Kỳ 204:

…………

Chàng lại gần nơi bàn thờ, nhún chân nhảy vọt lên cao, đưa tay vào trính nhà lấy ra một gói giấy xong đáp xuống đất. Vợ chồng chủ nhà và anh con trai nhìn thấy khinh công của Trần Lâm thì đều há hốc mồm kinh ngạc. Chàng mở gói giấy ra, cuốn “Tiểu Bát quái đồ chú giải” mà ngày xưa mẹ chàng đã vì nó lao tâm đến mất mạng hãy còn nguyên. Chàng nói với ba người:

– Cũng may vật của mẹ cháu vẫn còn nguyên. Cháu xin lại nhé.

Đỗ thị cười vui vẻ:

– Của công thử, công tử cứ lấy lại, đâu cần khách sáo.

Sau bữa cơm trưa, Trần Lâm từ giã gia đình Đỗ thị, mang theo thanh kiếm gia truyền, giục con Ô Truy nhắm thẳng hướng Phú Xuân đăng trình. Khi gần đến Phú Xuân, chàng tìm mua một số hoa hồng rồi đem ra bờ sông Hương tế linh hồn đứa em gái tội nghiệp. Chàng bứt từng cánh hoa hồng, thả trôi theo dòng nước và thầm khấn nguyện:

– Xin những cánh hoa hồng tinh khiết này chở hộ linh hồn trong trắng của em tôi về nơi cực lạc. Hồn em có linh thiêng xin tha thứ cho người anh bất hiếu, vô hạnh này.

Chuyến trở về quê đầy nước mắt đã khoét sâu thêm nỗi đau từ lâu được giấu kín trong lòng chàng. Qua thời gian mười năm, vết thương xưa tưởng đã lành miệng, không ngờ giờ đây nó lại càng lở loét và nhức nhối hơn. Chàng bỗng ngửa mặt lên trời cất tiếng hú dài. Tiếng hú mang theo bao nhiêu nỗi oán hờn, thống hận như con sói hoang bị sa bẫy giãy giụa trước lúc chết. Con Ô Truy đang gặm cỏ bên cạnh như cảm thông được với nỗi đau của chủ, nó chậm rãi bước đến liếm vào vai, vào má chàng. Trần Lâm quay lại ôm cổ nó:

– Cảm ơn mi! Đời ta giờ chỉ còn có mi và thanh kiếm này bên cạnh. Ồ mà không, chúng ta còn có Truông Mây. Truông Mây sẽ là ngôi nhà lớn của chúng ta và của cả những kẻ đau khổ trong cuộc đời này.

Chàng rút kiếm cắt một đoạn tóc, rải nhẹ xuống sông cho trôi theo dòng nước, lẩm bẩm như tự nhủ với lòng mà cũng như để nói với vong linh của cha mẹ và em gái:

– Cha mẹ và em hãy yên lòng nhắm mắt, con sẽ dùng thanh kiếm này để tiêu diệt lũ sâu dân mọt nước, đem lại thanh bình, cơm no áo ấm cho muôn dân. Con đã vĩnh viễn mất đi gia đình nhỏ thì nhất định sẽ xây dựng cho bằng được một gia đình lớn. Đó là quốc gia, là dân tộc này.

Xong, chàng vục nước sông Hương rửa mặt. Dòng nước mát lạnh làm cho chàng tỉnh táo và cảm thấy phấn chấn hơn. Sự phấn chấn của niềm hi vọng ẩn tàng phía sau sự tuyệt vọng. Kẻ trí là người biết biến đau thương thành hành động, biến tuyệt vọng, khốn cùng thành hi vọng và vinh quang. Chàng phóng mình lên lưng ngựa.

– Đi thôi Ô Truy!

Con Ô Truy như đã biết chủ muốn về đâu, nó cất bốn vó phi nhanh đến thành Phú Xuân.

***

Thành Phú Xuân sau gần chín mươi năm, kể từ ngày Chúa Nguyễn Phúc Trăn quyết định chọn làm nơi đặt phủ Chúa vào năm 1687, thành đã được xây dựng với một quy mô lớn, xứng đáng là kinh đô của một nước.

