Kỳ 198:

……….

Lía kể đến đây bỗng cười lớn rồi nói:

– Lúc ấy ta thật tức giận tràn hông, liền nói với Trương Tam: Tên Nguyễn Dao này ta đang định ghé thăm hắn một chuyến vì biết hắn là tay gian hùng, nay hắn chết rồi cũng thật đáng tiếc. Còn tên tham quan Hoàng Công Đức tiếng ác đã nhiều, phen này ta không cho hắn biết lợi hại của Truông Mây thì ta không phải là Lía!

Đúng hôm Thiên Tường bị đem ra xử chém, người ta thấy có nhiều tốp người lạ mặt xuất hiện. Bọn họ có nhóm giống như khách buôn, có nhóm như thợ rừng và cũng có nhóm ăn mặc rách rưới như ăn mày. Họ chia nhau đứng trà trộn trong đám dân thường quanh pháp trường. Đến giờ tuyên án, quan chấp án vừa đọc án văn xong hô “trảm”, tên đao phủ giơ thanh đại đao nhắm cổ Thiên Tường chém xuống. Nhưng đao đương đà xuống tới nửa chừng thì tay hắn bỗng xụi lơ vì có một mũi tên từ đâu xé gió lao thật nhanh đến cắm phập vào cánh tay cầm đao của hắn. Cùng lúc đó, khắp nơi tiếng hò reo vang trời, bọn người lạ mặt xông vào pháp trường, kẻ tấn công quan binh, người chạy vào mở trói cho Thiên Tường rồi cõng cậu chạy lẫn vào đám đông hỗn loạn mất dạng. Tên quan xử án mặt không còn chút máu chui trốn dưới gầm bàn. Khi mọi việc đã xong, đám đông giải tán, hắn mới chui ra la hét bọn quan binh đang u đầu sức trán. Hắn lệnh phải rượt theo cướp lại tên tử tù bằng được.

Việc bọn Truông Mây cướp pháp trường cứu tử tội làm chấn động cả phủ Quy Nhơn. Hoàng Công Đức năn nỉ Tuần phủ Nguyễn Khắc Tuyên lo lót với quan trên để khỏi bị khiển trách. Cái dù che cái cán, mọi việc rồi cũng êm xuôi. Gia tài họ Lê cùng nàng Quỳnh Dao xinh đẹp sau cùng cũng lọt vào tay quan Trấn thủ.

Giọng Lía còn chưa hết vẻ bùi ngùi:

– Đó là chuyện của Thiên Tường do Trương Tam kể lại. Từ đó đến nay hắn cùng Trương Tam ở lại Truông Mây. Nhưng hắn dường như đã biến thành tên câm, nghe được tiếng nói của hắn còn khó hơn được nghe tiếng ông trời gầm. Tuy nhiên, trên giang hồ, hắn lại vang danh là Thiên hạ Đệ nhất Vô ảnh Phi đao.

Nói xong chàng lại bật cười ha hả. Tiếng cười sang sảng vang khắp núi rừng. Vọng âm khi dội lại mang theo một chút gì đó vừa bi thương vừa hùng tráng. Nó bi và hùng như hình bóng của ba chàng nghĩa sĩ Truông Mây đang in giữa cảnh hùng vĩ và u tịch của rừng núi Tây Nguyên vậy.

***

Núi Đá Vách hay Thạch Bích Sơn nằm ở phía tây Quảng Ngãi, thuộc phía đông nam huyện Sơn Hà, phía tây của đường thượng đạo. Đây là địa bàn cư trú của các dân tộc như: Kor, Ktu, Ba Na, Xơ Đăng… nhưng nhiều nhất vẫn là người H’rê.

