Kỳ 172:

Hồi thứ hai mươi tám

Thương cháu gái, Tôn Thất Dục bôn đào

Giả chiếu Vương, Trương Phúc Loan lập Chúa

*

Kinh thành Phú Xuân năm nay chuẩn bị đón ngày lễ Phật Đản rất long trọng, hơn hẳn mọi năm. Từ cung điện cho đến nhà dân, đâu đâu cũng cờ hoa rực rỡ, khói hương nghi ngút. Những ngôi chùa lớn ở kinh thành càng tưng bừng, nhộn nhịp hơn nữa. Tất cả những dấu vết của cơn bão lụt khủng khiếp vào mùa đông năm ngoái đã được dọn dẹp sạch sẽ. Mấy tháng nay, sau chuyến nam du, trên đường trở về thì Võ Vương vì gặp cơn bão lớn nên đâm ra hoảng hốt đến lâm trọng bệnh. Triều thần lo sợ, quan Lễ bộ ra lệnh cho dân chúng và các chùa chiền chuẩn bị đại lễ Phật Đản thật lớn để vừa mừng ngày Phật tổ đản sinh vừa làm lễ cúng tế đất trời cầu xin phù hộ cho Võ Vương chóng được bình phục. Thời bấy giờ Lễ Phật Đản được tổ chức vào ngày mồng tám tháng tư hàng năm. Dân chúng khắp nơi xì xầm bàn tán và cho rằng trời cao muốn trừng phạt vị vua đã làm đảo lộn luân thường nên mới gây ra cơn bão lụt vô tiền khoáng hậu năm rồi.

Chiều hôm đó, hai bên bờ Hương Giang tấp nập người đi xem lễ. Kẻ thì muốn qua đò sang dự lễ ở chùa Thiên Mụ, người lại muốn sang hoàng thành để vừa dự lễ vừa ngắm cảnh xa hoa, nhộn nhịp của đất kinh kỳ. Một trong những nơi nổi tiếng khắp nước ở kinh thành Phú Xuân là Các Triêu Dương nằm cạnh bờ Hương Giang. Đó là một lâu đài to lớn, lộng lẫy, tọa lạc trong một vườn hoa lớn với muôn ngàn loài kỳ hoa, dị thảo được mang về từ khắp môi miền đất nước. Các Triêu Dương có hai tầng, là chốn phong thủy hữu tình dành cho những tao nhân, mặc khách dùng làm nơi uống rượu, đề thơ. Trên bức vách hai bên trái phải của cửa chính ra vào ở tầng dưới có khắc một số bài thơ của các danh sĩ trong nước đã từng ghé chân qua đây để lại. Tiêu biểu hơn cả là bài thơ Triêu Dương Các của Hoa Sơn Thị[1] mà những tao khách ghé chân lại nơi đây ai ai cũng đều ngâm nga tán thưởng:

Thương thương tiêu chính sắc

Hạo hạo viễn vô nha

Khí kết sơn hà tú

Quang phân nhật nguyệt hoa

Vấn tăng truyền Chính Tắc

Bổ dục ức Hoàng Hoa

Văn thuyết không tang pháp

Mạn đà cánh vũ hoa.

(Trung Nguyên Hoa Sơn Thị kính lục)

Dịch nghĩa:

Xanh xanh màu ngọn cây

Mênh mông nước không bờ

Khí kết lại thành vẻ đẹp non sông

Ánh sáng chia rõ như mặt trời mặt trăng

Hỏi thêm lời truyền về Chính Tắc (Khuất Nguyên)

Lòng những nhớ Hoàn Oa (Nữ Oa)

Nghe thuyết về phép không tang (vô tướng)

Mưa hoa mạn đà (hoa sen) đổ xuống.

