Kỳ 132:

Hồi thứ ba mươi lăm

Núi Lạc Phụng, Hoàng Kim Phụng bỏ mình

Sông Phù Ly, Phan Ngọc Chánh hao binh

*

Tin các hiệp sĩ Truông Mây trong hai ngày đầu tiên ra quân đã chiếm gọn hai huyện Hoài Nhơn và Phù Ly làm chấn động toàn cõi Nam hà. Nhân dân khắp nơi hết sức vui mừng khi nghe được tin này, nhất là những người bấy lâu bị bạc đãi bởi triều đình. Tại phủ Quy Nhơn tình hình càng nghiêm trọng hơn. Nguyễn Khắc Tuyên đang lo sốt vó vì cái hẹn ba tháng với Phú Xuân. Hắn cho triệu tập các Trưởng binh, Cai đội… của phủ họp bàn cách đối phó, đồng thời gửi thư cấp báo về Phú Xuân. Nguyễn Khắc Tuyên nói:

– Bọn cướp Truông Mây chỉ trong vòng hai ngày đã phá tan hơn ba ngàn quân triều đình, chiếm mất hai huyện của ta, chứng tỏ lực lượng của chúng đã rất mạnh. Các ngươi có kế sách gì phá chúng không?

Viên Tán lý Lưu Khâm nói:

– Bọn cướp chẳng qua là bất thần dùng thế “sét đánh không kịp bưng tai” nên mới có thể chiến thắng một cách bất ngờ như thế chứ tôi cho rằng không có gì đáng ngại cả. Phủ Quy Nhơn còn gần một vạn quân mã, chúng ta cứ ra quân đánh cho chúng một trận tan tành, tiêu diệt luôn Truông Mây để trừ hậu hoạn. Chừng ấy Phú Xuân sẽ hết coi thường phủ ta, biết đâu lại còn được ngài Quốc phó trọng thưởng nữa cũng nên.

– Kế hoạch ra quân thế nào?

Lưu Khâm rung đùi nói:

– Ta chia quân làm hai đạo. Cánh thứ nhất do bộ binh và kỵ binh theo hướng Phù Cát vượt qua sông Phù Ly tấn công mặt phía tây. Cánh thứ hai dùng thủy quân vào đầm Đạm Thủy, đổ bộ đánh lên từ phía đông. Hai cánh quân này như hai gọng kìm siết lại thì bọn cướp cạn Truông Mây chỉ còn nước rút về Hoài Nhơn. Lúc ấy, ta thừa thế đem một cánh qua đèo Màn Lăng, một cánh vượt đèo Lại Khánh đánh chiếm lại huyện sở Hoài Nhơn, sau đó đánh úp tiêu diệt luôn Truông Mây, cắt đầu thằng Lía.

Nguyễn Khắc Tuyên cùng các tướng nghe kế hoạch của Lưu Khâm ai nấy đều như mở cờ trong bụng. Tướng Phan Ngọc Chánh, người có gương mặt đỏ hồng, sức khỏe cử nổi ngàn cân, chuyên sử dụng đồng côn với biệt hiệu Thiết Côn Vô Địch vội lên tiếng:

– Tôi xin thống lãnh ba ngàn quân bộ và quân kỵ làm cánh thứ nhất.

Khắc Tuyên hỏi:

– Tướng quân cần ai đi tiên phuông?

– Tôi xin tiến cử Võ cử Đặng Thông.

– Tốt lắm! Đặng Thông là người văn võ song toàn, có thể đi tiên phuông được. Còn cánh thứ hai ai dám đảm trách?

Lưu Khâm nói:

– Cánh thứ hai nên giao cho thống lãnh thủy quân của cửa biển Quy Nhơn là Hoàng Kim Phụng và phó tướng Phạm Kiến Tính ở Càn Dương. Cho họ mang theo ba ngàn quân thủy bộ đánh mặt đông là được.

– Thế thì tốt lắm! Vậy chừng nào có thể xuất quân?

Lưu Khâm trả lời ngay:

– Nội trong năm ngày nữa.

Phan Ngọc Chánh phản đối:

– Năm ngày? Ông tưởng rằng xuất quân đánh trận như kéo nhau đi xem hát bội hay sao?

Lưu Khâm hỏi:

– Chứ ông định chừng nào?

