Kỳ 187:

…………

Phương Tích nở nụ cười đắc ý nói:

– Anh gãi đúng chỗ ngứa của tôi rồi đó. Tôi hiện đang giữ một bản, tôi coi nó như vật gia bảo của mình, nhưng tôi sẽ tặng cho anh.

Trần Lâm vội nói:

– Vật gia bảo của anh mà đem tặng cho tôi sao được?

– Ậy, ngựa hay tặng tráng sĩ, kiếm báu tặng anh hùng. Tôi giao du rất rộng nhưng nhìn lại chỉ có anh là người xứng đáng để giữ cuốn sách này, anh không cần e ngại. Lát nữa ghé nhà tôi trước rồi tiện thể đi coi hát bội luôn.

Trần Lâm mừng rỡ nói:

– Nếu vậy thì tôi xin cảm ơn anh. Đêm nay họ hát ở đâu?

– Trong sân chầu của thành Đồ Bàn cũ. Nhà tôi gần đó.

– Vậy thì hay quá! Tôi đang muốn ghé thăm ngôi thành đó để xem chứng tích của một dân tộc, một triều đại huy hoàng xưa nay như thế nào.

Phương Tích thở dài cảm khái:

– Thương hải biến tang điền! Cả một thời huy hoàng của một đế chế hùng mạnh nay chỉ còn lại một tòa thành hoang phế.

Rồi chàng uống cạn chung rượu, khà một tiếng cao giọng ngâm:

Tà dương đình mã vọng,

Vô hạn phế hưng tình.

Viên uyển tăng vi tự

Cung đình mục tự canh.

Tàn sơn dư cổ tháp

Thặng thủy thoán hoang thành.

Thần đạo nguyên vô cứ,

Tây quan mạn khắc minh.[1]

Tạm dịch:

Chiều tà dừng ngựa, trông,

Hưng phế man mác lòng.

Vườn hoa sư thờ Phật,

Cung điện hóa thành đồng.

Núi mòn trơ cổ tháp,

Nước úng đọng quanh thành.

Đạo thần vốn huyền nhiệm,

Ải Tây ghi bài minh.

Trần Lâm khen:

– Bài thơ của Lưu huynh man mác tình hoài cổ. Tuyệt!

Phương Tích vội xua tay nói:

– Không phải của tôi đâu, của dật sĩ Ngô Thế Lân ở Vu Lai đó. Người này là một dị sĩ thời nay, tài chẳng kém La Sơn Phu Tử nhưng chính khí vời vợi nên nhất định lánh đời không chịu ra làm quan. Nhân năm kia ông có ghé qua Đồ Bàn, thấy cảnh hoang phế của cố đô mà chạnh lòng nên mới viết ra bài “Quá Đồ Bàn cố thành hoài cổ” này.

– Giao tình của anh với ông ta thế nào?

– Chỉ là chỗ sơ giao, bình thủy tương phùng.

– Những người như thế không quen biết được quả là điều đáng tiếc.

– Có dịp chúng ta cùng nhau ra Hóa Châu tìm thăm ông ta. Đó là một nhà dịch lý uyên thâm bậc nhất mà tôi từng biết. Thôi chúng ta đi.

Đêm đó, họ ghé sân chầu của thành Đồ Bàn xem hát bội. Gánh hát diễn vở “Phụng Nghi Đình”. Ở đoạn kết, lúc Đổng Trác bị giết, bà con bên dưới ai nấy đều nức lòng hả dạ và chỉ mong sao tên Quốc phó Trương Phúc Loan cũng chết đi cho bá tánh được an thân.

Sau khi xem hát, Phương Tích mời Trần Lâm về nhà rồi giữ chàng ở lại đó mấy hôm. Phương Tích sống cô độc một mình vì cha mẹ chàng đã lần lượt qua đời mấy năm trước sau cơn bạo bệnh. Suốt những ngày đó, cả hai đem cuốn binh thư Hổ Trướng Khu Cơ của Đào Duy Từ ra cùng nhau tham khảo và bàn luận. Những lý luận sâu sắc của Trần Lâm trong cách phân tích cả ba thiên “Thiên, Địa, Nhân” mà Đào Duy Từ đã viết khiến cho Lưu Phương Tích vô cùng thán phục.