Đất Phú Xuân bằng phẳng rộng lớn, thành Phú Xuân được xây trên một vùng đất cao, tọa hướng Càn (tây bắc), nhìn về hướng Tốn (đông nam), có thế dựa ngang Long Tích. Phía trước có dãy núi Ngự Bình che chắn làm tiền án, cùng dòng Hương Giang tạo cảnh Minh Đường thủy tụ, long mạch quy về, đúng là cuộc đất đế vương. Thành có hào sâu bao bọc chung quanh, ở giữa là tử cấm thành dành riêng cho phủ Chúa và gia quyến hoàng tộc. Từ ngày Chúa Phúc Khoát lên ngôi Vương, ông lại càng ra sức xây dựng thêm nhiều đền đài cung điện. Bên ngoài có các dinh thự như Phủ Từ Kim Hoa, Quang Hoa làm nơi tế lễ trời đất. Tòa Hành Lang Phủ Trạch rộng lớn làm nơi hội họp của các quan. Ngoài ra còn có rất nhiều công trình kiến trúc lớn và đẹp như nhà Tựu Nhạc, nhà Trung Hòa, Diêu Trì Các, Triêu Dương Các, Thụy Vân Đình… và các trường học cho con của các quan đại thần. Miệt thượng lưu bờ nam còn có Dương Xuân Phủ và Phủ Cam. Đối diện bên bờ bắc là khu nhà của các công thần. Đâu đâu cảnh trí cũng tráng lệ nguy nga, cỏ hoa tươi tốt, ngựa xe tấp nập, phố xá đông vui náo nhiệt[1].

Lần đầu bước chân đến đất kinh đô, Trần Lâm không khỏi giật mình choáng ngợp vì sự lộng lẫy xa hoa của nó. Đâu đâu dinh thự, lâu đài cũng to lớn, rực rỡ, dập dìu tài tử giai nhân, ngựa xe như nước. Trên sông Hương thuyền buôn bán, đò đưa khách qua lại như mắc cửi. Đúng thực là cảnh phồn hoa đô hội!

Danh sĩ Chu Sử Tín có lần đối cảnh Hương Giang đã viết:

Xuân ỷ xuân môn, câu cừ giao ánh

Lục hòe thu thị, chu tiếp tương thông.

Dịch nghĩa:

Ngày xuân, ngồi tựa cửa xuân, thấy ngòi cừ long lanh trước mắt

Bóng hòe vàng lục chợ thu, thuyền nối thuyền chằng chịt.[2]

Trần Lâm thả ngựa chậm rãi dạo quanh thành, vừa tấm tắc khen ngợi vẻ đẹp của chốn kinh kỳ vừa cảm thấy bất mãn cho cái xã hội bất công này. Bao nhiêu của cải, mồ hôi nước mắt của lão bá tánh khắp thiên hạ đã đổ hết về đây. Bọn vua chúa, quan quyền ngồi trên cao ăn sung mặc sướng, sống đời xa xỉ, tha hồ vơ vét, bóc lột đám dân đen thấp cổ bé miệng. Còn dân chúng tứ phương nghèo đói lang thang, sống đời cơ cực. Bọn cai trị thật không còn thiết gì đến sự hưng vong của quốc gia, dân tộc nữa!

Chợt nhớ đến câu chuyện của H’Linh kể về mẹ nàng, chàng bèn tìm đến thăm Triêu Dương Các. Gởi ngựa xong, chàng lên lầu tìm chỗ ngồi. Triêu Dương Các nổi tiếng khắp Phú Xuân nên khách đến đây uống rượu rất đông. Lúc ấy các bàn đều đã chật kín người. Trần Lâm nhìn quanh, thấy chiếc bàn nơi góc phải sát bờ sông có một thanh niên đang ngồi một mình quay lưng về phía chàng. Chàng đành tiến đến hỏi người thanh niên xin ngồi chung.

– Xin lỗi huynh đài, vì không còn chỗ trống nữa, tôi có thể ngồi chung bàn với huynh không?

Người thanh niên quay lại. Cả hai cùng reo lên:

– Kìa Lâm huynh!

– Phi đệ, thì ra là đệ! Thảo nào huynh nhìn dáng sau lưng thấy quen quen nên đã ngờ ngợ rồi. Dạo này đệ thế nào, sao ngồi buồn một mình ở đây vậy? Đâu có giống như Phi đệ vui vẻ hoạt bát ngày nào?

