Kỳ 195:

…………

Hồi thứ ba mươi hai

Đao vô ảnh Thiên Tường báo thù cha

Tặng thần kiếm liên minh bản Đá Vách

*

Hôm sau, Lía, Trần Lâm và một thủ hạ thân tín của Lía tên Triệu Thiên Tường lên đường đi bản Đá Vách. Họ dùng ngựa đi xuyên qua núi An Lão, theo đường thượng đạo để đến Thạch Bích Sơn. Mấy đời Chúa Nguyễn từ khi vào Nam, vì đường liên trạm chính dưới đồng bằng tuy tiện lợi nhưng lại gặp nhiều sông lớn nên đã cho mở thêm con đường thượng đạo này. Đường chạy dọc theo miền núi từ Nghệ An vào Tây Sơn thượng, nối dài đến tận Diên Khánh. Con đường này cũng giúp cho việc giao lưu, trao đổi hàng hóa giữa người Kinh và người Thượng hay người Man trên các miền cao được thuận lợi hơn.

Dọc đường, Lía bỗng lên tiếng:

– Lâm đệ này, cô Tiểu Hồng họ Cao ở Quy Nhơn vừa xinh đẹp, phúc hậu, tài hoa lại vừa giàu có nữa. Hình như cô ta có mối cảm tình đặc biệt với đệ phải không?

Trần Lâm ngạc nhiên:

– Sao đại ca biết nàng có cảm tình đặc biệt với đệ?

– Hôm đó khi đệ sẩy chân, chỉ nghe tiếng la hoảng của nàng, ta đã đoán ra rồi. À này, sao đệ lại bỏ nơi phúc ấm đó mà đi vậy? Không có chút rung động nào với mỹ nhân ư?

Trần Lâm thở dài nói:

– Vì đệ còn mắc một lời thề. Chừng nào chưa làm nên công trạng gì thì chưa thể vướng víu những ân tình nhi nữ.

– Quả là trang nam tử! Thảo nào đệ vì việc Truông Mây mà không một phút giây ngơi nghỉ. Đáng tiếc đại ca ngu dốt, không thể nào đỡ đệ một tay được. Thật là vô dụng!

– Đại ca đừng nói vậy. Cái hữu dụng của đại ca còn lớn hơn của đệ gấp nhiều lần. Đại ca thử nghĩ xem, không có đại ca thì có Truông Mây ngày nay không?

Triệu Thiên Tường giờ mới lên tiếng:

– Đúng vậy!

Lía cười ha hả, quay sang Thiên Tường:

– Cả tên câm này cũng biết lên tiếng đồng ý nữa ư? Ha ha, các người đừng có hùa nhau cho người đại ca này ăn bánh vẽ đó nhé.

Trần Lâm đổi đề tài câu chuyện:

– Đại ca năm nay cũng lớn tuổi rồi, đã đến lúc Truông Mây phải có một áp trại phu nhân. Đại ca nghĩ có phải không?

Thiên Tường lại lên tiếng:

– Đúng vậy!

Lía lại cười ha hả, tiếng cười vang động cả núi rừng:

– Làm trai chỉ sợ không xong việc lớn, lo gì không có đàn bà.

Trần Lâm bỗng lên tiếng gọi Lía:

– Đại ca, tiểu đệ có điều này cần xin lỗi với đại ca.

Lía ngạc nhiên hỏi:

– Đệ có lỗi gì với ta mà phải xin lỗi?

– Đệ chưa nói với đại ca là cha của đệ hãy còn sống.

– Thế à? Thật là đáng mừng! Chúc mừng đệ! Thúc thúc bây giờ ở đâu? Sao lâu nay đệ không đưa người về đây sống với chúng ta?

– Đệ có một nỗi khổ tâm riêng nên thời gian qua chưa dám về gặp cha. Nhưng sau khi việc ở Đá Vách hoàn thành, đệ sẽ trở về tìm người.