Bấy giờ, tù trưởng bản Đá Vách là H’Phon, một người đàn ông lực lưỡng tuổi khoảng bốn mươi, mặt vuông trông hùng dũng, tính nóng nảy nhưng thẳng thắn. Đến bản Đá Vách, bọn chú Lía đã được H’Phon tiếp đón trong ngôi nhà làng, một gian nhà sàn dài. Ngoài H’Phon, còn có các nhân vật chủ chốt khác như già làng, một cụ già tóc đã bạc phơ chuyên coi sóc việc cúng tế thần linh cho bản và một người phụ tá của tù trưởng cùng bốn dũng sĩ nữa. Vì danh chàng Lía Truông Mây đã quen thuộc với các buôn làng miền núi nên tù trưởng H’Phon và cả dân bản Đá Vách cũng chẳng lạ gì, vì vậy họ tiếp đón bọn Lía rất ân cần. Tuy nhiên, trên gương mặt mọi người đều lộ ra vẻ lo lắng, không vui. Trần Lâm nghĩ thầm trong bụng, cho rằng trong bản chắc là đang có sự cố gì đó. Chàng lên tiếng hỏi:

– Dường như các ông đang có chuyện không vui thì phải?

Già làng lên tiếng:

– Người con gái duy nhất của tù trưởng, cô tiên nữ của bản chúng tôi, đang mắc một chứng bệnh kỳ lạ mà cả bản không sao hiểu được. Chúng tôi đã thuốc thang đủ loại, cầu đảo thần linh nhiều ngày mà bệnh nhân vẫn cứ mỗi ngày một suy nhược hơn. Nay đã hơn nửa tháng rồi. Ôi đấng thần linh vô thượng!

Trần Lâm nghe chuyện động tính hiếu kỳ hỏi H’Phon:

– Tôi có thể đến thăm tiểu thư được không?

Tù trưởng mau mắn:

– Được chứ! Xin mời!

Rồi ông đưa mọi người về nhà ông cách đó không xa. Thiếu nữ tên H’Linh tuổi khoảng mười lăm, nét mặt xinh đẹp nhưng đã tiều tụy và ẩn hiện một làn hắc khí. Nàng đang nằm thiêm thiếp trên giường, trong một căn phòng nhỏ. Ngồi bên cạnh giường bệnh là một mỹ phụ trung niên, vợ của tù trưởng H’Phon. Thấy mọi người vào, bà vội đứng dậy cúi chào. H’Phon giới thiệu:

– Đây là mẹ của H’Linh, phu nhân tôi, cũng là người Kinh như các ông đấy. Tên nàng là Linh Phương.

Cả bọn Lía đồng thanh lên tiếng:

– Xin chào phu nhân!

Trần Lâm hỏi bà ta:

– Tình hình tiểu thư thế nào? Tôi xin phép được xem mạch cho tiểu thư.

Linh Phương cúi nhẹ đầu:

– Hiệp sĩ cứ tự nhiên. Cháu đã mê man như thế từ hôm qua.

Trần Lâm nhìn khí sắc và bắt mạch xong thì biết ngay là nàng đang trúng phải một loại độc kỳ lạ, nó làm cho khí lực bệnh nhân ngày càng suy kiệt. Chàng nhìn quanh phòng, quan sát thấy bốn bức vách chung quanh được đóng bằng những tấm ván gỗ dày, kín để tránh gió lạnh mùa đông. Hai bên hông là cửa sổ được phủ rèm kín bưng. Trong hai góc phòng bên giường nằm có kê hai cái tủ, một tủ quần áo và một tủ đựng vật dụng linh tinh của phụ nữ.

Trần Lâm nói với tù trưởng và mọi người:

– Tiểu thư đã trúng độc của một loại rắn tên Độc hỏa xà. Loài rắn này sắc đỏ, không lớn nhưng nọc độc vô song, cắn người thì hết chữa. Nó lại rất thích hút âm khí toát ra vào ban đêm từ người các thiếu nữ. Tiểu thư đang bị loại rắn này hàng đêm vừa hút âm khí vừa nhả độc ra nên mới ngộ độc và suy nhược dần. Nếu để một thời gian nữa thì sẽ bó tay, vô phương cứu chữa.

Mọi người nghe nói, ai nấy đều kinh ngạc. Tù trưởng hỏi:

– Độc hỏa xà à? Có cách nào chữa được không? Con rắn đó hiện giờ đang ở đâu?