Tiểu Phi đứng dậy, cả hai tay bắt mặt mừng.

– Lâm huynh ngồi đi. Uống rượu nhé? Đệ vẫn bình thường. Từ ngày cách biệt thấm thoát đã ba năm. Nhanh thật! Lâm huynh thế nào? Có điều gì phiền muộn à? Ngọn gió nào đưa huynh từ Truông Mây ra đến Phú Xuân này vậy?

Câu cuối cùng chàng hơi nhỏ giọng xuống. Tiểu Phi vừa hỏi tay vừa rót rượu mời Trần Lâm. Trần Lâm ngồi xuống chiếc ghế xéo bên cạnh, chậm rãi trả lời:

– Cảm ơn đệ. Không có gì, huynh vẫn vậy. Đệ cũng biết việc này à?

– Tai mắt của bang Hành Khất khắp nơi, việc gì mà đệ chẳng biết. Đệ hâm mộ Truông Mây lắm lắm, muốn vào đó tham gia với các anh nhưng gia phụ không cho.

Trần Lâm nghe Tiểu Phi nhắc đến cha mình liền nói:

– Chuyến này huynh ra đây là có ý muốn gặp đệ cùng bá phụ. Đệ tiến cử giúp huynh nhé?

Tiểu Phi nâng ly rượu lên vui vẻ:

– Sẵn sàng! Nhưng chúng ta hãy uống cạn ba chung mừng ngày gặp lại đã. Mừng tái ngộ!

– Mừng tái ngộ!

Cả hai nâng ly nốc cạn. Tiểu Phi lại bưng bình rượu rót vào chung. Uống cạn ba chung rượu xong, Trần Lâm hỏi:

– Đệ đang chờ ai hay sao mà có hai cái chung để sẵn vậy?

Tiểu Phi hơi đỏ mặt ấp úng:

– Ơ… không. Đệ không chờ ai cả. Cái chung… này…

– Thôi đệ đừng chối, coi bộ đệ hình như là đang chờ một giai nhân nào đó. Đúng không?

Mặt Tiểu Phi càng đỏ hơn:

– Đệ đâu có chờ ai. Lâm huynh chỉ giỏi đoán bừa.

Trần Lâm mỉm cười:

– Coi cách ngồi lặng lẽ ngắm sông và cái mặt đỏ gay của đệ kìa. Đừng nói là do mấy chung rượu nhỏ này nhé? Nói thật đi.

Tiểu Phi biết là không thể qua được cặp mắt sắc bén của người bạn này nên đành lúng búng nói:

– Giai nhân thì đúng, mà không, nói chính xác là tuyệt đại mỹ nhân mới phải, nhưng đệ không phải đang chờ đợi mà chỉ là để hoài niệm thôi.

Đoạn Tiểu Phi buông tiếng thở dài. Trần Lâm tò mò hỏi:

– Tuyệt đại mỹ nhân à? Mà sao chỉ là hoài niệm? Không thể gặp được nàng nữa ư?

– Đệ có duyên gặp được nàng một lần. Sau đó thì bặt vô âm tín. Đã gần ba năm rồi.

– Ba năm rồi, vậy là đệ đã ngồi đây đợi những ba năm?

– Thỉnh thoảng đệ mới đến đây thôi. Chỉ như một kỷ niệm đẹp trong đời. Đệ không phải là kẻ lụy tình, huynh không cần ái ngại cho đệ.

– Huynh đâu có ái ngại. Cuộc đời vốn nhiều đau thương và bất hạnh, có một kỷ niệm đẹp để sống cùng cũng là điều hay đấy chứ. Huynh cũng mong được như đệ vậy.

– Huynh không muốn cũng đã có rồi. Chỉ tại huynh suốt ngày bôn ba đại sự nên không nhận lấy đó thôi. À, tiểu thư họ Cao ở Quy Nhơn và cả Hồng Y Nữ tiểu muội nữa, bây giờ họ thế nào rồi? Huynh còn liên lạc với người ta không?

[1]  Chi tiết dựa theo Phủ biên tạp lục, của Lê Quý Đôn.

[2]  Trích từ Phủ Biên Tạp Lục, Lê Quý Đôn.

………..

(xem tiếp vào ngày mai)