– Ít nhất là mười ngày. Bọn lính tráng bấy lâu rảnh rỗi, các ông lại nhận tiền đút lót, tuyển toàn là những tên già nua ốm đói. Tôi cần phải có thời gian để chuẩn bị thao luyện lại cho bọn họ, nếu không, đưa họ ra trận khác nào đưa dê vào miệng cọp.

Lưu Khâm nghe Phan Ngọc Chánh nói xỏ mình trong bụng giận lắm. Hắn vặn vẹo lại:

– Mười ngày? Việc binh như cứu hỏa mà ông đợi những mười ngày, ông tính để bọn giặc đến cướp luôn thành Quy Nhơn này rồi mới ra quân phải không?

Phan Ngọc Chánh mặt đã đỏ nay càng đỏ hơn:

– Tôi là tướng cầm quân ra trận, nắm giữ tính mạng của hàng ngàn binh sĩ trong tay, tôi biết việc gì nên làm việc gì không nên. Ông cứ ngồi ở nhà mà giữ đống của cải của ông đi, đừng chen vào việc quân của tôi.

Lưu Khâm đỏ mặt nói lớn:

– Tôi nghe danh ông là hổ tướng của phủ Quy Nhơn mà, sao nay chỉ một bọn cướp cạn Truông Mây mà ông đã có vẻ sợ sệt như thế?

Ngọc Chánh cũng to tiếng trả lại:

– Cướp cạn? Ông có thấy danh tướng Trương Độ không? Chỉ một trận thôi mà đã thảm bại tan tác dưới tay bọn Truông Mây rồi. Ông ta là tướng giỏi của triều đình đó. Bọn áo dài bụng lớn như các ông chỉ biết giết dân chứ làm gì biết giết giặc mà lớn tiếng phê phán?

Nguyễn Khắc Tuyên lên tiếng can:

– Các ông thôi đi. Thôi được rồi, ông Chánh cứ về chuẩn bị đi. Mười ngày sau xuất quân cũng được.

Phan ngọc Chánh cùng các tướng hằn học ra về.

Trần Lâm vừa kéo quân vào đến Phù Ly thì đã nhận được tin thám báo binh phủ Quy Nhơn dự định chia hai cánh làm thành thế gọng kìm tấn công nghĩa binh. Lâm dự trù mọi kế hoạch rồi cho mời các đầu lĩnh lại để bàn cách đối phó. Trần Lâm nói:

– Nay phủ Quy Nhơn chia hai cánh đánh ép là có ý muốn dồn ta trở về lại Hoài Nhơn, sau đó thừa thế tấn công luôn Truông Mây. Cánh thứ nhất sẽ theo đường Phù Cát qua sông Phù Ly tấn công ta ở phía tây. Cánh này do Phan Ngọc Chánh chỉ huy, Đặng Thông làm tiên phuông. Ngọc Chánh là vị tướng giỏi lại già kinh nghiệm, cây đồng côn của ông ta muôn người khó địch. Đặng Thông tuy còn trẻ nhưng là người văn võ song toàn, đã từng đoạt chức Võ cử Quy Nhơn. Bảy mươi hai thế Bàn long kiếm và Hầu quyền của hắn biến hóa khó lường. Hai người này chúng ta không thể xem thường được. Ai dám lãnh một cánh quân ứng chiến với đạo quân này?

Trương Bàng Châu lên tiếng:

– Tôi có biết Phan Ngọc Chánh, tôi xin lãnh binh mặt này để gặp ông ta và nói thiệt hơn vài lời. Nếu ông ta không nghe phải trái, tôi sẽ ra tay trừ đi.

Trần Lâm mừng rỡ nói:

– Đã có Trương huynh ra trận thì tôi yên tâm rồi. Tôi xin đề cử Văn Bảo đi tiên phong cho anh để đối phó với Đặng Thông. Trương huynh cần bao nhiêu anh em?

– Chúng tôi xin một đánh ba, vị chi một ngàn anh em là đủ.

Trần Lâm vui vẻ nói:

– Nếu vậy tôi cũng chỉ xin một ngàn quân để cùng Đinh thúc và Vũ Tùng đánh mặt đông cho công bằng. Phần Lưu nhị ca trấn giữ Phù Ly.