– Chữa được, nhưng phải bắt được nó trước đã. Tôi nghĩ nó đang ở dưới một trong hai cái tủ kia. Có điều loại rắn này cực kỳ nguy hiểm vì chúng tấn công nhanh như tia chớp, khó lòng mà bắt được, có khi mất mạng như chơi với nó.

Một dũng sĩ trong bản tên A Nun lên tiếng:

– Không lo gì, vì H’Linh tôi sẽ bắt con rắn đó cho.

Trần Lâm quay nhìn chàng dũng sĩ:

– Đây không phải là việc đùa, vì nếu để con rắn đó trốn đi thì không còn cách nào cứu chữa cho tiểu thư được nữa. Bởi vậy tôi mạn phép được thử tài nhanh nhẹn và chính xác của tráng sĩ trước, xin thông cảm cho sự thất lễ này.

A Nun nhún vai:

– Thử bằng cách nào?

– Nếu tráng sĩ có thể bắt được ngọn phi đao của huynh đệ tôi đây thì mới có thể bắt rắn được.

A Nun cười tự phụ:

– Cứ thử đi!

Trần Lâm bảo Thiên Tường bẻ mũi nhọn của phi đao. Tường bẻ xong đưa bàn tay có ngọn phi đao cùn ra nói với A Nun:

– Tráng sĩ chú ý nhé, tôi ra tay đây.

A Nun thủ thế, mắt chăm chú nhìn ngọn đao nói:

– Tự nhiên!

Thiên Tường vung tay. A Nun vừa chợp nhích tay thì ngọn phi đao được phóng ngược nên cán đao đã trúng ngay giữa ngực hắn. Bọn người bản Đá Vách đồng ồ lên kinh ngạc:

– Thật nhanh không thể tưởng tượng được. A Nun được coi là người nhanh tay nhất bản chúng tôi đấy.

A Nun bấy giờ mới hoàn hồn, hắn nghĩ nếu ngọn phi đao này dùng để giết hắn thì hắn đã hết đời rồi. Hắn cúi đầu nói:

– A Nun thật sự khâm phục và không dám xin bắt rắn nữa.

A Nun vốn là đứa trẻ mồ côi người Êđê ở KonTum được già làng mang về nuôi. A Nun càng lớn càng khôi ngô. Hắn thông minh lại chăm chỉ luyện tập võ nghệ cho nên mới mười tám tuổi hắn đã trở thành người vô địch trong kỳ thi võ của bản Đá Vách. Già làng và H’Phon cùng mọi người trong bản đều thương yêu và rất coi trọng hắn.

Trần Lâm vui vẻ nói:

– Xin lỗi tráng sĩ, chúng tôi chỉ vì sự an nguy của tráng sĩ mà thôi. Thật sự con Độc hỏa xà cũng nhanh chẳng kém gì ngọn phi đao kia đâu.

Rồi chàng quay sang tù trưởng hỏi:

– Ở đây có cây ngải cứu và hùng hoàng không? Tôi cần một cây và một ít hùng hoàng để dụ con rắn ra.

Tù trưởng mau mắn:

– Có!

Rồi quay sang bảo một tên dũng sĩ đi lấy. Trần Lâm lại nói:

– Bây giờ phải khiêng chiếc giường của H’Linh ra ngoài cũng như dọn dẹp hết các đồ vật linh tinh trong phòng, trừ hai cái tủ.

Chàng quay sang hỏi Lía:

– Đại ca có thể bắt được ngọn phi đao của Tường đệ không?

Lía cười:

– Ta sẽ thử.

Trần Lâm cũng cười:

– Đệ đùa thôi, bây giờ đệ canh một góc tủ, đại ca canh một góc nhé. Nên nhớ con Độc hỏa xà lúc tấn công vừa rất nhanh lại vừa phun hơi độc ra nữa đấy. Đại ca phải phong tỏa hô hấp lại kẻo nguy hiểm.

……………

(xem tiếp vào ngày mai)