạch bóng nhẵn được gắn chặt vào vách núi. Nhưng có điều lạ là lúc đến nơi, nếu chàng đứng trước viên đá thì nó không còn phát sáng nữa nhưng khi chàng nhích người sang một bên thì nó lại phát sáng. Chàng vội đưa mắt nhìn sang bên kia con suối, có một ô sáng vuông nữa được gắn trên một phiến đá. Ô sáng đó phản chiếu ánh sáng của mặt trăng lên viên đá cẩm thạch này. Chàng mỉm cười một mình và thầm phục cho sự sắp xếp tỉ mỉ công phu của ai đó. Hẳn phải có điều bí ẩn gì quan trọng lắm thì người ta mới bỏ công gắn đến hai viên đá cẩm thạch để đón ánh trăng thế này. Chàng cúi xuống quan sát, thấy trên mặt đá có viết mấy chữ “Dành cho kẻ hữu duyên” bằng nét bút tuyệt đẹp. Chàng đưa tay gỡ phiến đá ra, phía trong là một khoảng trống nhỏ, đặt ngay ngắn ở giữa là một chiếc hộp gỗ mun đen. Lía thầm nghĩ: “Đây là nơi tu trì của sư tổ, chắc vật này là của người để lại, ta thử mở ra xem”. Chàng bèn vái tạ sư tổ, cầm chiếc hộp đem về am đánh lửa lên để xem.

Trong hộp, ngoài một tập sách nhỏ còn có một mảnh giấy với những dòng chữ:

Đây là pháp môn Sư tử hống, một công phu khí công thượng thừa của Phật môn mà ta tình cờ thụ đắc được, dự định sẽ truyền lại cho đệ tử Võ Trụ nhưng hắn không may bị thương ở bụng nên không thể luyện tập được. Ta cất pháp môn này ở đây để lưu lại cho người hữu duyên. Ngoài chữ duyên, pháp môn Sư tử hống đòi hỏi người luyện tập phải có một căn cốt hoàn chỉnh, nội lực đầy đủ thì mới có thể luyện thành. Người thể chất và khí lực không đủ, cố gắng tập luyện sẽ gây nguy hiểm đến nội phủ. Không tròn duyên không nên tham lam, cưỡng cầu. Sư tử hống một khi luyện thành, âm thanh phát ra có thể khiến cho kẻ đối diện kinh mạch vỡ tung, thất khiếu chảy máu, không chết tất bị điên loạn. Vì vậy Sư tử hống chỉ dùng để tiêu diệt tà ma, khâu trừ ác đảng; người sử dụng pháp môn này tuyệt đối không được lạm sát kẻ vô tội, nếu không sẽ bị quả báo trời tru đất diệt. Vài lời cho kẻ hữu duyên. Hãy đem Phật môn thần công cứu đời, giúp người bằng tấm lòng từ bi của Phật tổ.

Vô danh

Lía đọc xong lá thư không khỏi bồi hồi xúc động. Vật này đúng là của sư tổ để lại, chàng sụp xuống, vái lạy chiếc hộp bốn lạy, miệng khấn: “Đồ tôn là Lía, nguyện thay cha luyện tập Phật môn công phu này để cứu người, giúp đời, thực hành ước nguyện từ bi của sư tổ”.

Khấn nguyện xong, chàng lại lạy thêm bốn lạy nữa để bày tỏ sự quyết tâm của mình. Sau đó chàng đọc qua tập sách nhỏ rồi theo cách hướng dẫn trong đó thử thực hành theo. Chàng thấy chân khí trong người lưu chuyển rất thông suốt, không có gì trở ngại nên bèn ở lại trong am rồi mải mê tập luyện đến quên cả ngày đêm. Thời gian trôi đi, từ lúc trăng tròn cho đến khi trăng khuyết thì đại công thành tựu. Khi vận khí, chàng cảm nhận được nội lực nơi đan điền cực kỳ sung mãn. Chàng thử cất tiếng rống giữa đêm khuya, âm thanh phát ra vang dội cả núi rừng Bích Khê tĩnh mịch, lá đổ rào rào. Chàng rất đỗi vui mừng, đem tập sách nhỏ để lại vào chỗ cũ cho kẻ hữu duyên như chàng sau này. Sáng hôm sau, chàng lên đường tìm đến Truông Mây.

Sau lần Lía đột nhập vùng cấm địa Truông Mây bằng đường bộ, cha Hồ đã đặt thêm một số trạm canh ở sau núi để kiểm soát khu vực này. Ngựa của Lía vừa qua khỏi sông Kim Sơn, bọn lâu la canh gác đã phát hiện và nổi chiêng báo hiệu. Lía nghe tiếng chiêng báo động nhưng vẫn thản nhiên giục ngựa tiến vào. Từ trong các bụi rậm, từng loạt tên bắn vút ra như mưa rào. Lía vội rút thanh đao múa tít, hàng trăm mũi tên rơi lả tả. Chàng thúc ngựa chạy nhanh xuống khu đất trống trước mấy căn nhà lá. Bọn cha Hồ, chú Nhẫn và mấy chục tên cướp đã tụ tập ở đó chờ chàng. Lía ghìm cương ngựa, nói lớn:

– Hôm nay ta đến đây là để dẹp tan sào huyệt ăn cướp này nhưng ta không muốn giết nhiều người. Các ngươi hãy chọn ra vài người giỏi nhất để cùng ta thi đấu, song đấu cũng được mà quần đấu cũng được. Nếu thắng được ta, ta sẽ bái tạ mà bỏ đi ngay, không bao giờ bén mảng trở lại đây.