Mọi người đang họp bàn thì có quân báo ngoài kia có một tráng sĩ đòi gặp thủ lĩnh Lía. Mọi người thấy lạ liền bước ra xem. Đó là một chàng thanh niên có dáng vẻ của một sơn nhân, thân hình vạm vỡ, bắp thịt cuồn cuộn đang chống cây côn đồng đứng giữa sân, trông thật uy phong lẫm liệt. Trần Lâm vội vã cúi chào.

– Chẳng hay tráng sĩ là người ở đâu, tìm thủ lĩnh của chúng tôi có việc gì cần chỉ bảo?

Người ấy dộng cây đồng côn xuống đất nói:

– Chỉ bảo thì không dám, chỉ là ta nghe đồn chú Lía ở Truông Mây có sức mạnh và đường côn vô địch nên mới đến đây muốn đấu thử năm trăm hiệp xem lời đồn có đúng thiệt hay không thôi.

Trần Lâm nghe kiểu nói chất phác, trung thực của người ấy thì biết ngay đây là một hào kiệt chốn sơn lâm nên lòng mừng thầm. Chàng nhã nhặn trả lời:

– Đáng tiếc đại ca chúng tôi không có ở đây để bồi tiếp tráng sĩ. Tráng sĩ có thể cho biết quí danh và là người từ đâu đến được chăng?

– Nhà ta bao đời ở trong vùng núi thẳm Thanh Hùng, chuyên nghề săn bắn và trồng cây Thạch Xương Bồ làm thuốc đem xuống Phù Ly đổi lấy thực phẩm. Vì thế người dưới này thường gọi ta là Thạch Xương Bồ tráng sĩ gì gì đó.

– Tráng sĩ đến đây chỉ là để thi tài cùng đại ca của chúng tôi thôi hay có việc gì khác nữa?

– Chỉ có vậy thôi, không có gì khác.

– Đáng tiếc đại ca lại không có ở đây. Tráng sĩ có thể cho chúng tôi hẹn dịp khác được không?

Thạch Xương Bồ lại dộng cây côn đồng xuống đất nói:

– Ta rất ít khi xuống núi nên chẳng có dịp nào khác nữa cả. Thật là đáng tiếc, đáng tiếc!

Trương Văn Bảo đứng bên lên tiếng:

– Đại ca ta không có ở đây, ta thay thế anh ấy tiếp tráng sĩ vài hiệp được chăng?

Thạch Xương Bồ nhìn Văn Bảo một lúc rồi hỏi:

– Bạn là ai? Trông dáng bạn mảnh khảnh như vậy liệu có chịu nổi cây đồng côn này chăng?

– Tôi là Trương Văn Bảo, là tứ đệ của đại ca Lía. Tôi xin dùng cây kiếm mỏng này để tiếp cây đồng côn của tráng sĩ trăm hiệp.

Thạch Xương Bồ cười ha hả nói:

– Cũng được, cũng được. Có đánh nhau là vui rồi, nhưng bạn phải coi chừng nhé, đao kiếm không có mắt đâu đấy.

– Xin tráng sĩ cứ tận hết sức mình, tôi sẽ cố gắng.

Trần Lâm nói nhỏ với Văn Bảo:

– Người này khỏe vô cùng lại sử dụng binh khí nặng, tứ ca nên tránh sự va chạm, chỉ dùng sự linh hoạt dẻo dai để thủ thắng.

Văn Bảo gật đầu rồi tiến ra giữa sân đứng đối diện với Thạch Xương Bồ thủ thế. Thạch Xương Bồ tay cầm đồng côn múa một đường. Gió rít vù vù nghe thật ghê rợn, chứng tỏ sức mạnh đôi tay của chàng ta có thể đập vỡ đá tan bia. Văn Bảo thấy sức mạnh kinh hồn của đối phương cũng hơi chột dạ, nhưng chàng đã có kế sách đối phó nên ung dung cười nói:

– Sức mạnh của tráng sĩ thật kinh hồn, tiên khách hậu chủ, xin ra tay đi.

Thạch Xương Bồ cười ha hả nói:

– Được, ta tấn công đây!