(Trung Nguyên Hoa Sơn Thị kính lục)

Nhắc lại Tiểu Phi, từ lúc trở về Hóa Châu thì chàng được sư phụ sai đến kinh thành để nghe ngóng tin tức về việc Võ Vương đang lâm trọng bệnh. Quần thần và dân chúng nháo nhào lo lắng vì những âm mưu phế lập mà phe cánh của quan Ngoại tả Trương Phúc Loan đang âm thầm thực hiện. Buổi chiều ngày mồng tám tháng tư, chàng một mình ngồi nơi chiếc bàn nhỏ trong Triêu Dương Các uống rượu, thỉnh thoảng lại phải cau mày khó chịu vì mấy tên thanh niên nhố nhăng gây ồn ào làm mất đi vẻ thanh nhàn của Triêu Dương Các. Chợt chàng chú ý đến một ông lão râu tóc đã hoa râm, dáng cách thật tiên phong đạo cốt đang cùng một thiếu nữ chừng mười sáu, mười bảy tuổi, đẹp như thiên tiên vừa bước vào. Hai người đứng trước bức vách chiêm ngưỡng những bài thơ. Tiếng ồn ào trong Triêu Dương Các bỗng trở nên thinh lặng, những cặp mắt đổ dồn về phía người thiếu nữ mới xuất hiện. Ngay cả đám thanh niên năm người đang ngồi nơi chiếc bàn kê sát cửa sổ gần bờ sông từ nãy giờ đùa giỡn ồn ào cũng im bặt. Một tên trong bọn, quần áo sặc sỡ trông như một công tử con nhà quyền quí vừa nhìn thấy thiếu nữ thì như đã bị hốt mất hồn phách, miệng không ngớt xuýt xoa, lẩm bẩm như người nằm mơ giữa ban ngày:

– Đẹp! Trời ơi! Đẹp hơn cả tiên nữ giáng trần. Thôi chết ta rồi!

Tên ngồi bên cạnh thấy vậy liền đưa tay vỗ vào vai hắn cười nói:

– Công tử, tỉnh lại! Cậu làm gì mà như kẻ mất hết hồn vía vậy?

Tên công tử áo hoa mơ màng đáp:

– Chuyến này ta chết mất Lương Phúc ơi. Thế gian đâu lại có người đẹp đến như thế. Trời ơi…

Tên Lương Phúc cười nói:

– Hôm nay công tử làm sao vậy? Tỉnh lại đi! Phải tỏ rõ cái dũng khí của Hoa Hoa công tử trước mặt người đẹp như mọi lần mới được chứ.

Ba tên còn lại đồng thanh nói:

– Đúng vậy! Công tử phải chứng tỏ bản lãnh hào hoa của mình, chinh phục bằng được người ngọc này.

Tên công tử nghe đồng bọn khuyến khích, máu anh hùng trong người hắn cũng bốc lên. Hắn nói:

– Được, các ngươi đừng rối lên, đợi tí xem người đẹp làm gì đã.

Bên kia, Tiểu Phi vừa nhìn thấy cô gái đã như bị điện giật. Chàng buột miệng khen thầm: “Đẹp! Đúng là đẹp hơn cả tiên trên trời. Thế gian lại có người đẹp đến như vậy ư? Đây chắc là một vì tiên bị đọa xuống trần nên trong vẻ đẹp thánh thiện vô ngần kia mới phảng phất một nỗi buồn man mác như vậy”. Chàng bỗng liên tưởng đến Đại Hồng, Tiểu Hồng rồi Hồng Liên. Nhưng tất cả đều không thể nào sánh với nàng tiên này được. Họa chỉ có cô cháu gái của Trần Viên Viên là Lý Dung Dung trong chuyện tình huyền thoại của Trương sư thúc mà sư phụ đã miêu tả lại thì mới có thể sánh bằng.

Chợt nghe ông lão hỏi thiếu nữ:

– Quỳnh Nhi, con thấy bài thơ Triêu Dương Các của Hoa Sơn Thị thế nào?

Thiếu nữ đáp, tiếng trong như tiếng khánh vàng, vừa thánh thót nhẹ nhàng, vừa êm tai như rót mật:

– Dạ, thật hay và thật cao nghĩa ạ. Bốn câu đầu rất đẹp, có thể dùng để miêu tả cảnh Triêu Dương Các bên bờ Hương Giang thơ mộng. Bốn câu sau vừa cao thâm vừa đượm mùi thoát tục. Nhưng tại sao lại hỏi thêm về Chính Tắc thì cháu không hiểu. Vị tiền bối Hoa Sơn Thị chép lại bài thơ này ở đây với ý gì vậy ngoại?

Ông lão đáp:

– Chính Tắc tức là Khuất Nguyên, người nước Sở, tác giả cuốn Sở Từ như con đã biết. Bài thơ này được khắc ở đây chỉ vì vị Hoa Sơn Thị nhân thấy cảnh trí của Các Triêu Dương quá tao nhã nên sinh tình mà viết lại thôi. Ngoại nghĩ ý tứ của câu năm trong bài thơ không phải là để hỏi đến tâm sự u uất của Khuất Nguyên đâu bởi vì Triêu Dương Các được xây dựng vào lúc đất nước đang hồi cường thịnh, thái hòa mà.

