Kỳ 209:

…………..

Rồi Lía hỏi Văn Bảo:

– Anh em ở đây có được an toàn không? Nếu không cứ rút cả về Kim Sơn rồi sẽ tính sau.

– Hang Thần Xà này là nơi hết sức bí mật, bọn quan binh chưa biết tới. Ở đây thì an toàn rồi. Có điều nếu chúng ta đốt phủ của chúng thì chắc chắn sẽ có dấy động can qua. Số quân nhỏ bé này ở lại đây cũng không làm được gì, đệ nghĩ mình nên rút về Kim Sơn để tập trung lực lượng. Giữ hang này làm nơi bí mật để dùng về sau là tốt hơn.

– Nếu thế đệ và Hồ Bân hãy bí mật đưa anh em về Kim Sơn, ta sẽ dẫn đội Thần mã đốt phủ Quy Nhơn một trận cho chúng biết tay. Cũng đã đến lúc nên dấy động can qua rồi đó. Tất cả chuẩn bị ăn cơm rồi lên đường.

Văn Bảo lấy ra một tấm họa đồ đưa cho Lía:

– Đây là sơ đồ phủ thành. Kho lương, kho vũ khí, các trạm canh và nhà ở của Tuần phủ, Trấn thủ… đều được toán thám báo vẽ chi tiết trong này. Đại ca theo đó mà hành động.

Thiên Tường cầm tấm sơ đồ nghiên cứu qua rồi trả lại cho Lía. Đêm đó không trăng, trời đầy sao. Nghĩa binh Núi Bà lặng lẽ thu xếp hành trang lên đường trở về Hoài Ân. Lía và toán Thần mã nhắm hướng phủ thành Quy Nhơn thẳng tiến. Gần đến thành Quy Nhơn, Lía để lại ba người giữ ngựa ở một nơi kín đáo. Số còn lại tiến sát bờ thành rồi dùng khinh công vượt tường vào trong. Lía chia họ thành từng nhóm nhỏ, giao cho mang theo đồ dẫn hỏa đi đốt các nơi như kho lương, kho vũ khí. Bọn nghĩa binh đều là những người có võ công thượng thặng lại được huấn luyện đặc biệt nên các trạm gác đã lần lượt bị tiêu diệt. Chẳng mấy chốc, khắp nơi trong phủ thành lửa cháy rực trời. Bọn quan binh bấy giờ mới nhốn nháo gióng chiêng trống báo động inh ỏi. Toán thì lo chữa lửa, toán thì lo lùng bắt quân gian, quang cảnh hỗn loạn trước giờ chưa từng xảy ra.

Trong khi anh em lo nhiệm vụ đốt phá khắp nơi thì Thiên Tường một mình âm thầm lẻn đến dinh thự của quan Trấn thủ Hoàng Công Đức, kẻ thù không đội trời chung của mình. Vượt rào vào bên trong, Thiên Tường nhanh chóng tiêu diệt mấy tên lính gác rồi xông vào nhà tìm đến phòng ngủ của Hoàng Công Đức. Chàng đạp tung cửa phòng, thấy Hoàng Công Đức đang nằm trên giường còn ngái ngủ. Nghe tiếng động lớn, lão ta giật mình bật ngồi dậy. Phần trên cơ thể không một mảnh vải, phần dưới tấm thân béo phệ của lão được tấm chăn che phủ. Nằm bên cạnh lão là một cô gái rất đẹp và cũng chỉ có mảnh yếm che thân. Nàng ta hình như còn thức nên khi nghe tiếng đạp cửa đã hốt hoảng vơ đống quần áo bên cạnh che đỡ thân người. Thiên Tường nói:

– Yên đó! La lên là con dao này sẽ găm vào cổ. Hoàng Công Đức, ngươi còn nhớ tên tử tội này không?

Hoàng Công Đức bấy giờ mặt cắt không còn chút máu, hắn run cầm cập lắp bắp:

– Hiệp sĩ… tha mạng. Hiệp sĩ muốn gì cứ nói, bổn quan sẽ… sẽ… nghe lời tất cả, xin… xin đừng giết bổn quan.

Thiên Tường cười gằn:

– Tha mạng? Lúc trước, ngồi trên ghế cao xử án, ngươi có từng nghĩ đến việc tha mạng cho ta hay không? Ngươi đã có vợ đẹp thế này mà còn manh tâm xử hiếp, giết ta cho tuyệt đường hương hỏa nhà họ Triệu để cướp đoạt tài sản và vợ kẻ khác. Tội ngươi đáng chết ngàn lần.

