Kỳ 199:

…………..

Hùng hoàng và ngải cứu đã được mang tới. Trần Lâm bảo mọi người ra khỏi phòng, đóng kín cửa rồi bỏ hùng hoàng vào đĩa đốt lên, đoạn vò cây ngải cứu để lên trên ngọn lửa. Xong chàng và Lía ngồi mỗi người một góc phòng ngưng thần canh chừng con rắn. Một lúc sau đã nghe thấy có tiếng động rất nhỏ dưới đít tủ bên phía của Lía, rồi vút một cái, một lằn sáng đỏ lao vào Lía với tốc độ kinh hồn. Lía mở căng mắt và cũng đã nhanh không kém dùng hai ngón tay kẹp cứng con rắn. Chàng vận công vào hai ngón tay siết chặt, con rắn chết ngay lập tức. Lía vứt con rắn xuống định đứng lên bỗng cảm thấy choáng váng, chàng vội ngồi xuống vận công. Trần Lâm biết Lía đã trúng hơi độc của con Độc hỏa xà, chàng vội móc viên Tỵ độc châu ra nhét vào miệng của Lía. Một lúc sau Lía đứng dậy và nói:

– Thật là nguy hiểm! Không ngờ con súc sinh này lại nhanh và độc đến như thế. À, viên Tỵ độc châu này có thể trị độc của con rắn, sao đệ không dùng nó chữa cho H’Linh mà phải bắt cho bằng được con rắn?

Trần Lâm đáp:

– Cũng được, nhưng âm khí của bệnh nhân đã được con rắn tích tụ vào cái mồng đỏ trên đầu, dùng cái mồng đó cho bệnh nhân uống, âm khí sẽ hồi phục nhanh hơn. Chưa kể H’Linh còn hấp thụ được một làn khí chí dương của con Độc hỏa xà, làn dương khí này có thể giúp cho cơ thể nàng chống lại mọi thứ hàn khí trong thiên hạ xâm nhập vào cơ thể về sau.

– Ra là thế!

Trần Lâm mở cửa, mọi người bước vào, thấy con rắn dài độ ba tấc, mình đỏ như lửa. Trên đầu có cái cục u cũng đỏ chót. Trần Lâm nói:

– Cắt cục u này đem đốt rồi lấy tro pha với một chén nước cho tiểu thư uống. Xong uống thêm viên Bổ khí hoàn này nữa thì vài hôm tiểu thư sẽ bình phục. Riêng cái mật rắn, nên phơi khô để sau này dùng vào việc trị các loại độc do rắn cắn.

Chàng trao cho tù trưởng phu nhân một viên thuốc màu hồng. Hai vợ chồng vừa nhận viên thuốc vừa mừng rỡ cảm ơn rối rít. Xong, đích thân tù trưởng đi làm mọi việc rồi mang thuốc lên đưa cho Linh Phương để cho con gái uống.

Chờ cho H’Linh uống thuốc rồi Trần Lâm mới lên tiếng:

– Tôi xin phép được vận công vào người tiểu thư để giúp đẩy chất độc ra ngoài nhanh hơn.

Tù trưởng và phu nhân cùng vui vẻ bảo:

– Ân nhân cứ tự nhiên.

Trần Lâm nhờ Linh Phương đỡ H’linh ngồi dậy, chàng ngồi phía sau áp hai tay vào lưng H’Linh truyền Cửu dương chân khí vào. Sau một lúc, khí sắc trên mặt của H’Linh đã tươi nhuận hơn. Chàng buông tay đứng dậy và nói:

– Như vậy là ổn rồi, chỉ cần nghỉ ngơi năm ba ngày thì tiểu thư sẽ khỏe mạnh như xưa.

Vợ chồng tù trưởng H’Phon và già làng không ngớt lời cảm tạ, họ còn khen Trần Lâm như là một người từ trên trời hạ xuống. H’Phon lên tiếng:

– Các vị cũng đã mệt mỏi đường xa rồi, mời các vị ra nhà làng, tôi sẽ cho người mang thức ăn đến. Chúng ta dùng bữa tối để các vị còn nghỉ ngơi. Ngày mai, chúng ta sẽ bàn đến những việc khác.

Đêm đó, bọn Lía nghỉ trong những căn phòng nhỏ ở ngôi nhà làng. Sáng hôm sau, tù trưởng đến sớm, nét mặt hớn hở báo tin mừng là con gái của ông đã có thể ngồi dậy và ăn uống được. Ông lại cảm ơn bọn Lía một lần nữa. Một lúc sau, già làng và những dũng sĩ cũng đến đủ mặt. H’Phon mời mọi người uống trà, một loại trà đặc biệt của vùng Đá Vách. Nước trà xanh nhạt nhưng vị rất ngon và thơm nồng. H’Phon uống xong hớp trà nóng rồi lên tiếng:

– Các anh hùng Truông Mây đến đây hôm nay chắc không phải là chỉ để thăm chúng tôi thôi phải không?

Lía cười nói:

– Thăm các ông thì đúng là chúng tôi cũng có ý như vậy thật, nhưng cũng còn có việc trọng đại muốn bàn với các ông nữa.

– Việc trọng đại à? Các ông cứ nói ra đi, chúng ta sẽ cùng xem xét.

Trần Lâm đưa mắt nhìn những người đang có mặt. H’Phon hiểu ý nói:

– Các ông yên trí. Những người ở đây đều là thân tín và là những đầu não của bản Đá Vách chúng tôi. Các ông không phải lo ngại.

