Kỳ 193:

………..

Mọi người đều lên tiếng đồng ý. Trần Lâm bèn rút trong túi áo ra một bảng quân lệnh đưa lên cho mọi người xem. Lía bảo Tiểu Muội đọc lớn cho mọi người cùng nghe. Tiểu Muội cầm tờ quân lệnh đọc:

– “Bảng quân lệnh và cách thưởng phạt trong quân:

Nghe trống không tiến, nghe chiêng không lùi, phất cờ không dậy, ngã cờ không phục, đó là tội bội quân, phải chém.

Gọi đến không thưa, lúc điểm quân vắng mặt, sai hẹn, trễ nải, đó là tội mạn quân, phải chém.

Đêm nghe hiệu mõ không báo lại, giờ canh bỏ vắng, khẩu hiệu nói sai, cứng cổ khó răn, đó là tội hoạnh quân, phải chém.

Đem oán hờn rêu rao trong quân sĩ, nói xấu chủ tướng, không tuân mệnh truyền, đó là tội khi quân, phải chém.

Giáo gươm không sắc, cờ hiệu thất lạc, cung để đứt dây, tên bỏ mất cánh, đó là tội thất thoát, phải chém.

Bạ nói bạ cười, không tuân lệnh cấm, rượu chè be bét, tiết lộ quân cơ, đó là tội khinh quân, phải chém.

Đi đến đâu quấy nhiễu dân sự, hãm hiếp đàn bà, đó là tội gian quân, phải chém.

Đặt chuyện điêu ngoa ma quái làm loạn lòng quân, đó là tội ngoa ngữ, phải chém.

Lấy tài sản người làm của mình, lấy công người làm công của mình, đó là tội đạo quân, phải chém.

Lúc hành quân không chú ý để lạc hàng ngũ, trái hiệu lệnh là tội loạn quân, phải chém.

Giả ốm đau, lánh nặng tìm nhẹ, đó là tội trá quân, phải chém.

Không biết thương yêu, giúp đỡ đồng đội, để giặc uy hiếp mà không tiếp cứu là tội tệ quân, phải chém.

Mười hai điều cấm trên, kẻ nào vi phạm, chiếu đó xử trị.”

Tiểu Muội đọc xong thì ai nấy đều lắc đầu le lưỡi vì sự nghiêm túc của các điều luật. Lía cười ha hả nói:

– Lâm đệ thật tài trí! Mười hai điều quân luật này nếu răm rắp thi hành thì đạo nghĩa binh Truông Mây sẽ là một đạo binh hùng mạnh vô cùng. Tôi đồng ý cả mười hai điều quân luật này.

Tất cả cũng tỏ ý tán đồng. Trần Lâm lại nói:

– Đó là quân luật. Bây giờ chúng ta cần cải tổ lại các trại, chiêu mộ thêm nghĩa quân, sau đó luyện tập binh lính. Tôi căn cứ theo sách “Binh thư yếu lược” của Hưng Đạo Vương, tùy theo khả năng của từng nghĩa binh mà chia thành chín đạo binh đặc biệt như sau:

“Cảm tử quân: Gồm những người độc thân, gan dạ đã từng bị xã hội ruồng bỏ, coi triều đình, quan lại như kẻ thù. Đội binh này dùng trong những việc nguy hiểm, khó khăn, có thể bỏ mạng nhưng mang tính quyết định cho trận đánh.

Khinh kỵ quân: Chọn những người nhanh nhẹn, có thiện nghệ bắn cung và chuyên sử dụng khí giới dài như đại đao, trường kiếm, trường thương, câu liêm thương… Quân khinh kỵ chuyên dùng vào những đợt tấn công xuất kỳ bất ý, đánh địch không kịp trở tay hoặc gây rối loạn hàng ngũ địch bằng những cuộc tấn công chớp nhoáng rồi rút lui.

Thám báo quân, cũng gọi là du binh: Gồm những người có khinh công mau lẹ và có biệt tài về dò thám tin tức địch. Chú ý ghi chép cẩn thận địa hình địa vật một cách chính xác phòng khi hành quân. Lại cho nuôi chim bồ câu để liên lạc.