– Ra là thế. Cả bài thơ khắc kế bên cũng vậy nữa phải không ngoại? Vị tiền bối Hữu Mai Đình Triệu Lâm chắc là một thế ngoại cao nhân nên tứ thơ vừa ngạo thị lại vừa thanh cao thoát tục.

Nàng đọc nho nhỏ bài thơ:

Chấn cách bàn tiêu hán

Thanh tiêu quýnh bất quần

Cửa cao không ngoại hưởng

Ngọ dạ nguyệt trung văn

Hầu kiệu tùy Vương Tử

Doanh châu giá Đại Quân

Thiên niên liêu hải thượng

Hương lý cách phù vân.

Dịch nghĩa:

Vỗ cánh bay trên mây ngất trời

Thanh cao chí vượt các loài khác

Chín tầng trời vang tiếng

Nửa đêm nghe trong trăng

Nùi Hầu tùy nghi Vương Tử

Châu Doanh xe của Đại Quân tới

Nghìn năm xa vời trên biển cả

Xóm làng dưới làn mây nổi.

Đọc xong nàng gật gù tỏ ý tán thưởng rồi kéo tay ông lão sang vách bên phải. Bên vách này cũng có đề một số bài thơ nữa của Hữu Mai Đình Triệu Lâm và Thần Khâu Đinh Quỹ. Chợt tên công tử áo hoa đứng lên bước đến trước mặt thiếu nữ, ôm quyền lịch sự nói:

– Kính chào Quỳnh Hoa Tiên Tử. Tiên Tử thích hai bài thơ đó à? Kẻ hèn này thì lại thích bài thơ của Khâu Đình Quỹ hơn vì ý thơ diễn tả đúng nét đẹp như tiên của Quỳnh Hoa Tiên Tử đây.

Rồi không cần để ý tới nét cau mày khó chịu của thiếu nữ, hắn nhìn lên vách đọc lớn:

Xuân liễu bích như yên

Xuân lưu uyển chuyển duyên

Đê thùy kim kính bạn

Tà phất ngọc kiều biên

Mi tế ba trung diện

Yêu khinh hỗ lý truyền

Kinh thành thiên vạn nữ

Duy nhất đóa Quỳnh Tiên.

Dịch nghĩa:

Liễu ngày xuân biếc như khói

Xuân uyển chuyển chảy theo mé sông

Cúi nhìn bạn trong gương soi

Chiều tà bên cầu ngọc

Vẽ chân mày, gương mặt như có sóng

Tấm lưng thon nhẹ như có ai nâng

Kinh thành có ngàn vạn mỹ nữ

Chỉ có nàng Quỳnh Tiên là nhất.

Hai câu thứ bảy và thứ tám của bài thơ gốc là:

Chương Đài thiên vạn thụ

Duy nhĩ mộc ân tiên.

(Chương Đài có ngàn vạn cây

Chỉ có cây liễu là được gội ơn trước)

Nhưng hắn đã đổi lại thành:

Kinh thành thiên vạn nữ

Duy nhất đóa Quỳnh Tiên.

Vì lúc nãy hắn nghe ông lão gọi cô gái là “Quỳnh Nhi” nên mới đổi lời thơ để ghẹo thiếu nữ. Cô gái nghe hắn ăn nói có điều khinh bạc nên trừng hắn một cái rồi im lặng bước lại cạnh ông lão, quay mặt đi nơi khác. Tên công tử áo hoa bị cái trừng mắt đó thì cả người chợt nổi gai lạnh. Tên Lương Phúc bỗng đứng lên vỗ tay cười lớn:

– Hay quá, hay quá! Không ngờ hôm nay Thái Tuế công tử của chúng ta lại làm thơ, mà còn làm quá hay nữa chứ. Tôi nghĩ ta nên sửa lại hai câu thơ đó của Khâu Đình Quỹ đi, đưa hai câu của Thái Tuế công tử vào. Ha ha…

[1]  Những bài thơ này được trích dẫn từ “Phủ Biên Tạp Lục” tập 3 của Lê Quý Đôn

…………….

(xem tiếp vào ngày mai)