Lía bèn đem việc Truông Mây chiêu binh khởi nghĩa chống lại triều đình để cứu lấy đám dân nghèo. Chàng nói luôn ý định muốn liên minh với bản Đá Vách để cùng nhau nổi dậy. Nghe nhắc đến việc nổi dậy chống triều đình, vẻ mặt H’Phon vừa buồn vừa tức giận:

– Bảy năm trước đây, cha tôi cũng vì không chịu nổi cảnh áp bức của triều đình mà nổi lên chống lại. Lần ấy, cha con Nguyễn Đăng Độ đã đem năm ngàn quân tấn công bản. Vì lực lượng binh triều quá đông, cha con Đăng Độ lại có tài thao lược cho nên dù nơi đây địa thế hiểm trở nhưng cuối cùng cha tôi cũng đã tử trận, anh em trong bản hi sinh khá nhiều. Chúng tôi đành phải chịu khuất phục triều đình. Mối thù ấy chúng tôi chưa bao giờ quên. Gần đây, chính sách thuế khóa của Phúc Loan lại quá hà khắc nên việc trao đổi hàng hóa, thực phẩm giữa bản với miền xuôi gặp rất nhiều khó khăn. Chúng tôi thật tình đã hết chịu đựng nổi nhưng chỉ vì lực lượng Đá Vách còn suy yếu, chưa hồi phục được nên đành phải cam lòng chấp nhận.

Lía hỏi:

– Sao tù trưởng không liên kết với các bản dân tộc khác? Theo tôi, nếu có thể liên minh các bản dân tộc khác thì lực lượng của Đá Vách sẽ rất hùng mạnh. Lại nhờ vào thế núi non hiểm trở thì dẫu cho mười ngàn binh triều đến đây cũng khó lòng làm gì được các ông.

Già làng lên tiếng:

– Từ ngày cây thần kiếm của vua Hỏa thất lạc, các bản dân tộc suốt từ An Khê ra đến Quảng Nam đã chia rẽ như đám cát rời. Việc liên kết với họ tôi e không thể được.

– Nếu các ông có được cây thần kiếm ấy trong tay thì thế nào?

Tù trưởng đáp ngay:

– Thì việc liên minh không khó gì.

Thiên Tường bỗng lên tiếng:

– Thanh kiếm ấy uy lực như thế nào?

Già làng nói:

– Thuở xa xưa, có một năm trời hạn hán kéo dài. Sông Pa, sông A Yun cạn kiệt, cây rừng không mọc nổi, muông thú bỏ đi. Người JaRai đói khát phải lấy cây mục chấm mật ong ăn qua ngày, lấy hạt cây le nấu thành cơm ăn thay gạo. Trước tình cảnh đó, hai anh em T’Dia và T’Diêng lấy một hòm sắt ở miệng núi lửa Hàm Rồng để rèn thành một thanh gươm là PơTao – APui. Và họ đưa ra lời nguyền: “Ai có được thanh gươm sẽ có thể hô phong hoán vũ”. Thế nhưng sau khi rèn xong, thanh gươm cứ đỏ rực, không chịu nguội. Nhúng vào ghè, ghè cạn, nhúng xuống suối, suối khô, nhúng xuống sông, sông hết nước… Cuối cùng, hai người bèn đem thanh gươm nhúng vào máu của nô lệ. Kỳ lạ là nó xèo xèo vài cái rồi nguội ngay lập tức. Khi thanh gươm vừa nguội thì anh em T’Dia, T’Diêng vứt xuống sông. Hay tin, các bộ tộc người trong khu vực thi nhau xuống sông lặn tìm thanh gươm. Người JaRai tìm thấy lưỡi gươm còn người Kinh các ông giữ vỏ gươm. Truyền thuyết gươm thần của người JaRai được nhiều dân tộc công nhận, trong đó có người H’rê chúng tôi. Người nắm giữ gươm thần PơTao – APui được gọi là Vua Lửa PơTao. Với người JaRai, Vua Lửa là vị trí cha truyền con nối nên gươm thần cũng là bảo vật gia truyền. Không ngờ cách đây trăm năm, thanh gươm thần đó đã bị thất lạc, đến nay còn chưa tìm lại được.[1]

Trần Lâm hỏi:

– Thế già làng có thể nhận diện cây thần kiếm đó không?

Già làng trầm ngâm:

– Theo lời kể thì thanh thần kiếm đó cả hai bên cán đều có khắc một ngọn lửa, bên dưới ngọn lửa là hai chữ cổ JaRai đọc là “vô thượng”. Chữ này mang ý nghĩa quyền uy vô thượng, hô phong hoán vũ.

Trần Lâm nhìn sang Lía. Lía bèn lấy thanh kiếm trên vai xuống, rút ra khỏi bao rồi đưa cho tù trưởng:

– Các ông xem thử thanh kiếm này.

Tù trưởng và già làng cùng mấy người Đá Vách chăm chú nhìn thanh kiếm. Đó là một thanh kiếm hết sức cũ kỹ, từ lưỡi đến cán đều mang màu đỏ. Tù trưởng nâng cây kiếm bằng cả hai tay trao cho già làng:

– Già làng coi thử xem.

Già làng cung kính nhận thanh kiếm rồi quan sát. Nét mặt của ông ngưng trọng và thay đổi liên tục. Mọi người cũng nín thở theo dõi diễn biến trên gương mặt già nua đó. Cuối cùng, khuôn mặt nhăn nheo của ông đã nở một nụ cười rạng rỡ:

– Lạy các đấng thần linh linh thiêng! Đây quả là cây kiếm của Vua Hỏa ngày xưa thất lạc bấy lâu, không ngờ nay lại xuất hiện nơi đây. Thật là một chuyện tốt, hết sức tốt! Xin chúc mừng các ông!

[1]  Theo truyền thuyết người Êđê – Tây Nguyên.

………..

(xem tiếp vào ngày mai)