Kỳ 191:

…………

– Cây kiếm đó có gì quí mà khiến Đinh thúc phải bận tâm đến thế?

– Tương truyền đó là cây kiếm vô địch, có nó trong tay thì trăm trận trăm thắng. Ta nhìn thấy giang san nghiêng ngửa, nếu có cây kiếm kia trao vào tay người tuấn kiệt thì nhân dân mình sẽ không còn cơ cực như thế này nữa. Hà! Tiếc thật! Có lẽ số mạng của đám dân đen còn phải nếm trải nhiều khổ đau, chưa biết đến bao giờ mới qua khỏi.

– Chẳng lẽ không có kiếm thần, con người tự mình thay đổi không được ư?

– Được chứ, nhưng khó lắm! Vả lại ta còn chưa có cơ duyên tìm thấy người có thể xoay chuyển được vận mệnh này.

Trần Lâm im lặng một lúc rồi nói:

– Đinh thúc cứ tịnh dưỡng cho bình phục đã, mọi việc khác hãy tính sau. Xin cáo từ, hai người bảo trọng.

Tín Nhi hỏi:

– Lâm đại ca đi đâu?

– Ta chỉ lang thang đây đó xem địa linh nhân kiệt, cẩm tú sơn hà mà thôi. Chẳng có mục đích cố định nào cả.

Tín Nhi cười nói:

– Đợi sư phụ bình phục xong thế nào Tín Nhi cũng tìm đại ca để đi xem sơn hà cẩm tú. Hì hì…

Trần Lâm đánh tay với Tín Nhi cười:

– Nhất định thế nhé! Hẹn gặp lại!

Chàng chào hai thầy trò Hồng Liệt xong thả ngựa đi lên đỉnh Trưng Sơn đang đứng sừng sững như một cây bút chọc trời. Từ đỉnh núi cao, chàng thấy bờ nam bên kia dòng Côn Giang có dãy núi như hình nghiên mực, ở giữa là dòng sông Côn, nước từ trên nguồn trong dãy núi cao Vĩnh Thạnh đổ về cuồn cuộn, lấp lánh. Xa xa, núi non hùng vĩ trong thế “tả phù hữu bật”, quả là chốn địa linh vượng khí ngất trời. Chàng bỗng cất cao giọng ngâm vang giữa cảnh núi rừng tĩnh mịch:

Hà ngạn y y lục trúc

Côn Giang mãng mãng cức kinh

Phong, Nhã, Đàn Hương tuyệt tích

Oán ngôn mãn địa thao linh

Hồ!

Quốc phá tàn lê thứ

Gia vong thương đan tâm

Đông vọng. Thương hải mang mang vô hoàn bách

Tây quy. Địa linh minh chúa độn minh lâm

Tổ tổ hề! Bất di vương chí hồ vi cách

Bằng bằng hề! Lược thao cô nguyện mạc năng yên.

Ngã nhược túy mệnh ư cao sơn, mộng hồ thiên lý quyết.

Dịch nghĩa:

Bờ sông nào trúc xanh biếc sóng hàng thẳng tắp.

Mà bờ Côn Giang sao rậm rịt cỏ gai.

Thơ Phong, Nhã và mùi Đàn Hương không còn thấy đâu. (Trong Kinh Thư có hai thiên: thơ Phong là thơ dân dã. Thơ Nhã là thơ cung đình gồm Đại Nhã và Tiểu Nhã. Sau hai từ Phong, Nhã dùng chỉ văn chương thi phú hay người có nét đẹp văn thi).

Lời oán than đầy đất động đến vong linh tiên tổ.

Ôi! Đất nước tan hoang làm tổn hại dân lành.

Nhà mất làm đau tấm lòng son sắt.

Ngóng về đông, biển xanh mênh mông không có một chiếc thuyền nào quay về.

Hướng về tây, đất linh mà sao bóng chân chúa còn ẩn khuất trong rừng rậm thâm u (khoảng 5-7 năm sau chân chúa mới xuất hiện, đó là vua Quang Trung Nguyễn Huệ).

Hỡi các vị tổ, không truyền lại đời sau chí vương đạo thì lấy gì thay đổi cho tốt đẹp.

Ơi những người bạn vĩ đại (như những cánh chim Bằng), tài thao lược (tức Lục Thao của Trương Lương và Tam Lược của Hoàng Thạch Công) vì đâu chỉ mình ta đơn độc mang nguyện lớn mà không có sự kết minh.