Nói xong Thiên Tường vung tay. Một ngọn phi đao đã cắm ngay tim Hoàng Công Đức, lão chỉ kịp la lên một tiếng rồi chết ngay tức khắc. Thiên Tường rút kiếm cắt thủ cấp cầm nơi tay. Chàng là người nói gọn, làm gọn. Cô gái xinh đẹp chứng kiến cảnh đó rất đỗi kinh hoàng, bịt miệng mình dằn tiếng kêu nhỏ rồi té xỉu. Thiên Tường định một đao giết luôn nhưng nhìn thấy vẻ đẹp xiêu hồn của nàng thì lại động tâm nghĩ: “Mỹ nhân thế này mà giết đi thì thật phụ lòng tạo hóa. Tên Hoàng Công Đức chuyên cướp vợ người, nay ta bắt vợ hắn về cho đại ca làm áp trại phu nhân, như vậy cũng là nhân quả tuần hoàn thôi”. Nghĩ xong Thiên Tường định mặc áo quần lại cho nàng nhưng bên ngoài đã có tiếng ồn ào của quan binh. Chàng vội dùng chiếc chăn mỏng quấn kín người cô gái rồi ôm nàng, xách thủ cấp của Hoàng Công Đức phóng mình ra cửa tìm anh em đồng đội. Lửa đã bùng cháy khắp nơi trong phủ thành. Bỗng nghe tiếng hú báo hiệu rút lui của Lía vang lên đằng xa, Thiên Tường phi vút người về hướng đó. Trong bóng tối, thấy Lía và anh em đang đứng đợi, Thiên Tường vội trao cho Lía cuộn chăn nói:

– Tặng cho đại ca cái này. Đại ca và anh em đi trước đi, đệ sẽ theo sau ngay.

Nói xong, chàng phi thân đến cổng phủ thành, tung người phóng một lưỡi đao cắm vào tấm biển rồi treo đầu Hoàng Công Đức lên đó. Đoạn, chàng băng mình mất hút trong đêm tối. Khi Thiên Tường đến nơi hẹn thì mọi người cũng đã ngồi sẵn trên lưng ngựa. Chàng cũng tung mình lên ngựa rồi nói:

– Đi được rồi.

Cả bọn thúc ngựa phóng đi. Vó câu vang lên rầm rập rồi tan biến trong màn đêm mờ mịt.

Tin bọn cướp Truông Mây đốt kho lương, kho vũ khí và bêu đầu quan Trấn thủ Hoàng Công Đức nơi cổng thành phủ Quy Nhơn đã lan truyền đi nhanh chóng, làm chấn động cả Đàng Trong. Quan Tuần phủ Nguyễn Khắc Tuyên đêm đó đang ngủ bên phòng một ái thiếp, khi nghe thấy tiếng hỗn loạn đánh nhau bên ngoài đã vội vã chui xuống gầm giường trốn. Cho đến khi mọi việc yên lắng trở lại hắn mới dám chui ra la hét đám quân sĩ truy tìm những tên phản nghịch. Sau đó, hắn tức tốc một mặt cho người mang tin về Phú Xuân báo cáo lên phủ Chúa, mặt khác điều động binh mã tăng cường phòng thủ phủ thành, đặc biệt là dinh thự của hắn và truy lùng những tên phản loạn.

Bọn quân lính được dịp ra ngoài hành hung bá tánh, khám xét, chặn bắt những người lạ mặt một cách vô tội vạ. Nhiều tên lợi dụng cơ hội bắt luôn cả những người mà chúng thù oán. Sự hỗn loạn trong phủ thành và những phố thị quanh thành thật không bút mực nào tả xiết. Các cửa tiệm, hàng quán đều đóng cửa để tránh bị hôi của, chợ búa cũng dẹp luôn vì những ngày thế này không ai dại gì ra đường để chuốc họa vào thân. Dân chúng hay tin tên quan Trấn thủ Hoàng Công Đức bị bêu đầu ai nấy đều hả hê trong dạ. Họ ca ngợi bọn chàng Lía Truông Mây hết lời.

Mãi ba bốn hôm sau mọi sinh hoạt ở phủ Quy Nhơn mới trở lại bình thường. Số người bị bắt lên đến hàng trăm. Những kẻ có tiền, biết mánh lới của bọn quan binh tìm cách đút lót để được thả ra. Bọn không tiền thì ráng ở thêm trong tù vài hôm nữa, chịu thêm vài trận đòn rồi cuối cùng cũng được thả về vì chẳng có chứng cớ gì để buộc tội họ, giữ lại chỉ tổ tốn cơm.

Trong quán, ngoài chợ, đâu đâu cũng có tiếng xì xào:

– Các hiệp sĩ Truông Mây quả xuất quỉ nhập thần. Họ đốt cả phủ thành và cắt đầu tên Hoàng Công Đức chỉ trong chớp mắt. Bọn quan binh chưa hết ngái ngủ thì họ đã bay biến đi tự đời nào rồi. Khiếp thật!

– Còn phải hỏi. Bác không biết các hiệp sĩ Truông Mây người nào cũng võ nghệ cao cường à? Nhất là chàng Lía. Úi chà! Tôi không nói quá với bác đâu. Quả thật là người nhà trời chứ chẳng phải phàm nhân như chúng ta. Chàng ta có thể bay như chim vậy đó. Cái bọn quan binh và chút tường thành cỏn con phủ Quy Nhơn này thì làm sao cản được họ.