Nói rồi chàng ta liền múa tít cây đồng côn tấn công Văn Bảo như vũ bão. Văn Bảo ung dung né tránh, thỉnh thoảng lại phản công một vài chiêu khiến cho Xương Bồ giật mình, thoái lui tránh đòn. Nhưng né xong, chàng ta lại xông vào tấn công tới tấp. Hai bên côn qua kiếm lại hơn năm mươi hiệp mà vẫn bất phân thắng bại. Xương Bồ bắt đầu nóng nảy, liền sử dụng chiêu Hoành tảo thiên quân quét ngang một đường như sấm sét vào bụng Văn Bảo. Văn Bảo thối hậu nửa bước rồi hóp bụng vào để đầu côn vút qua trong đường tơ kẽ tóc. Xương Bồ la lớn:

– Hay lắm, đỡ tiếp chiêu này!

Liền chuyển thế phạt thành thế Phi tiễn xuyên tâm đâm thẳng vào ngực Văn Bảo. Văn Bảo bước chéo sang bên trái, tay kiếm quay loang loáng theo thế Xà hình kiếm, thân kiếm uyển chuyển quấn quanh đầu côn rồi thừa thế gạt mạnh sang phải. Xương Bồ bị bất ngờ, cả thân người chao nghiêng sang trái nửa bước theo đà côn bị hất sang. Văn Bảo không bỏ lỡ cơ hội liền biến kiếm chiêu thành thế Kim phụng chiêu dương, mũi kiếm đâm chếch lên yết hầu của Thạch Xương Bồ. Xương Bồ kinh hãi vội ngửa người để cho mũi kiếm lướt qua cằm trong gang tấc. Mọi người đứng ngoài vỗ tay khen ngợi ầm ĩ. Văn Bảo lại tiếp tục lướt tới, hạ thấp người, dùng chân trái tung ra một đường Phục hổ triển thân quét vào chân phải của Xương Bồ. Nếu để trúng đòn này chắc chắn Xương Bồ sẽ té ngã ngay tức khắc nhưng chàng ta rất mau lẹ, đã thọc ngược đầu côn đang cầm về phía sau. Côn vừa chạm mặt đất, chàng ta đã mượn thân côn làm trụ và tung ngược người lên cao theo thế Lý ngư vượt đỉnh. Sau đó chàng đảo người trên không biến thành thế Ly miêu thám địa đáp xuống đất, hoành côn thủ thế trông hết sức đẹp mắt. Mọi người lại được dịp vỗ tay tán thưởng.

Trần Lâm đứng ngoài quan sát thấy đường côn của Xương Bồ vừa mạnh bạo vừa kín đáo, công thủ thật nhịp nhàng, dù thân hình to lớn nhưng thân pháp rất nhẹ nhàng, quả là một danh thủ về côn pháp. Chàng lục lại trong trí nhớ những danh gia về các môn võ Đại Việt xưa kia mà sư phụ chàng vẫn thường đề cập đến, bỗng chàng giật mình hét lớn:

– Dừng tay, đã qua trăm hiệp, chúng ta coi như hai bên bất phân thắng bại, có đấu tiếp cũng thế mà thôi.

Hai đấu thủ đang hăng say, nghe Trần Lâm kêu lớn, Văn Bảo bất thần vội tung người ra sau, ôm kiếm cúi chào:

– Văn Bảo tôi xưa nay mới có được một trận đấu hào hứng như hôm nay. Xin bái phục, bái phục!

Thạch Xương Bồ cũng dộng đồng côn xuống đất mấy cái cười ha hả:

– Quá đã, quá đã! Bao nhiêu năm tập luyện, hôm nay mới có dịp đánh một trận sướng tay. Bái phục, bái phục!

Trần Lâm bước ra cúi chào Xương Bồ rồi nói:

– Lâm tôi bình sinh mới thấy được đường côn siêu quần bạt tụy này. Nếu tôi đoán không lầm thì tráng sĩ thuộc dòng họ Đinh phải không?

Xương Bồ trợn mắt tỏ vẻ kinh ngạc hỏi lại:

– Sao bạn biết?

– Trong toàn cõi Đại Việt, đường côn này và thân pháp thoát thân mà tráng sĩ vừa biểu diễn ban nãy chỉ có mỗi Đinh gia mới làm được thôi. Do đó tôi đoán chắc tráng sĩ là hậu duệ của thượng tướng Đinh Điền dưới trướng của Đinh Tiên Hoàng ngày xưa.

Thạch Xương Bồ lòng vô cùng khâm phục kiến thức sâu rộng của Trần Lâm. Chàng ta chắp tay xá dài nói:

– Cặp mắt của bạn quả nhiên lợi hại. Tôi đúng họ Đinh, tên là Đinh Cường. Thượng tướng Đinh Điền chính là ông tổ của tôi.