Ta nay như say mệnh trên núi cao, mộng quyết thắng ngoài ngàn dặm.

Chợt đâu đó có tiếng ngâm sang sảng phụ họa với Trần Lâm:

Ngã duy cuồng ca vu hồ hải, lý lãng lung hoang lung

Hà!

Cấp cấp nhược Tứ, Kỳ.

Xung tiên như thiết thỉ

Bình cường diệt bạo, phóng nuy chiên.[1]

Dịch nghĩa:

Ta chỉ ca tràn trên sông nước, biển hồ, đạp sóng, thâu tóm vùng trời hoang (ý nói đời loạn, luân thường đạo lý bị phế bỏ…)

Hà! Gấp gáp như ngựa Tứ, ngựa Kỳ (những danh mã ngày xưa, ngày đi ngàn dặm).

Xông lên phía trước như mũi tên sắt. Tiêu diệt, dẹp bỏ những kẻ ỷ mạnh, tà ác, gỡ bỏ những khó khăn cho kẻ yếu.

Nghe giọng quen quen, Trần Lâm cất cao tiếng gọi:

– Có phải Tây Hắc Hổ đó không?

– Có phải Đông Bạch Long đó không?

Một con Bạch mã phóng nhanh lên đỉnh núi, trên lưng ngựa là một chàng thanh niên y phục toàn một màu đen. Đúng là chàng Lía. Hai bên gặp lại nhau tay bắt mặt mừng, nỗi vui không sao kể xiết. Thật là hữu duyên thiên lý! Lía nói:

– Kể từ cách biệt lòng ta lúc nào cũng nhớ đến Lâm huynh. Ôi, không ngờ hôm nay lại gặp nhau trên đỉnh núi cao này. Bấy nay tao ngộ thế nào?

Trần Lâm nói:

– Sau lần làm thủ hạ bại tướng của huynh tôi đã từ giã Cao gia trang lang thang hồ hải, nghe đồn vùng Tây Sơn kỳ sơn thủy tú nên ghé thăm. Nhìn cảnh núi non hùng vĩ, anh khí ngút trời mới sinh tình ngâm mấy câu thơ, không ngờ lại thu hút được huynh. Thật là kỳ ngộ!

– Mỗi năm ngày này tôi đều về núi Trưng Sơn để tế mộ mẹ và sư phụ.

Trần Lâm ngạc nhiên hỏi:

– Mộ của sư phụ và bá mẫu ở núi này à? Huynh đã tế mộ rồi chưa?

– Chưa, vừa đến đây nghe tiếng ngâm của huynh nên vội ứng tiếng rồi phóng ngựa chạy đến nơi.

– Nếu vậy tôi xin được theo chân anh để lạy bá mẫu một lạy.

Lía bèn dẫn Trần Lâm đến thăm mộ mẹ mình. Lía bày đồ tế lễ rồi sụt sùi vái lạy. Trần Lâm cũng lạy theo. Lễ xong hai chàng bày rượu ra uống. Vầng trăng mười sáu từ từ lên khỏi ngọn cây. Cả hai từ trên cao nhìn xuống cánh đồng Phú Lạc chạy dài qua tận Kiên Mỹ, dòng Côn Giang lấp lánh lượn quanh, cảnh trí đêm trăng đẹp vô cùng. Lía đưa tay chỉ cho Trần Lâm thôn Phú Lạc mờ mờ dưới chân núi nói:

– Đó là quê ngoại của tôi. Tôi đã lớn lên ở đó.

Nghe giọng nói của Lía đượm nỗi u buồn, Trần Lâm ướm hỏi:

– Tao ngộ nào đưa anh trở thành thủ lĩnh Truông Mây tận ngoài Hoài Ân?

Rượu lâng lâng, Lía bùi ngùi kể qua thân thế và chuyện của mình cho Trần Lâm nghe. Dứt lời chàng thở dài nói:

– Chúng tôi đã ăn cướp của hầu hết những nhà giàu trong hai phủ Quảng Ngãi và Quy Nhơn, kể cả kho lẫm của phủ Chúa nhưng không thể nào cứu được số dân nghèo đói đang đổ về đây ngày một nhiều.

– Hành động của các anh thật cao cả nhưng đó chỉ là những biện pháp vá víu tạm thời, không phải là kế sách lâu dài, mà bá tánh thì cần có một kế sách lâu dài, một sự thay đổi toàn triệt để có thể an cư lạc nghiệp.

– Kế sách ấy như thế nào?