– Nên lắm! Nhưng nỗi khổ tâm đó đại ca có thể chia sớt được không? Nếu đệ không muốn nói cũng không sao. Đại ca chỉ quan tâm đến đệ mà thôi.

Trần Lâm đưa mắt nhìn xa xăm như hồi tưởng lại cái dĩ vãng đau buồn, một lát sau chàng kể:

– Đệ có một đứa em gái rất xinh và rất ngoan, vì mẹ mất sớm nên hai anh em thương nhau lắm. Năm đệ mười tuổi, đệ đã lỡ tay làm chết đứa em gái của mình. Vì sợ cha bắt tội nên đệ đã bỏ nhà đi. Cha đệ xuất thân là võ tướng, chí thì cao nhưng sinh bất phùng thời nên quan trường lận đận, võ tướng trở thành điếu đồ nam hải. Do đó, người đã dạy dỗ anh em đệ nghiêm khắc lắm. Trong một phút thiếu suy nghĩ, đệ đã trốn lên đoàn thuyền buôn của chú Lê Trung đang từ Thuận An đi vào Quy Nhơn. Từ đó đệ lênh đênh hồ hải, vừa lo sợ vừa hối hận nên đã lập lời thề là ngày nào còn chưa thành danh để bù đắp phần nào lỗi lầm xưa thì chưa về gặp mặt cha.

Lía gật gù tỏ vẻ thông cảm:

– Thảo nào… Không ngờ gia đình đệ lại có những chuyện đắng cay như thế. Nhưng không đắng cay sao thành anh hùng được phải không? Như Tường đệ đây, cảnh ngộ của hắn cũng thê thảm chẳng kém gì đệ.

Trần Lâm nhìn sang Thiên Tường:

– Từ lâu thấy đệ rất kiệm lời, suốt ngày trầm mặc, huynh cũng đoán ra có lẽ là đệ đã phải trải qua những nghịch cảnh trong đời. Huynh có thể chia sẻ cùng đệ không?

Lía nói:

– Chia sẻ cùng hắn thì được thôi, nhưng bắt hắn mở miệng kể thì không xong đâu. Để đại ca thay hắn kể cho Lâm đệ nghe vậy.

Thiên Tường ậm ừ:

– Cảm ơn đại ca.

Ba con ngựa chầm chậm lúc leo dốc khi xuống đồi và giọng Lía cũng vang lên kể đâu đuôi lại chuyện của người cận vệ của mình.

Thiên Tường vốn con nhà giàu có, cha là Triệu Dõng xuất thân nghèo khó nhưng lại có hai bàn tay tuyệt khéo, đặc biệt là điêu khắc, chạm trổ trên đồ gỗ nên được nhận làm thợ chính cho một trang trại gỗ ở gần huyện thành Phù Ly. Nhờ hai bàn tay khéo léo của Triệu Dõng mà các mặt hàng bàn ghế, tủ thờ… của trang trại gỗ làm ăn rất phát đạt, danh tiếng khắp cõi Nam hà. Trại chủ là Lê Lập vốn thuộc dòng dõi Lê Bang, con rể tướng Lê Sát, một đại công thần nhà Lê. Sau Lê Sát vì lộng quyền bị vua Lê Thái Tông xử tử, Lê Bang bị đày đi biệt xứ, con cháu lưu lạc vào vùng Phù Ly lập nghiệp. Tính đến Lê Lập thì nay đã tám đời. Lê Lập vốn người nhân đức nhưng hiếm muộn con. Khi sinh được đứa con gái duy nhất là Lê Ngọc Loan thì năm năm sau vợ ông ta mất. Ngọc Loan càng lớn càng xinh đẹp, Lê Lập quý nàng như ngọc, thấy Triệu Dõng giỏi giang hiền lành nên gả Ngọc Loan rồi giao cho trông coi việc kinh doanh của trang trại. Hai năm sau họ sinh ra Thiên Tường, khi cháu ngoại được ba tuổi thì Lê Lập mắc bệnh qua đời. Triệu Dõng chính thức thừa hưởng gia sản của nhà vợ.

