Kỳ 179:

…………..

Nhắc lại Trần Lâm, từ khi từ Cù lao Phố trở về, chàng phải ở lại Cao gia trang để cùng anh em võ sĩ canh phòng giặc cướp chứ không theo đoàn thuyền của Lê Trung nữa. Lúc này vì nạn đói kém trong nước ngày một gia tăng, số bà con ăn xin, chết đói ngày một nhiều nên bọn cướp Truông Mây của chú Lía hoạt động mạnh hơn. Họ cướp của hầu hết những nhà giàu có trong hai phủ, cả kho lẫm thóc của triều đình để phân phát cho đám người cùng khốn kia. Họ hoạt động càng tích cực thì số dân ăn mày khắp nơi lại đổ về hai phủ Quy Nhơn và Quảng Ngãi càng đông vì ai cũng đều mong có được sự giúp đỡ.

Bản thân Trần Lâm thật không muốn bị cột chân một nơi nhưng nể Lê Trung nên chàng đành nhận lời ở lại Cao gia. Cũng hay, Tiểu Hồng có chứa một phòng sách lớn nên những ngày tháng rảnh rỗi này, chàng bỏ công nghiên cứu dịch lý và trau dồi thêm võ công của mình. Trong thâm tâm chàng cũng rất mong đợi có ngày được đụng độ với nhân vật chú Lía huyền thoại kia để thử xem tài sức chàng ta đến bực nào, sự mong đợi tự nhiên của anh hùng mong hội ngộ anh hùng.

Đại Hồng đã lấy chồng, gia trang chỉ còn Tiểu Hồng nên giao tình giữa chàng và nàng ngày một gắn bó hơn. Trần Lâm trong lòng còn vương nặng lời thề với cha mẹ, mặc cảm tội lỗi với đứa em gái đáng thương nên tâm can chàng không lúc nào không bị dày vò. Chàng luôn nhìn thấy nơi Tiểu Hồng hình ảnh của đứa em gái ngày xưa.

Tiểu Hồng vốn là cô gái có tâm hồn mơ mộng, yêu thích văn chương nghệ thuật, không thích chuyện võ nghệ đao kiếm nhưng từ bé Lê Trung đã bắt nàng luyện võ. Ông bảo rằng thời buổi nhiễu nhương, phụ nữ cũng nên có chút võ nghệ tùy thân, vì vậy bản thân nàng cũng thụ đắc được một thân võ công rất vững vàng. Trong thời gian ở Cao gia trang, Trần Lâm lại ra sức chỉ điểm thêm cho nàng. Đêm đêm hai người vẫn thường cùng nhau luyện kiếm dưới trăng và những hình ảnh lãng mạn đó ngày một khắc sâu vào trái tim đầy mơ mộng của Tiểu Hồng. Một tình yêu đằm thắm theo thời gian đã nảy nở. Nhiều đêm, Tiểu Hồng ngồi một mình nơi cửa sổ trên lầu cao nhìn xuống dưới sân xem chàng luyện kiếm, lòng dạt dào một niềm thương mến. Những lúc như vậy, nàng thường mang đàn ra tấu những khúc nhạc êm đềm. Những mong tiếng tơ đàn có thể hòa vào cùng hào quang của kiếm ảnh, cũng như ước ao hai trái tim có thể hòa quyện vào nhau.

Ngày tháng thoi đưa, tình yêu ấy chỉ có thể mãi mãi là mối tình đơn phương riêng nàng ôm ấp. Qua những hành động từ chối tế nhị của Trần Lâm, Tiểu Hồng đã cảm nhận được lòng chàng. Chàng quay lưng, nàng càng tha thiết. Nhưng tha thiết mấy cũng chỉ để mối tình kia chảy xuống thành thơ như những ngọn nến từng đêm tàn lụi dần:

Nhất sinh nhất kiến nhất oan trinh

Nhất niệm tư quân nhất niệm tình

Tương kiến băng tâm như mộng ảo

Ty thanh kiếm ảnh tự hòa minh

Tương tư đoạn ngọc tồi tâm can

Song ỷ thu dung lạc diệp hoàng

Phong tuyết bất kham cô độc khách

Đơn phòng lạp chúc lệ thùy khan.[1]

Dịch nghĩa:

Một đời, một lần gặp gỡ là oan trái suốt kiếp

Mỗi thời khắc nhớ đến chàng là mỗi lần sóng tình trỗi dậy

Gặp nhau nhưng lòng băng giá, tình như mộng ảo

Chỉ có tơ đàn và ánh kiếm tự hòa nhau minh thệ

Nỗi thương nhớ như làm đứt dáng ngọc và dày vò tim gan

Lá rơi làm vàng dáng thu đang tựa cửa

Gió tuyết không cản được người kiếm khách cô độc

Trong phòng đơn bạch lạp và lệ cùng chảy cạn.