Trần Lâm uống cạn chung rượu, đưa mắt nhìn ra xa nói:

– Bao nhiêu năm nay tên Quốc phó Phúc Loan đã làm loạn kỷ cương phủ Chúa, lại sưu cao thuế nặng, mua quan bán tước. Cả triều giờ toàn một bọn tham quan chỉ biết lo vơ vét của công, bóc lột bá tánh, dân tình đói khổ. Còn trung thần, nghĩa sĩ trong thiên hạ một số bị hãm hại, một số bỏ đi, ai ai cũng đều nghiến răng căm giận. Cả cái chính quyền nhà Chúa giờ như căn nhà mục, nếu có một lực lượng đứng lên, góp gió lại thành một cơn bão thổi vào thì căn nhà mục kia sẽ đổ quị.

Lía hỏi:

– Lực lượng nào có thể đứng lên tạo ra cơn bão đó.

– Bá tánh nghèo khổ, đó là một lực lượng vừa đông đảo, vừa có đủ những động lực thúc đẩy họ đứng lên chiến đấu để đánh đổ bạo quyền. Vì họ đấu tranh để tự cứu lấy chính mình nên họ sẽ hết lòng, hết sức mà hi sinh.

– Bá tánh tuy đông nhưng là những cá nhân lẻ tẻ, đến từ khắp bốn phương trời. Muốn tập hợp họ thành một khối là chuyện vô cùng khó khăn.

– Hiện nay bá tánh hai phủ Quảng Ngãi và Quy Nhơn ai cũng đội ơn các hiệp sĩ Truông Mây, nhất là Lía huynh. Chỉ cần huynh lên tiếng kêu gọi, tôi tin họ sẽ hưởng ứng hết sức mình. Huống chi, không chỉ bá tánh hai phủ này thôi, cả nước cũng đang ngóng chờ một sự thay đổi tận gốc rễ sự nghèo khó, bất công này.

Lía thở dài:

– Tôi biết việc mình đang làm chỉ là cách tạm thời trị bệnh ngoài da chứ không trừ được căn bệnh tận trong phế phủ. Nhưng cũng tự biết mình văn dốt, võ dát, không đủ lực để mưu cầu việc lớn nên đành ôm hận nhìn bá tánh điêu linh.

– Nếu huynh không chê, tôi nguyện sát cánh bên huynh để chung lo việc lớn.

Lía mừng rỡ nói:

– Được như vậy thì còn gì bằng! Từ lâu tôi nghe nói Tiểu Bạch Long trí dũng song toàn, được huynh đứng ra lo liệu, Lía tôi dù nát thân cũng không từ.

Cả hai người nhìn nhau bỗng cùng bật ra nói:

– Chúng ta kết nghĩa đệ huynh, nên chăng?

Và cả hai cùng bật cười ha hả. Lía nói:

– Không ngờ hai ta lại cùng có ý tưởng đó. Số trời đã định, chúng ta còn chờ gì mà không làm lễ kết bái anh em ngay đêm nay?

Hai chàng bèn giả bày bàn hương án, dưới ánh trăng cùng nhau cắt máu ăn thề, nguyện đồng sinh đồng tử một lòng cứu nước cứu dân. Lía sanh năm Canh Thân, lớn hơn Trần Lâm sáu tuổi nên làm đại ca. Trần Lâm khi biết tuổi Lía thuộc mạng Thạch Lựu Mộc thì thầm nghĩ: “Lía huynh thuộc mạng Mộc, là tướng tinh của sao Giác Mộc Giảo như sư phụ đã nói chăng?” Điểm lại những việc xảy ra trong vòng hai ba ngày nay, những cơ duyên đưa đẩy khiến chàng sở hữu được hai bộ binh pháp quí hiếm, lại tình cờ gặp và kết nghĩa anh em với nhân vật anh hùng số một của thời đại, tất cả khiến chàng cảm thấy phấn khởi vô cùng. Chàng cho rằng cơ duyên đã hội đủ để có thể thực hiện lời thề xưa. Đêm đó rượu say, hai chàng hiệp sĩ gác chân lên nhau nằm ngủ dưới trăng.

Thật là:  Cho hay thanh khí tương hòa

             Bèo mây gặp gỡ cũng là tri âm.

[1]  Trích Trường thi Hòn Vọng Phu, Vũ Thanh, Nxb Trẻ 2012. Phiêu Thạch Ba đề tặng.

…………..

(xem tiếp vào ngày mai)