Triệu Dõng có một người bạn cùng quê tên Nguyễn Dao, chơi thân với nhau từ bé. Dao là người lanh lợi, có tham vọng nhưng vì nghèo lại không gặp thời nên luôn đụng phải cảnh trớ trêu, thất bại. Hắn thường trách trời cao và tỏ ý không cam tâm. Có một dạo hắn bỏ đi theo một người Tàu mãi võ kiếm sống và được chân truyền các môn quyền cước, kiếm pháp từ người thầy Tàu này. Sau ba năm lưu lạc hắn lại tay trắng trở về, chỉ được một thân võ nghệ. Triệu Dõng được cha vợ giao cho trông coi trang trại, ông đã tìm cách giúp Dao mở một cửa hàng bán đồ gỗ gia dụng. Công việc của Dao tiến triển tốt đẹp khiến mối giao tình giữa hai người càng trở nên khăng khít. Họ coi nhau như anh em ruột.

Không may, một hôm cả cửa hàng của Dao bị hỏa hoạn, bao nhiêu đồ gỗ bị thiêu rụi thành tro. Dao trở thành trắng tay, chưa kể đến số nợ tiền hàng đã lấy từ trang trại của Dõng. Thương bạn, lúc ấy Lê Lập cũng đã qua đời, Triệu Dõng bèn kêu Dao về ở luôn nơi trang trại để giúp mình quản lý mọi việc. Mỗi ngày cứ đến tối là hai người thường ngồi lại với nhau uống vài chung rượu để thảo luận công việc kinh doanh. Dõng quen với sở thích của cha vợ, thích uống rượu Bàu Đá loại một ở sông Côn ngâm thuốc bắc và côn trùng. Rượu được ngâm trong bình lớn, giấu dưới hầm lâu năm, mỗi lần trích ra vào bình nhỏ đủ để uống trong bảy ngày.

Cửa hàng thuốc Bắc nằm gần cửa hàng đồ gỗ của Dao lúc trước, do một người Hoa làm chủ, là chỗ quen biết vì đã cung cấp thuốc Bắc cho nhà họ Lê từ nhiều năm nay. Qua chủ tiệm thuốc Bắc, Dao có quen một số thương nhân người Hoa từ Trung Quốc sang. Một trong số đó có tên rất rành về độc dược. Dao gạ gẫm và nhờ tên đó mua cho hắn một số độc dược đặc chế ở Miêu Cương, có độc tính cao nhưng phát tán chậm.

Một hôm có công việc phải giao cho Nguyễn Dao đi xa. Trước khi đi, hắn đã lén bỏ thuốc vào bình rượu đã trích ra rồi mới lên đường. Triệu Dõng vẫn giữ thói quen uống rượu hàng đêm của mình. Một tuần sau, bình rượu vừa hết, Triệu Dõng thay bình khác thì chất độc cũng bắt đầu phát tác. Cơ thể ông bải hoải như mất hết khí lực, không thiết ăn uống, tim đập yếu dần rồi từ từ hôn mê. Ngọc Loan chạy chữa hết cách nhưng sau hai tuần, Triệu Dõng qua đời. Các thầy thuốc đều cho rằng ông bị ngộ độc nhưng là độc gì thì họ không biết. Khi Nguyễn Dao xong việc ở xa về, hay tin Triệu Dõng chết, hắn ôm thây kêu gào thảm thiết khiến ai nấy đều cảm động. Triệu Thiên Tường theo đám tang chôn cha mình lúc cậu mới mười tuổi. Từ đó, mọi việc kinh doanh giao vào một tay Nguyễn Dao coi sóc, vài ba ngày hắn lại tìm gặp Ngọc Loan để báo cáo công việc.

……….

(xem tiếp vào ngày mai)