***

Thấy Lê Trung bước vào, Trần Lâm mời ông ngồi, rót trà ra tách mời rồi hỏi ngay:

– Chú về ngược gió chắc mệt lắm. Nghe nói Trương Phúc Loan chuyên quyền giả chiếu chỉ truất phế Chương Võ để đưa cháu hắn là Phúc Thuần, kết quả của mối tình loạn luân giữa Võ Vương và Ngọc Cầu lên ngôi phải không chú?

Lê Trung chán nản gật đầu đáp:

– Hắn chuyên quyền làm càn mà cả triều không ai làm gì được. Chỉ có một mình Ý Đức Hầu Trương Văn Hạnh dám đứng ra phản đối nhưng thế cô nên rốt cuộc đã bị giết. Cả hoàng tử Chương Võ Phúc Luân cũng bị tống giam vào ngục thất. Bây giờ, hắn còn được phong chức Quốc phó nắm quyền nhiếp chính nữa, coi bộ Đàng Trong này đã đến lúc lâm nguy, e rằng lời sấm truyền: “Chỉ tám đời Chúa thôi sẽ trở về Trung Đô” bắt đầu linh ứng rồi. Phúc Thuần là đời Chúa thứ tám của họ Nguyễn Đàng Trong đấy.

– Năm rồi cả một dải đất duyên hải từ Nghệ An vào tới Quảng Ngãi bị cơn bão lụt tàn phá dữ dội, nay số người đói kém tụ về đây để xin ăn rất đông. Triều đình lại không có biện pháp gì để cứu giúp, chỉ đành chờ bọn cướp Truông Mây cướp bóc về phân phát cho. Ai đời ăn cướp mà phải lo chăn dân, còn triều đình thì lại quay lưng ngoảnh mặt.

Lê Trung nói:

– Chưa hết đâu, tình hình sắp tới e còn tệ hại hơn nữa.

– Chú nhìn thấy có dấu hiệu gì sao?

– Dấu hiệu lớn và rõ ràng nhất là sự chuyên quyền của tên Quốc phó. Bao nhiêu năm nay bọn chúng e ngại vì Võ Vương còn tại vị, quần thần cũng có vài người trung trực cản ngăn. Nay chúng đưa một đứa bé mới mười hai tuổi lên ngôi để giữ quyền nhiếp chính thì đám tay chân, bộ hạ của chúng sẽ còn lộng hành, đày ải bá tánh đến mức độ nào nữa.

Trần Lâm thở dài nói:

– Cho nên việc cháu phải ngồi ở đây giữ nhà để đối đầu với một nhân vật hiệp sĩ cứu dân độ thế như chú Lía thật là một điều phi lý hết sức, chú thấy không?

Lê Trung cũng thở dài theo:

– Chú hiểu nỗi khó chịu của cháu. Thôi thì ráng thêm một thời gian nữa đi, mà có lẽ cũng không lâu nữa đâu vì bọn Truông Mây đã thành lập căn cứ ở núi Bà, ngay sát bên nách chúng ta rồi. Chú nghĩ ngày chúng viếng thăm nơi này đã sắp đến. Sau trận so tài, cháu có thể tự do ra đi mà chú không phải khó xử với Cao Đường. Cháu chuẩn bị đầy đủ tinh thần cho đêm hội ngộ đó chưa?

– Dạ rồi. Cháu cũng đang mong chờ giờ phút đó từng ngày đây.

– Không nên mang một tâm lý chờ đợi vì nó làm cho tinh thần mình bị căng thẳng, còn tâm lý thì rơi vào thế bị động. Căng thẳng và bị động tức là bị người uy hiếp rồi.

– Cảm ơn chú chỉ điểm. Nói vậy thôi chứ cháu không có cảm giác bị động và căng thẳng chút nào cả.

Hai người đang nói chuyện thì Tiểu Hồng bước vào. Thấy Lê Trung, nàng mừng rỡ hỏi:

– Cậu về rồi, đi đường có mệt không cậu? Mọi chuyện ngoài đó tốt cả chứ? Cháu nghe nói Phú Xuân có chuyện, chỉ sợ cậu gặp rắc rối.