Mọi người thốt lên kinh ngạc. Trần Lâm chắp tay xá lại rồi nói:

– Thật là vạn hạnh, vạn hạnh! Hôm nay gặp được truyền nhân của danh thần ngày xưa, Truông Mây quả là có phước lớn. Mời Đinh tráng sĩ vào trong, chúng ta cùng uống vài chung đàm đàm đạo để thỏa tình tri ngộ được chăng?

Đinh Cường cười ha hả:

– Các bạn không cần khách sáo, ta cũng đang khát nước đây, có gì mà được với không được.

Rồi tất cả trở vào trong. Mọi người chia nhau ngồi nơi bộ tràng kỷ ở khách sảnh. Trần Lâm cho người đem rượu lên, chàng rót đầy các chung rồi giới thiệu mọi người với Đinh Cường, xong nói:

– Chúng tôi xin mời Đinh huynh một chung mừng duyên gặp mặt.

Tất cả nâng ly uống cạn:

– Mừng gặp mặt!

Sau đó, Văn Bảo và những người có mặt mỗi người một chung uống mừng Đinh Cường. Chàng ta vui vẻ uống hết những chung rượu mời. Đoạn, chàng ta đứng lên, tự mình rót đầy các chung nói lớn:

– Đinh Cường tôi bấy lâu sống nơi sơn dã không bạn bè đối ẩm, hôm nay gặp được nhiều bằng hữu như thế này quả thật là một điều vui sướng lớn trong đời. Xin mời tất cả một chung để mừng ngày hội ngộ.

Sau đó ngửa cổ uống cạn. Mọi người cũng đứng lên uống cạn ly của mình. Trần Lâm lại rót đầy các ly, ôn tồn mở lời:

– Đinh huynh mang trong mình một thân tuyệt nghệ, lại di truyền dòng máu anh hùng của tổ tiên, vì sao lại ẩn mình nơi thảo dã há chẳng uổng đời trai trong thời buổi ly loạn đảo điên này ư?

Đinh Cường bưng ly rượu lên uống cạn nói:

– Tổ tiên tôi từ sau lần cùng danh thần Nguyễn Bặc mưu đánh Lê Hoàn để giữ lại cơ nghiệp cho Đinh Tiên Hoàng không thành nên phải tự vận, con cháu vì sợ Lê Hoàn truy sát đã ly tán khắp nơi. Chi của tôi lưu lạc đến xứ Phù Ly này từ sau thời Lê Thánh Tông đánh chiếm Đồ Bàn, thấy ngọn Thanh Hùng Sơn và Điệp Thạch Sơn kỳ vĩ nên đã dừng chân và chọn nơi đây xây dựng trang trại trồng cây nuôi ngựa, sống đời thảo dã, không muốn tham dự quan trường.

– Nhà họ Đinh ở Bằng Châu, Tuy Viễn có liên hệ thế nào với huynh?

– Họ cũng là hậu duệ của những dòng dõi mang quốc thích Đinh Tiên Hoàng ở Ninh Bình nhưng không có liên hệ huyết thống với chúng tôi.

– Lúc này tên Quốc phó Trương Phúc Loan chuyên quyền làm đảo điên phép nước, sưu cao thuế nặng khiến người người phải bỏ quê nhà lang thang đói khổ. Chúng tôi với bầu nhiệt huyết muốn vì dân tiêu trừ tặc đảng để mang lại cơm no áo ấm cho mọi người nên mới tụ họp nhau nơi đây. Đinh huynh vốn dòng hào kiệt sao nỡ làm ngơ ngồi nhìn bá tánh lầm than?

Đinh Cường tự rót cho mình một ly rượu nữa rồi nâng ly uống cạn.

– Mấy năm nay nhìn đồng bào đói khổ, dân xiêu tán xin ăn từ khắp nơi đổ về Phù Ly ngày càng nhiều, tiếng kêu than dậy đất, lòng tôi cũng sôi lên bầu nhiệt huyết nhưng chưa biết phải làm gì. Nay thấy Truông Mây dấy nghĩa nên có ý tìm đến xem thử hư thực thế nào, hầu góp một chút sức mọn giúp cho đồng bào ruột thịt của mình.

