Kỳ 200:

……..

Nói xong già làng cung kính hai tay dâng cây thần kiếm trả lại cho Lía, sau đó ngẩng mặt lên trời lâm râm khấn vái rồi sụp lạy bốn lạy. H’Phon cùng những người trong bản thấy già làng làm lễ thì cũng đồng loạt sụp người xuống lạy theo. Lễ xong H’Phon hỏi:

– Đây chính là thần vật của tổ tiên ngày xưa ư?

Già làng đáp:

– Theo các di ngôn của người xưa để lại thì các hình khắc trên thanh kiếm này đúng là thần kiếm của Vua Hỏa chúng ta ngày xưa. Trông nó cũ kỹ nhưng sắc bén vô cùng, có thể chém đá, chặt sắt như bùn. Nhưng nếu muốn biết chính xác hơn thì hãy mang một tên nô lệ đến đây thử sẽ rõ ràng thôi. Vì theo truyền ngôn, thanh thần kiếm này thuở ban đầu đã hấp thu tinh huyết của những người nô lệ, cho nên khi thấm máu nô lệ vào, màu đỏ sẽ từ từ biến thành đen. Đó là vì ý nghĩa của lời nguyền mà anh em T’Dia và T’Diêng khi rèn thanh kiếm đã phát nguyện. Họ muốn rằng người nào có được thanh kiếm này phải ra sức giải phóng ách nô lệ, cùng khổ cho những người nghèo khó.

Tù trưởng xoay người với lấy một thanh đao treo trên tường rồi ra hiệu cho Lía. Lía vung thanh kiếm chặt nhẹ vào thanh đao. Thanh đao đứt ngọt. Mọi người đều xuýt xoa:

– Úi chà! Quả thật là thần kiếm!

A Nun chợt lên tiếng:

– Trong bản chúng ta hiện đang có một số nô lệ, sao không đem họ ra thử xem để cho mọi việc chắc chắn hơn?

Tù trưởng đồng ý. Ông nói với một dũng sĩ đứng gần đó:

– Ngươi đi dẫn một tên nô lệ đến đây.

– Dạ!

Hắn vội chạy đi ngay. Chừng uống cạn tách trà thì tên dũng sĩ đã dẫn một người nô lệ đến. Già làng nói với tên nô lệ:

– Ta cần một ít máu của ngươi. Ngươi không phải sợ gì cả.

Tên nô lệ nét mặt tái mét nhưng không dám phản đối. Già làng bèn dùng thanh thần kiếm cứa vào tay tên nô lệ cho máu chảy ra rồi để máu nhỏ lên kiếm. Mọi người đều căng thẳng chăm chú nhìn vào thanh kiếm chờ xem diễn biến. Sự mầu nhiệm của thanh thần kiếm huyền thoại đã trở thành hiện thực. Máu tên nô lệ được thanh kiếm hấp thu vào và từ màu đỏ chuyển dần sang màu đen. Đôi tay đang đỡ thanh kiếm của già làng cũng bắt đầu run theo sự chuyển hóa màu sắc đó. Cuối cùng, ông ta quì xuống, nâng cao thanh kiếm khỏi đầu, vừa sụp lạy vừa hô lớn:

– Thần linh vô thượng! Vua Hỏa vô thượng!

Tất cả những người trong bản có mặt vội cung kính làm theo già làng. Lía, Trần Lâm và Thiên Tường cũng cúi lạy và hô theo họ. Lễ xong, già làng cung kính trao trả thanh kiếm lại cho Lía:

– Chúc mừng các ông! Với thanh kiếm này xin các ông hãy theo lời của thần linh mà giải phóng cho những người cùng khổ. Chúng tôi nguyện sẽ đem hết sức mình trợ giúp.

Lía hai tay đẩy nhẹ thanh kiếm về phía tù trưởng H’Phon:

– Chúng tôi xin mừng vật xưa nay đã trở về với chủ cũ. Chúng tôi cũng mong rằng với thanh kiếm này, các ông sẽ dẹp hết những bất công trong đời để cứu những kẻ khốn cùng trong thiên hạ.

Trên gương mặt của những người Đá Vách ai nấy đều hiện rõ vẻ kinh ngạc tột cùng. H’Phon nói:

– Các ông tặng thanh thần kiếm này cho chúng tôi ư? Làm sao có thể như thế được? Đây là thần vật, chỉ người có tài đức mới có duyên phước giữ lấy. Các ông duyên phước trời ban nên thanh kiếm đã thất lạc hàng trăm năm nay mới tìm đến tay các ông. Chúng tôi không thể nhận.