Lê Trung mỉm cười đáp:

– Tốt cả, cô cháu ngoan ạ. Mọi chi tiết cậu ghi cả trong sổ này, cháu giữ lấy để làm hồ sơ kết toán. Cha cháu đâu?

– Dạ, cha lên phủ lỵ có việc. Cậu về nghỉ ngơi, khi nào cha về cháu sang mời cậu. Hay hai người có muốn uống rượu với nhau không thì cháu đi làm thức nhắm cho?

– Ý kiến hay đó. Cháu làm đi, cậu cũng còn vài chuyện muốn nói với Lâm Nhi, sẵn chờ cha cháu về cũng tiện.

Tiểu Hồng nở nụ cười thật ngoan:

– Dạ, cháu đi làm ngay đây, cậu và anh Lâm chờ một chút sẽ có ngay.

– Ông ta cho rằng có hai loại người có thể trở thành minh chúa cai trị, dẫn dắt những người khác. Thứ nhất là những người nhất sinh thiên tử mạng, ví như Lý Công Uẩn, người đã mở ra một triều Lý cực thịnh cho Đại Việt. Lý Công Uẩn ngay từ nhỏ đã có chân mạng và khí độ của một đế vương. Chân mạng đó được biểu hiện qua việc ngài viết hàng chữ đày bức tượng thần trong chùa đi biệt xứ. Vì vậy mà vị thần này đang đêm phải hiện về năn nỉ sư Vạn Hạnh nhờ Công Uẩn xóa lệnh đày ải đi hộ cho. Cả việc khi Lý Công Uẩn hạ sinh vào năm Giáp Tuất 974, ở Châu Cổ Pháp lại có con chó sinh ra sắc lông trắng, có đốm đen trên mình tạo thành hai chữ “Thiên tử”, ứng vào mạng Đế vương của ngài. Còn khí độ của Công Uẩn biểu lộ qua hai câu thơ mà ngài đã đọc khi bị sư Vạn Hạnh bắt trói nằm cong queo ở cổng tam quan:

Đêm nằm không dám dang chân ruỗi

E sợ sơn hà xã tắc xiêu.

Trần Lâm hỏi:

– Còn loại thứ hai?

– Loại thứ hai là những anh hùng sinh ra trong thời loạn, đánh nam dẹp bắc, kiến lập đại công, nhất thống sơn hà. Ví như hai vị anh thư Trưng Nữ Vương hoặc Mai Hắc Đế, Đinh Tiên Hoàng, Lê Thái Tổ… của chúng ta vậy.

– Như vậy loại người thứ nhất thuộc về anh hùng tạo thời thế còn loại thứ hai là thời thế tạo anh hùng?

– Đại loại là như vậy. Có điều cả hai loại minh chúa này cùng có một điểm chung đó là tấm lòng yêu thương dân tộc, muốn đem lại hạnh phúc cho đồng bào của mình. Đó vừa là động cơ vừa là nguyên tố đưa họ lên địa vị một minh chúa.

– Vị minh chúa mà Trại Ức Trai đang tìm kiếm và mong đợi hẳn phải là người thuộc nhóm thời thế tạo anh hùng rồi?

– Đúng vậy! Mỗi lần đất nước ta rơi vào cơn dầu sôi lửa bỏng thì lại xuất hiện một vị anh hùng có tài tế thế an bang, đem lại sự sinh tồn và hạnh phúc cho dân tộc. Điều này đã trở thành một qui luật bất biến của Việt tộc rồi.

– Nguyên do?

– Thứ nhất, nhờ vào hình thái núi sông tạo nên linh khí. Thứ hai, vì sự đấu tranh trường kỳ để sống còn với người phương Bắc nên tinh thần bất khuất luôn tiềm tàng trong lòng mỗi người dân Việt. Khi đất nước lâm nguy, bao nhiêu tấm lòng bất khuất kia hòa với khí thiêng sông núi sẽ hun đúc nên một vị anh hùng, một vì minh chúa. Và lịch sử gần bốn ngàn năm qua của chúng ta đã chứng minh điều ấy.

[1]  Trích Trường thi Hòn Vọng Phu, Vũ Thanh, Nxb Trẻ 2012.

…………..

(xem tiếp vào ngày mai)