Trần Lâm và mọi người nghe Đinh Cường nói thì ai nấy đều hớn hở đứng lên. Văn Bảo rót tràn những ly rượu rồi nói:

– Không đánh nhau không biết là bạn tốt. Truông Mây hôm nay có thêm được Đinh huynh góp sức thật là phước lớn của mọi người. Chúng ta uống cạn chung này, thề sống chết có nhau để mưu cầu hạnh phúc cho đồng bào. Đinh huynh nghĩ sao?

Đinh Cường nâng ly mời:

– Thề sống chết có nhau!

Mọi người vui vẻ uống cạn. Trần Lâm nói:

– Chúng tôi đang phải chia quân làm hai đạo để đón đánh quân binh phủ Quy Nhơn. Tôi muốn nhờ Đinh huynh cùng Trương Bằng Châu và Văn Bảo đem một cánh quân đánh mặt phía tây, ý Đinh huynh thế nào?

Đinh Cường khảng khái nói:

– Lâm huynh cứ tự nhiên phân phối nhiệm vụ, không cần hỏi han. Tôi sẽ y theo lệnh thi hành.

– Thật là sảng khoái! Vậy chúng ta chuẩn bị xuất quân.

Mọi người vui vẻ ai đi lo phận sự nấy.

***

Năm Mậu Tý 1768, chỉ mới sắp sửa vào tiết Cốc Vũ mà khí trời đã oi bức vô cùng. Cái nóng của đất trời hợp với khói lửa chiến chinh đã biến cõi trần gian này thành một bể trầm luân mà những người dân khốn khó đang phải lặn hụp trong đó. Tuy vậy mọi người đều cảm thấy vui mừng vì trong lòng họ đang nảy mầm hi vọng. Niềm hi vọng đơn sơ là diệt cho được tên Quốc phó và bè lũ, tìm lại được miếng cơm manh áo mà họ đang thiếu, vô cùng thiếu. Họ hi vọng sẽ có được một trật tự mới, một xã hội mới, một cuộc sống mới. Chỉ với niềm hi vọng đó, nhiều người trong số họ đã không tiếc máu xương để trở thành những phần tử cấu thành chiến tranh.

Cho nên, chiến tranh dù tàn khốc vẫn có lý lẽ và tiếng nói riêng của nó. Cái lý lẽ và tiếng nói của sự thèm khát tự do khi bị áp bức, của nghèo đói muốn được ấm no, của bất công muốn tìm lấy công bằng, của chính nghĩa muốn đập tan phi nghĩa… Bởi vậy khi phê bình về một cuộc nổi loạn, một cuộc chiến tranh, người đương cuộc có cái nhìn khác với những người trong tương lai khi nhìn về quá khứ và kẻ đương quyền đánh giá khác với người bị trị. Từ đó giá trị thực của một cuộc chiến tranh thường bị bóp méo hay vo tròn tùy theo vị trí của người có quyền thẩm định nó. Và kẻ chiến thắng luôn là kẻ có quyền thẩm định, bởi vậy, lắm khi có những cuộc nổi dậy, những người anh hùng đã bị bỏ quên theo dĩ vãng, theo thời gian.

Con người vốn không muốn có chiến tranh, nhưng lịch sử nhân loại đã có hàng ức vạn cuộc chiến, chính nghĩa có mà phi nghĩa cũng có. Suy cho cùng, đó cũng chỉ là quy luật của tiến hóa, tồn vong, sinh tử… Quy luật của những cặp đôi lưỡng cực song hành theo tự nhiên mà có vậy.

*

Tại thành Phù Ly, trong khi Trần Lâm đang chuẩn bị binh mã để kéo xuống mặt đông chặn cánh quân thứ hai của triều đình thì Tín Nhi đã mang tin từ Đá Vách về đến. Trần Lâm vỗ vai Tín Nhi nói:

– Đệ giỏi lắm, nghỉ ngơi một chút đã rồi kể huynh nghe mọi việc ở đó thế nào.