– Chà! Bác đã thấy chàng Lía bay thật à?

Người mới nói ấp úng:

– Thằng cháu tôi chứng kiến cuộc tranh tài giữa Đông Bạch Long và Tây Hắc Hổ ở Quy Nhơn dạo nọ rồi về kể lại cho tôi nghe ấy chớ.

Một người khác hỏi:

– Sao họ không giết sạch bọn quan binh, nhất là tên chó Quốc phó Trương Phúc Loan cho con dân chúng ta được nhờ nhỉ?

Người khác trong bọn tỏ vẻ ưu thời mẫn thế hơn giải thích:

– Bọn quan binh bất quá cũng chỉ là nạn nhân như chúng ta mà thôi. Họ bị bắt đi lính, kẻ có tiền thì được chỗ tốt, có khi được miễn dịch. Người nghèo thì bị trám vào những chỗ xấu, nghèo mốc mũi ra, hễ có động binh đao thì trở thành những người cảm tử, chết trước. Đây là thời buổi mua quan bán tước mà, ai có tiền thì sướng còn không thì khổ. Bởi vậy cái xã hội bây giờ, vì đồng tiền người ta dám làm mọi chuyện. Đạo đức suy đồi hết rồi. Còn tên chó Quốc phó Trương Phúc Loan ấy à, hắn đáng chết ngàn lần. Nhưng giết hắn rồi thì sao? Tôi cho rằng lại có một tên chó khác lên thay thế. Cuối cùng chỉ bọn dân đen chúng ta là gánh cái ách nặng nề của chế độ mục nát này mà thôi.

Người dân bấy giờ đã oán hận tên Quốc phó Trương Phúc Loan đến tận tâm can, mọi tai vạ trên đời xảy đến cho họ, họ đều đổ tội lên đầu tên Quốc phó. Riết rồi cái gì xấu xa, tàn ác, tham lam… họ đều dùng hai chữ “Quốc phó” để ám chỉ. Lắm khi họ còn thêm chữ “chó” phía trước cho đã miệng.

Người nói lúc trước lại hỏi:

– Như vậy theo bác thì phải tiêu diệt cả cái phủ Chúa này à?

– Đúng vậy.

– Ai có thể làm được chuyện to tát này?

– Những hiệp sĩ Truông Mây. Chỉ bọn họ mới có đủ bản lãnh và tư cách.

Một người khác lên tiếng:

– Tôi nghi ngờ lời nói của bác đấy. Hãy xem doanh trại ở Núi Bà của bọn họ kìa. Chỉ cần một lần ra quân thôi mà quan binh đã đốt cả trại cháy thành tro rồi thì còn nói gì đến chuyện lật đổ cả phủ Chúa?

– Tại bác không nắm rõ tình hình Truông Mây. Trại Phong An, Núi Bà chỉ là một căn cứ nhỏ mới thành lập. Tôi cho rằng họ chỉ tạm thời rút lui để bảo toàn lực lượng mà thôi. Lực lượng chính của họ là ở Hoài Ân. Bác không thấy hai năm nay họ âm thầm chiêu mộ nghĩa sĩ lên đó tụ nghĩa à? Ngày khởi binh của họ không còn xa nữa đâu. Bác hãy chờ mà xem.

– Cầu trời được như lời bác nói. Tôi dù có chết đói cũng sẽ chia hạt muối làm hai để ủng hộ Truông Mây.

Những lời bàn tán đại loại như thế không chỉ có ở những người dân tại phủ thành Quy Nhơn mà nó còn lan truyền ra khắp cả một dải đất từ sông Gianh vào đến tận Trấn Biên, Gia Định. Bấy lâu nay, người dân bị bọn quan quyền cậy thế áp bức, vì thấp cổ bé miệng nên họ đành cúi đầu cam chịu. Hành động của các hiệp sĩ Truông Mây như thể một đám mây đen vần vũ trên bầu trời đã nắng hạn dài ngày. Nó khơi dậy trong lòng mọi người một tia hi vọng. Họ mơ ước đám mây đen kia sẽ kết tụ thành một cơn mưa lớn tưới ướt những mảnh đời héo khô, cằn cỗi lâu ngày của họ. Họ hi vọng sẽ có một cuộc đổi đời, một cuộc chiến tranh chính nghĩa dù họ thừa biết rằng chiến tranh là đổ vỡ, là phân ly và chết chóc. Mà một khi tất cả mọi người đều muốn có chiến tranh thì không chóng thì chầy chiến tranh sẽ bùng nổ.

Ước mơ và hy vọng chỉ là những biểu hiện vô hình, nhưng với sự kết hợp to lớn của số đông, nó chính là mồi lửa để châm vào ngòi nổ của một trái nổ. Trái nổ không tạo nên bởi thuốc nổ, nó được tạo nên bởi sự dồn nén tột cùng của áp bức, bất công.

………..

(xem tiếp vào ngày mai)