Từ giã Phương Tích, Trần Lâm thả ngựa dạo khắp phủ lỵ Quy Nhơn. Đợi trăng lên, chàng dừng chân ghé thăm bến My Lăng huyền thoại, nơi mà hơn ba trăm năm trước đã có một chàng kiếm khách đất Thăng Long bỏ nước vào đất Chiêm, ẩn thân làm gã lái đò để bảo vệ cho Huyền Trân Công chúa. Cũng nhờ vào tấm tình si ấy mà chàng kiếm sĩ đã kịp thời báo về Thăng Long để triều đình nhà Trần có kế hoạch cứu Công chúa Huyền Trân thoát khỏi nạn bị hỏa thiêu theo chồng là Vua Chiêm Chế Mân. Bến cũ còn đây, người xưa đâu tá? Chỉ còn lại dòng nước Côn Giang lạnh lùng trôi dưới ánh trăng vàng, giữa đôi bờ cỏ cây hoang dại. Bên kia bờ, đò ai cắm giữa dòng sông như đang say giấc điệp. Lòng chàng dạt dào cảm khái bèn cất cao tiếng hát lồng lộng giữa đêm trăng:

Côn Giang hề! Giang thủy biếc! Giang nguyệt lung!

Chảy về đâu? Đâu hỡi bóng anh hùng?

Nguyệt mãn hề! Mộng xưa sao cứ khuyết?

Sóng gợn hề! Sao lửa dậy không trung?

Dạo Côn Giang, tuấn kiệt xưa mấy kẻ

Mà đêm nay thiếu vắng một tri âm

Đời loạn lạc ngoài kia dâu với bể

Dòng Côn Giang trôi mãi với thăng trầm. [2]

Dịch nghĩa:

Ôi dòng Côn Giang nước xanh biếc, ánh trăng lung linh.

Nước chảy về đâu và đâu bóng anh hùng?

Vầng trăng đầy sao mộng xưa cứ khuyết?

Sóng Côn Giang vẫn gợn sao lửa khói điêu tàn dậy không trung?

Trên bờ Côn Giang xưa hào kiệt biết bao người đã từng dạo bước, mà đêm nay lại thiếu vắng một tri âm.

Đời vẫn còn loạn lạc, dòng Côn Giang đã chứng kiến biết bao cảnh thăng trầm.

Bỗng có tiếng ngâm vang lên từ chiếc thuyền con bên kia bờ sông:

Lạc hoa lưu thủy tự nhiên tình

Suy thịnh tồn vong tạo hóa sinh

Mạc vấn vô tâm chung đỉnh sự

My Lăng Điếu Tẩu mộng Trang Sinh.

Dịch nghĩa:

Hoa rơi, nước chảy là cái tình của tự nhiên

Suy thịnh còn mất là lẽ của tạo hóa khi sinh ra vạn vật

Đừng hỏi vì sao không lưu tâm đến chuyện chung đỉnh

Lão câu cá bến My Lăng mộng thấy Trang Sinh.

Trần Lâm nghe giọng ngâm thanh thản, ý thơ đượm mùi chính khí, thoát tục thì biết ngay đó là người dật sĩ lánh đời, trong lòng nảy sinh kính ngưỡng. Chàng cất tiếng gọi lớn:

– Cụ ơi, làm ơn ghé thuyền sang cho cháu hỏi thăm?

Trên thuyền vẫn im lặng không thấy trả lời, Trần Lâm cất tiếng gọi lớn hơn nữa:

– Cụ ơi! Cụ câu cá bến My Lăng! Làm ơn ghé thuyền sang cho cháu hỏi thăm chút việc có được không?

Vẫn không có tiếng đáp lại. Chiếc thuyền câu vẫn neo sào nằm yên trên bến vắng. Trần Lâm không nản chí, vận nội lực cất tiếng gọi lớn hơn:

– Cụ ơi! Cụ My Lăng Điếu Tẩu ơi! Làm ơn ghé thuyền sang cho cháu hỏi thăm chút việc có được không?

Nước động, ánh trăng trên mặt nước vỡ theo nhịp mái chèo khua. Chiếc thuyền câu từ từ tiến sang bờ Bắc. Chiếc thuyền câu khá lớn, khi thuyền đến gần bờ, có tiếng ông lão hỏi:

– Hiệp sĩ có việc gì cần kíp muốn hỏi mà đêm trăng thanh vắng lại làm rộn, phá tan giấc mộng của ta vậy?

Trần Lâm chắp tay lễ phép thưa:

– Dạ, xin lỗi đã quấy rầy giấc mộng Trang Sinh8 của cụ. Cháu chỉ muốn hỏi thăm bến này còn có con đò muộn nào đưa khách sang sông không?