Quân công thành, phá trận: Gồm những người khỏe mạnh, leo trèo giỏi, có thể vượt tường, leo thành. Dùng mây làm nón và áo giáp mây cho họ để phòng tên địch bắn khi công thành. Chế những chiếc thang cao nhưng có thể gấp ngắn lại để tiện khi di chuyển, có hiệu quả khi công thành.

Quân thủy chiến: Gồm những người có tài bơi lặn, giỏi bắn cung và đánh xáp lá cà. Cho đóng một số thuyền nhẹ dùng trên sông nhỏ.

Hỏa quân: Quân này thiện dụng hỏa công để đốt giặc. Cho chế những vật dễ cháy như dầu trảu, hùng hoàng, lưu hoàng…

Xa quân: Đội quân này trang bị áo giáp và khiên mộc bằng mây để có thể đi đầu đỡ tên đạn cho quân bộ tiến lên hoặc cản hậu cho quân bộ rút lui. Phải chọn những người khỏe mạnh, gan dạ.

Thân quân: Gồm những kẻ thân tín theo tùy tùng để bảo vệ chủ tướng.

Bộ quân: Số còn lại sung vào quân bộ, cho tập hợp thành đội ngũ chỉnh tề, chia làm ba toán: tiền, trung, hậu. Tập cách tiến lui theo hiệu lệnh, học cách lấy đầu làm đuôi, lấy đuôi làm đầu. Tấn công và tháo chạy theo hàng ngũ, trật tự. Số quân này chia thành bốn đạo do bốn đầu lĩnh của bốn trại chỉ huy.”[1]

Đến đây, Trần Lâm mới nói với mọi người:

– Các trại chủ phải có các cuộc khảo thí để tìm ra người thích hợp tuyển vào chín đạo binh này. Sau đó cách luyện tập sẽ theo phép: một tập cho mười, mười tập cho trăm, trăm tập cho ngàn.

Sau cuộc họp với các thủ lĩnh, Lía cho tập hợp tất cả nghĩa binh trong trại lại để tuyên bố ý định của Truông Mây. Chàng nói lớn:

– Anh em Truông Mây nghe đây! Từ lâu chúng ta đã bỏ công ăn cướp của nhà giàu và tham quan để cứu bá tánh, nhưng đó chỉ là việc vá víu tạm thời, bá tánh ngày một đói khổ hơn. Kể từ hôm nay, chúng ta sẽ thay đổi cách hành động, cùng đi vào tổ chức để trở thành một đạo binh vững mạnh, tích thảo đồn lương chờ ngày đủ điều kiện sẽ đứng lên đánh đổ tên Quốc phó, lập lại trật tự, mang lại cơm no áo ấm dài lâu cho đồng bào chúng ta. Anh em có đồng ý không?

Cả trại hơn năm trăm nghĩa quân nghe nói đều hồ hởi giơ tay lên cao nói:

– Đồng ý! Chúng tôi nguyện theo dưới cờ khởi nghĩa của thủ lĩnh đại ca.

Lía nói tiếp:

– Tốt lắm! Từ nay, mọi việc tổ chức trong trại đều được đặt dưới quyền chỉ huy của ngũ đệ Trần Lâm, vị quân sư tài ba của chúng ta. Chúng ta đã có bảng quân lệnh rõ ràng, anh em hãy đọc và ráng giữ mình. Quân pháp bất vị thân, anh em hãy nhớ lấy.

Trần Lâm cho dán bảng quân lệnh và cáo thị tổ chức thi chọn nhân tài ở nhiều nơi trong trại để mọi người cùng đọc. Sau đó chàng cho mở các cuộc thi tài để chọn người làm đội trưởng (10 người), toán trưởng (50 người), cơ trưởng (100 người), binh trưởng (500 người). Mỗi trại tuyển ra mười người để tham gia.

Sau cuộc tranh tài, chàng cho thành lập các đạo binh như đã kể trên. Từ đó huấn luyện về cả lí thuyết lẫn thực hành cho các binh, cơ, toán, đội trưởng trước. Khi họ đã thông hiểu, chàng cho về để luyện tập lại cho quân sĩ trong toán của mình. Chàng cùng các đầu lĩnh quan sát, chỉ điểm thêm những thiếu sót. Hẹn tất cả trong vòng ba tháng sẽ được khảo thí. Lúc đó thì các hiệu lệnh phải được thi hành nghiêm túc như đang ra trận.