Nói xong ông cũng đưa hai tay nhẹ nhàng đẩy thanh kiếm về phía Lía. Trần Lâm vội phân bua:

– Thật sự chúng tôi chẳng có duyên phước gì đâu. Thanh kiếm này cũng là nhờ một người bạn may mắn mua lại được của một người Êđê ở Kontum rồi tặng lại cho chúng tôi. Nó nguyên là thần vật của bộ tộc các ông, dĩ nhiên phải hoàn trả về các ông thì sự hữu dụng mới vô biên. Chúng tôi giữ nó trong tay cũng vô dụng mà thôi. Nếu các ông có thể dùng thanh thần kiếm này đứng lên chống lại những bất công đang đầy rẫy trong xã hội hiện giờ, chúng tôi nguyện sẽ đem hết sức mình mà trợ giúp.

Già làng nhìn H’Phon tỏ ý chấp thuận. H’Phon đành đưa hai tay đỡ thanh kiếm rồi nói:

– Đã như thế thì tôi xin thay mặt thần linh cùng tất cả mọi người trong buôn làng ở Đá Vách chân thành đội ơn các ông. Tôi sẽ ra sức liên minh các dân tộc vùng núi này đứng sau lưng Truông Mây, dù chết cũng không từ.

Xong, ông cúi thấp đầu trước ba chàng hiệp sĩ rồi mang thanh kiếm đặt lên bàn thờ thần linh. Tất cả lại một lần nữa quì trước bàn thờ, già làng vái lạy rồi đọc những câu kinh gì đó bằng tiếng H’rê. Lễ xong, H’Phon nói với bốn tên dũng sĩ:

– Đây là chuyện mừng lớn nhất của bản, ngày mốt chúng ta sẽ làm lễ đâm trâu để cảm tạ thần linh và ăn mừng. Các ngươi hãy lo chuẩn bị mọi việc.

Họ dạ ran rồi cúi chào ra đi. Còn lại H’Phon, già làng và người phó tù trưởng, Trần Lâm bèn đem kế hoạch liên minh ra bàn bạc với họ. Đặt ra kế sách liên lạc, yểm trợ nhau một cách tỉ mỉ. Xong đâu đấy, H’Phon và phó tù trưởng đưa bọn Lía đi xem những nơi hiểm yếu của Thạch Bích Sơn. Trần Lâm xem xét địa thế và góp ý thêm cho H’Phon những điểm lợi hại, cách phòng thủ cũng như tấn công. H’Phon nghe những lời chỉ điểm, trong lòng hết sức khâm phục. Điều này đã củng cố thêm niềm tin để nổi dậy chống triều đình sau này. Chiều đến, lúc trở về, Trần Lâm ghé lại thăm H’Linh và thấy nàng đã khỏe lại sáu bảy phần. Thấy Trần Lâm đến, nàng vội đứng lên cúi đầu nói:

– Cảm ơn Lâm huynh đã cứu sống H’Linh. Mẹ H’Linh nói Lâm huynh là người từ trên trời xuống để giữ mạng cho H’Linh đó.

Rồi nàng nhoẻn miệng cười. Tiếng nói của nàng trong trẻo như tiếng suối reo, nụ cười tươi như đóa lan rừng, hồn nhiên và vô cùng tinh khiết.

Trần Lâm cười:

– Không phải như thế đâu, tôi chỉ là may mắn thôi. Cũng chính nhờ phước lớn của H’Linh và buôn làng này đó. H’Linh còn phải uống thêm thuốc và nghỉ ngơi vài hôm nữa mới thật sự bình phục.

Nói xong chàng trao cho phu nhân Linh Phương ba viên Hồi nguyên đơn:

– Phu nhân cho tiểu thư uống mỗi ngày một viên. Hi vọng ba hôm nữa tiểu thư sẽ khỏe mạnh như xưa.

Linh Phương nhận thuốc và nói:

– Chúng tôi thật là phước lớn nên trời cao mới đưa hiệp sĩ tới đây. Ơn đức này biết lấy gì đền đáp?

– Phu nhân đừng bận tâm, hậu hội còn dài. Một chút công nhỏ này không đáng gì đâu.

H’Linh bỗng chen vào:

– H’Linh sẽ cố gắng bình phục sớm để đưa Lâm huynh đi xem hết cảnh đẹp của buôn làng này. Lâm huynh không được từ chối nhé.

– Vâng, tôi cũng muốn được như thế. H’Linh hãy ráng bình phục cho chóng. Xin cáo từ.