– Giờ này đã muộn, chẳng còn đò dọc, đò ngang nào nữa cả.

Trần Lâm ngập ngừng một lúc rồi hỏi:

– Chỉ sợ làm phiền lòng người ẩn sĩ như cụ, nhưng cháu cần sang sông đêm nay nên đành mạo muội nhờ cụ đưa giúp cho có được chăng? Cháu xin hậu tạ.

– Hiệp sĩ sẽ hậu tạ ta bằng cách nào?

– Vàng bạc chỉ e làm bẩn đôi tay thanh bạch, tiếng cảm ơn lại sợ bẩn đôi tai cao sĩ, cháu chỉ còn biết cảm tạ cụ bằng một tấm lòng đơn bạc.

Ông lão cười ha hả nói:

– Hay lắm, hay lắm! Nhưng hiệp sĩ sang sông làm gì mà lại gấp đến vậy?

– Cường thần đại nghịch, bá tánh lầm than, không gấp làm sao được?

– Hiệp sĩ tay dắt Ô Truy, lưng đeo kiếm báu, gấp sang đò có phải muốn trở lại Giang Đông chăng?

– Cháu là người Đại Việt, không phải là Hạng Vương nên không trở lại Giang Đông.

– Vậy hiệp sĩ định về đâu?

– Tây Sơn linh khí tỏa đầy, cháu muốn đến đó để tìm cầu minh chúa.

Ông lão ngư phủ lại cất tiếng cười ha hả:

– Có tráng chí! Hay lắm! Nếu vậy ta sẽ chở giúp hiệp sĩ sang bờ. Nào lên đây, cả con Ô Truy thần mã kia nữa.

Ông lão khua nhẹ mái chèo, chiếc thuyền câu ghé vào gần bến rồi dừng lại nhưng không chịu cập sát bờ. Ông lão đưa mắt nhìn Trần Lâm có ý giục chàng xuống thuyền. Trần Lâm biết ông lão đang muốn thử tài mình bèn đưa tay phải luồn dưới bụng con Ô Truy rồi nói:

– Xin cụ ghìm thuyền cho vững giùm cháu nhé.

Nói xong chàng một tay nâng con Ô Truy lên, tung người nhảy nhẹ nhàng xuống đuôi thuyền, chiếc thuyền câu chỉ hơi tròng trành một chút. Chàng thản nhiên đặt con Ô Truy xuống sàn thuyền. Ông lão gật gù mỉm cười rồi khua mái chèo, con thuyền quay đầu bơi ra giữa dòng sông. Mùa này nước Côn Giang đầy bờ lại chảy khá xiết nhưng tay chèo của ông lão rất nhẹ nhàng. Dù vậy con thuyền bơi ngang chẳng thấy lệch mũi chút nào. Trần Lâm ngồi trước mặt ông lão và nhận ra ông có nét mặt phương phi, quắc thước, sắc da hồng hào không giống với người giăng câu kiếm sống. Mái tóc ông bạc phơ phơ càng tăng thêm vẻ tiêu sái, nhàn nhân. Biết ông lão này là cao nhân, chàng nói:

– Cụ để cháu chèo thế cho.

– Không cần đâu. Đã làm ơn thì tôi phải làm cho trót.

Thuyền gần đến chỗ lúc nãy cắm sào neo, ông lão hỏi:

– Hiệp sĩ có muốn cùng già này đối ẩm vài chung rượu nhạt chăng?

Trần Lâm hớn hở đáp:

– Đêm thanh, trăng nước hữu tình, được cùng cao nhân đối ẩm thì còn gì thú vị cho bằng? Cung kính bất như phụng mạng.

Ông lão ghìm thuyền nơi dòng nước cạn, rút cây sào cắm nhẹ nhàng xuống đáy sông neo thuyền lại. Ông giở tấm ván trên khoang thuyền lấy ra một hộp gỗ để lên chiếc bàn nhỏ. Sau đó lôi từ trong khoang ra bốn, năm bình rượu đủ cỡ lớn nhỏ, đủ kiểu cách mẫu mã. Ông cẩn thận mở chiếc hộp gỗ, lấy ra một chiếc bình đựng rượu và mười mấy chung rượu đủ loại, chiếc nào cũng sắc sảo tinh vi, có những chiếc nước men bóng loáng, chạm trổ cầu kỳ, lại có chiếc trông cũ kỹ, mộc mạc như màu đất sét nung nguyên thủy. Ông cụ chọn một bình rượu, sang ra chiếc bình sứ nhỏ, sau đó lấy hai chiếc chung có màu men trắng như ngà, trang trọng rót đầy rượu vào và nói:

– Mời hiệp sĩ! Lâu lắm rồi tôi mới có dịp cùng người đối ẩm. Hẳn chúng ta có chút duyên phận với nhau đây.