Vì điều kiện non trẻ của nghĩa binh, các cuộc chuẩn bị, tập dợt đều được thực hiện bí mật để tránh tai mắt quan binh. Trong thời gian đó, Trần Lâm cho người xuống Nhơn Thành mời Lưu Phương Tích lên nhập trại. Chàng giao cho Phương Tích công việc soạn thảo các tờ lệnh, văn thư.

Ngày phúc khảo, tất cả tập trung theo đội ngũ của mình. Tám đạo binh đặc biệt cùng bốn trại bộ binh xếp hàng tề chỉnh trong sân diễn võ trước trại trung ương.

Lía đọc bài hịch văn tuyên bố mục đích trừ bạo cứu dân của nghĩa binh Truông Mây do Lưu Phương Tích soạn ra. Ý của bài hịch văn là mong nghĩa binh trên dưới một lòng vì dân vì nước mà hi sinh để đạt đến thành công cuối cùng. Tiêu diệt cường quyền, đem lại cơm no áo ấm và hạnh phúc cho dân nghèo. Nghĩa binh hoan hô vang dậy, hào khí ngất trời. Trần Lâm bước ra nói lớn:

– Anh em nghe đây! Lần duyệt binh này tất cả phải xem như đang lúc lâm trận, kỹ thuật và kỷ luật phải được nghiêm túc chấp hành. Đạo binh nào làm tốt sẽ được tuyên dương, đạo nào thiếu sót sẽ bị phạt. Các quân lệnh đã bố cáo phải được chấp hành một cách nghiêm túc. Đừng để có điều đáng tiếc xảy ra.

Lần lượt các đạo binh ra trước thao trường để diễn tập thao tác cơ bản hành binh cũng như các thao tác chuyên môn của mình. Trong đội cảm tử có một tên tỏ ý khinh lờn không tuân đúng theo hiệu lệnh của chủ tướng, Trần Lâm chiếu theo điều số một trong quân lệnh trạng là tội bội quân, bèn đem ra chém tại chỗ. Đến toán bộ binh của Lam Tiểu Muội, một nữ binh vốn được Tiểu Muội thương yêu trong lúc thao diễn bỗng bật cười thành tiếng khi thấy mình làm khác đi so với đồng đội. Chàng lại sai đem chém vì tội khinh quân. Cả trại thấy hai người bị chém một lúc đều sợ đến xanh mặt. Từ đó, kỷ luật trong quân được mọi người thi hành nghiêm chỉnh. Hiệu lệnh như sơn, quân uy sắt thép.

Sau sáu tháng ráo riết tập luyện những điều cơ bản cho một đám người ô hợp trở thành một đạo binh có thể ra chiến trường tác chiến, Trần Lâm bắt đầu cho quân ban ngày đi khai phá rừng rẫy canh tác để tự cung lương thực, đêm về tập luyện võ nghệ và các kỹ thuật chuyên môn. Chàng lập ra một toán chuyên về quân nhu, quân dụng, lương thực; lại cho lập lò rèn đúc binh khí, dùng loại cây xà xử vừa dẻo vừa cứng có nhiều ở vùng núi để làm cán giáo, cán thương…

Để tuyển mộ thêm nghĩa quân, chàng chọn ra mười nam, mười nữ binh có tài ăn nói, lanh lợi và phong thái đàng hoàng, dạy thêm võ nghệ rồi cho đi khắp nơi chiêu mộ người. Việc chiêu mộ nằm trong vòng bí mật. Ưu tiên nhắm vào những người mạnh khỏe, cùng khốn, ăn mày, bị triều đình bạc đãi, tù tội hoặc những người có học nhưng bất mãn chế độ… Toán này do Lam Tiểu Muội cầm đầu. Chàng đặt ký hiệu riêng cho từng người để có thể biết được ai trong toán là người tuyển mộ được nhiều nghĩa binh lên trại mà có chế độ khen thưởng. Hẹn ba tháng một lần, cả toán phải trở về Truông Mây để báo cáo tình hình ở địa phương mình hoạt động. Việc tuyển mộ chủ yếu lấy người từ sông Trà Khúc vào đến đèo Cù Mông.

[1]  Bảng quân luật và các binh chủng dựa theo “Binh thư yếu lược” của Trần Hưng Đạo.

……….

(xem tiếp vào ngày mai)