Chiều hôm sau nữa, mọi người trong bản tụ tập hết về khu nhà làng để chuẩn bị lễ đâm trâu thật nhộn nhịp. Họ mừng bản làng có được thanh thần kiếm, tạ ơn thần linh và mừng H’Linh, cô gái mà họ cho là tiên nữ của núi rừng, đã thoát khỏi cơn bệnh hiểm nghèo.

Chiều hôm sau nữa, mọi người trong bản tụ tập hết về khu nhà làng để chuẩn bị lễ đâm trâu thật nhộn nhịp. Họ mừng bản làng có được thanh thần kiếm, tạ ơn thần linh và mừng H’Linh, cô gái mà họ cho là tiên nữ của núi rừng, đã thoát khỏi cơn bệnh hiểm nghèo.

Theo phong tục của H’rê cũng như của các sắc tộc cao nguyên nói chung, lễ hội đâm trâu được coi là một lễ hội truyền thống của dân tộc. Lễ được chuẩn bị kỹ lưỡng, chu đáo. Phải mời nghệ nhân giỏi, biết chế tạo nhạc cụ dân tộc để làm chiếc kèn Rlet. Loại kèn này chỉ dành để thổi gọi thần linh trong lễ đâm trâu chứ không được dùng trong các trường hợp khác. Khi xong lễ thì kèn Rlet cũng bỏ luôn, cấm không ai được thổi nữa. Trong suốt lễ hội, mọi vật dụng đều phải làm mới. Họ làm một cây nêu to đẹp, trên cành cây nêu có kết hoa bằng lá non cây Sra và trên ngọn thì treo một con chim phượng hoàng làm bằng gỗ có tô nhiều màu. Cây nêu được xem là lễ đài của toàn bộ buổi lễ, do đó cây nêu chẳng những phải cao vút, bề thế mà còn phải có tính nghiêm trang, đầy chất huyền thoại. Trên cây nêu luôn có đủ các hình tượng và hoa văn. Đó là hình tổ ong, hình chim én, cánh chim cu, xâu lục lạc bằng nứa, tượng người… Các ché rượu cần được đổ nước, nhét lá, cắm cần đầy đủ.

Nghi thức lễ đâm trâu thường diễn ra vào buổi chiều tà. Khi dựng cây nêu, nam nữ phải ra đứng đánh cồng chiêng múa vui vòng quanh cây nêu. Tiếng chiêng càng vang, mọi người càng hớn hở, nhất là lúc con trâu được buộc vào cọc nêu. Suốt đêm đó, dân làng vui chơi, uống rượu, đánh chiêng, chờ đợi ngày mai bắt đầu lễ chính. Đến gà gáy canh tư, người đàn bà chủ trâu hoặc người đàn bà hàng xóm ra đứng gần cây nêu hát bài gọi thần Lúa và bài “khóc trâu” để vỗ về, an ủi, tiễn biệt con vật yêu quý này trước khi nó bị giết để làm lễ hiến sinh. Vừa hát người ấy vừa lấy nước tưới vào đầu con trâu. Tảng sáng, người ta mang một ché rượu nhỏ và giết một con gà để cúng hồn con trâu. Trong khi đâm trâu, dàn nhạc cồng chiêng nổi lên để làm cho người chém trâu, đâm trâu thêm phần phấn chấn, can đảm.[1]

Trong suốt lễ hội, mọi người ở bản Đá Vách đều coi ba chàng hiệp sĩ Truông Mây như những người khách quí, những đại ân nhân. H’Phon đã cho mời các bản làng anh em gần đó đến tham dự lễ. H’Linh cũng có mặt vì nàng đã gần như khỏe hẳn. Các trai làng cùng nhau mang rượu cần mời bọn Lía. Họ ăn uống nhảy múa thật thoải mái, vui nhộn giữa cảnh núi rừng hùng vĩ bao la. Đêm đến, tất cả đều yêu cầu H’Linh hát bài dân ca H’rê như mọi lần lễ lạc trước kia để dâng tặng thần linh và những người khách quí. Dưới ánh lửa bập bùng, H’Linh trong trang phục dân tộc trông giống như một nàng tiên nhỏ. Giọng nàng cất lên thật trong trẻo và êm đềm khiến mọi người đang ồn ào bỗng im phăng phắc lắng nghe. Tiếng hát của nàng như làm cho tất cả thấy tâm hồn trở nên thanh thản, hòa lẫn vào cảnh tịch nhiên, thâm u của núi rừng Thạch Bích.

[1]  Theo tài liệu của các sắc tộc Tây Nguyên

……………..

(xem tiếp vào ngày mai)