Thi Chân lớn giọng:

– Cả gan dám đến đây đòi dẹp tan Truông Mây, nếu ngươi bại rồi thì còn mạng để bái tạ mà bỏ đi được sao?

Lía trừng mắt nhìn Thi Chân nói:

– Ngươi là phụ nữ nhưng hung tính còn hơn cả nam nhân, thủ đoạn lại hèn hạ. Hạng người như ngươi e khó sống lâu. Hãy coi chừng cái mạng mà lo đổi tính đổi nết đi.

Thi Chân nghe Lía mắng thì thẹn lắm, mặt đỏ bừng. Cha Hồ nói:

– Nghe đại danh chú Lía ở Bá Bích thành đã lâu, nay mới được thấy mặt. Hân hạnh, hân hạnh! Cùng là ăn cướp với nhau, sao lại làm khó dễ nhau chi cho tổn thương hòa khí?

– Ăn cướp cũng có nhiều loại. Bọn ta chỉ cướp của tham quan, ác bá để chia cho dân nghèo. Đâu phải như các ngươi, bá tánh đã chịu lắm điều cực khổ mà còn cướp bóc của người ta.

Hồ Bân nói:

– Bọn ta bị xã hội ruồng bỏ, cùng đường mới làm ăn cướp. Không lột của người thì lấy gì để sống? Ngươi đã đến đây thì hãy dùng đao kiếm mà phân định, chúng ta đâu cần ngươi dạy đời.

Lía cười ha hả nói:

– Dứt khoát lắm! Được! Ngươi muốn đơn đấu hay quần đấu? Cách nào ta cũng sẵn sàng cả.

Thi Chân nói:

– Ta với Hồ Bân sẽ đấu với ngươi.

Hồ Bân xua tay nói:

– Không cần. Đối với tay cao thủ như Lía thì có thêm một người cũng chẳng ích gì, tam nương cứ để cho tôi.

Rồi hắn quay sang hỏi cha Hồ:

– Chú nghĩ sao?

Cha Hồ gật đầu:

– Được, cháu cứ tiếp đãi anh bạn Lía này đi.

Lía vốn không phải là người tự phụ nhưng chàng vì muốn uy phục bọn cướp này nên nói:

– Một mình ngươi, nếu trong vòng mười hiệp mà ta không thắng nổi thì coi như ta đã bại. Muốn xử sao tùy ý.

Hồ Bân bật cười nói:

– Thật là ngông cuồng, tự phụ! Được, trong vòng mười chiêu mà ngươi hạ được ta thì ta thật sự tâm phục khẩu phục, nguyện suốt đời theo hầu bên ngựa.

– Quân tử nhất ngôn!

Nói xong chàng cởi chiếc nón rộng vành treo trên lưng ngựa, lấy thanh đao cầm nơi tay rồi nhảy xuống đất. Con bạch mã như biết ý, nó chậm rãi đi ra xa. Hồ Bân rút đao khỏi vỏ, ngưng thần thủ thế chờ đợi. Cả đấu trường nín thở chờ đợi. Lía đứng im lặng, bất động, tư thế bình thản nhưng khí thế lại vững chãi như dãy Kim Sơn trước mặt, thậm chí còn không thèm rút đao khỏi vỏ. Hồ Bân đối diện với ánh mắt như điện và khí thế như sơn của Lía được một lúc thì bàn tay bỗng toát mồ hôi, lòng có chút rúng động. Cao thủ đấu nhau hơn thua ở tinh thần, chưa xuất chiêu mà Hồ Bân đã thấy mình thất thế rồi. Hắn quyết định chỉ đánh một chiêu, một chiêu tuyệt học mà sư phụ hắn, một nhà sư vân du tứ hải đã truyền cho khi hắn còn nhỏ. Một chiêu này nếu không hạ được địch thủ thì hắn sẽ chịu thua.

Hắn hét lớn một tiếng và xuất chiêu. Cả đao lẫn người lao vút vào đối phương. Đao ảnh như chớp giật chụp xuống đầu của Lía. Lía như đọc được suy nghĩ của Hồ Bân qua ánh mắt nên chàng đã nhanh chóng đưa ra quyết định. Không ai kịp nhìn thấy chàng ra tay thế nào, chỉ nghe một tiếng chát rất lớn vang lên và thanh đao trong tay Hồ Bân bắn vút lên không bay khỏi đấu trường. Lía tra nhanh lưỡi đao vào vỏ, tư thế vẫn giữ nguyên như chưa hề động thủ. Mọi người bấy giờ mới “a” lên một tiếng kinh hoàng. Hồ Bân sắc mặt tái xanh, thoái lui mấy bước ôm quyền nói:

– Tuyệt đao! Không ngờ trên đời này lại có chiêu đao nhanh đến mức ấy. Hồ Bân này nguyện suốt đời theo hầu bên ngựa.

Lía mỉm cười nói:

– Anh không cần theo hầu ta. Chỉ cần anh dùng thanh đao kia đánh đổ cường quyền, cắt cổ tham quan, ác bá để cứu giúp dân lành là đủ.

Hồ Bân vái tạ:

– Hồ Bân xin nghe theo mệnh lệnh của chú Lía, dẫu chết không từ.

Lía gật đầu rồi hỏi lớn:

– Còn ai muốn so tài nữa không?

…………..

(xem tiếp vào ngày mai)