Trần Lâm lễ phép nói:

– Cháu tên Trần Lâm, xin cụ gọi tên cho dễ. Chẳng hay cháu sắp được uống chung rượu quí của ai đây?

Ông lão mỉm cười hỏi:

– Chưa uống sao đã biết là rượu quí?

– Nhìn cách bày rượu và rót rượu của cụ thôi cháu đã biết là rượu quí rồi.

– Hình thức chỉ là thứ yếu. Uống thử đi xem nó quí bậc nào?

– Xin mời cụ!

Trần Lâm nâng chung rượu lên môi, một cảm giác mát lạnh truyền qua những ngón tay, một mùi hương vừa thoảng vừa nồng bốc lên mũi thật khoan khoái. Chàng nhấm môi một chút, vị nồng nàn, lăn tăn tê nơi đầu lưỡi. Uống trọn chung hơi ấm đã theo chất rượu chạy dần xuống bao tử sau đó lan tỏa khắp châu thân. Chàng “khà” lên một tiếng và đặt chung xuống bàn. Ông lão chăm chú nhìn nét mặt của chàng như để theo dõi những diễn biến cảm giác khi uống chung rượu. Trần Lâm nói:

– Đây phải là loại Bàu Đá thượng hảo hạng, ủ lâu năm dưới đất trong chum đất Gò Sành. Bình rượu này hẳn phải là của một nhà cất rượu rất chuyên nghiệp cất lấy.

Ông cụ mỉm cười gật đầu tỏ vẻ tán thưởng:

– Hay lắm! Đúng là tay sành rượu. Uống tiếp chung thứ hai này nữa xem.

Ông rót đầy chung, Trần Lâm nâng chung mời rồi uống cạn. Chàng lại “khà” một tiếng nói:

– Chung này hương vị còn đậm đà hơn chung trước, có lẽ nhờ chung rượu trước đã tẩy rửa sạch miệng của mình.

– Giỏi! Đúng là bình rượu này do những nhà cất rượu chuyên nghiệp cất ra. Chúng tôi tự tay cất lấy nó đấy.

Trần Lâm ngạc nhiên hỏi:

– Ra cụ là nhà cất rượu Bàu Đá à?

– Tổ tiên chúng tôi là con cháu nhà Trần vì loạn Hồ Quý Ly nên bỏ xứ vào đây nương náu. Xứ lạ quê người, buồn nhớ cố hương nên cất rượu để uống giải sầu và mượn rượu để kết giao với người bản địa. Nhân trước mặt nhà có bàu nước khá lớn, trong một lần giếng nước bị khô, chúng tôi dùng nước trong bàu lược kỹ để chưng rượu. Rượu ra hương vị lại thơm ngon hơn nước giếng nhiều lần nên từ đó chúng tôi tiếp tục dùng nước bàu để cất rượu. Cái tên Bàu Đá là do bên cạnh bàu có một hòn đá rất lớn mà ra. Về sau, người Chiêm uống rượu thấy ngon quá nên cũng xin học cách nấu và qui tụ lại quanh bàu sinh sống. Họ chọn nghề nấu rượu làm kế sinh nhai. Lúc vua Lê Thánh Tông chiếm thành Đồ Bàn, người Chiêm bỏ chạy vào Thuận Thành, người Việt mình theo chân vua Lê vào đây lập nghiệp, rượu Bàu Đá càng được phát triển rộng rãi hơn và trở thành danh tửu của phủ nhà.

Trần Lâm nói:

– Nhưng rượu của họ Trần nhà cụ mới chính thống là rượu Bàu Đá nguyên thủy, do đó hương vị khác hơn hẳn những thứ Bàu Đá mà cháu đã từng uống qua.

– Rượu chúng tôi cất chỉ để cùng bạn tâm giao đối ẩm chứ không còn bán ra ngoài nữa.

[1]  Trích từ bộ “Phủ biên tạp lục” tập 3 phần 2 – Lê Quý Đôn.

[2]  Trích từ Trường thi Hòn Vọng Phu, Vũ Thanh, Nxb Trẻ 2012. Thanh Nguyên Võ Thanh Mỹ đề tặng.

……………

(xem tiếp vào ngày mai)