Tín Nhi cười hi hi nói:

– Để đệ nói luôn rồi nghỉ ngơi sau cũng được. Tù trưởng H’Phon gởi lời hỏi thăm Lâm ca, cả H’Linh nữa. Hi hi… Ông ta bảo rằng sẽ chuẩn bị ra quân ngay. Ông ta đã tập hợp được gần bốn ngàn quân bộ và kỵ của các bản dân tộc trong vùng và sẽ theo đúng kế hoạch của Lâm ca là đem quân vượt lũy đánh phá hai huyện Mộ Hoa và Chương Nghĩa, sau đó rút về chờ ngày Truông Mây tấn công ra Quảng Ngãi sẽ hợp binh chiếm phủ thành Tư Nghĩa. Ông ta còn báo một tin buồn đó là già làng đang bị bệnh rất nặng, chắc sẽ không qua khỏi. Đệ nghe nói rằng già làng đã xin H’Phon hứa gả H’Linh cho con nuôi của ông ta là A Nun để có thể yên lòng nhắm mắt, nhưng H’Linh nhất quyết cự tuyệt nên việc không thành.

Nói tới đây nó nheo mắt cười hi hi có vẻ bí mật rồi tiếp:

– Đệ theo lời dặn của Lâm ca, rủ H’Linh đấu kiếm, nàng dẫn đệ đến một nơi cao lắm, có thể trông thấy cả vùng Thạch Bích Sơn hùng vĩ. Ái chà, cô gái đó trông hiền lành như tiên nữ vậy mà xuất chiêu nhanh và mạnh mẽ không thể tưởng được. Hi hi… đệ cứ bị cô ta gí kiếm vào yết hầu mấy lần nên đành giơ tay đầu hàng. Hic hic…

Trần Lâm cũng cười:

– Vậy là H’Linh có chịu khó tập luyện đấy. Đệ phải cố gắng lên, lần sau đừng để cô ta gí kiếm vào cổ nữa. Công việc coi như tạm ổn, chúng ta đỡ lo về mặt bắc rồi. À, còn chuyến trở về ra sao?

Nét mặt Tín Nhi lộ vẻ nghiêm trọng nói:

– Đệ có ghé qua đèo Thạch Tân gặp lúc Hồ tam ca đang say mèm. Đệ không muốn đánh động anh ta nên chỉ hỏi thăm anh em ở đó vài điều rồi đi ngay.

Trần Lâm nghe nói mặt biến sắc nhưng chàng trấn tỉnh lại ngay hỏi:

– Việc bố phòng thế nào?

– Phó trại Trịnh Tòng nói rằng mọi việc đều sắp xếp theo đúng kế hoạch mà Lâm ca đã dặn.

Trần Lâm thở phào:

– Cảm ơn đệ. Thôi lo ăn uống nghỉ ngơi đi. Chúng ta sắp đánh nhau lớn với quân triều đình rồi đó.

Tín Nhi vừa huýt gió vừa chạy ra ngoài. Trần Lâm viết vội mấy chữ, niêm phong cẩn thận rồi đưa cho một thám báo bảo phải trao gấp phong thư này cho Lía. Tên thám báo vội vã lên đường đi ngay.

Nói về Hoàng Kim Phụng đang nắm giữ thủy quân tại cửa biển Quy Nhơn, khi ông nhận được lệnh của phủ truyền xuống liền kiểm duyệt binh mã cùng chiến thuyền để điều quân ra đầm Đạm Thủy, đổ bộ lên cửa sông Phù Ly. Hoàng Kim Phụng trước phục vụ trong vệ thủy quân của Phó Đề đốc Vương ở Phiên Trấn, sau được thăng chức Vệ úy và được điều về nắm giữ thủy quân ở cửa biển Quy Nhơn. Khi hai toán quân thủy – bộ gặp nhau ở bờ Đạm Thủy, ông tiếp tục kéo quân qua khỏi chợ Gành đến Chánh Thiện để hội binh cùng đạo quân Càn Dương của Phạm Kiến Tính đang tụ tập ở Gò Kho. Hoàng Kim Phụng cho mời Kiến Tính cùng các phó tướng đến bàn bạc. Ông nói:

– Lần này phủ Quy Nhơn huy động gần như toàn bộ minh mã để phá giặc cướp, cho thấy tình hình rất nghiêm trọng. Chúng ta phải thắng trận này nếu không thì quân đội phủ Quy Nhơn coi như tan vỡ. Các ông có cao kiến gì không?

Kiến Tính nói:

– Tôi nghe nói bọn Truông Mây có một vị quân sư tuổi còn trẻ nhưng mưu thâm trí viễn, liệu việc như thần, nhờ đó mà chỉ trong một thời gian ngắn chúng đã có thể chiếm gọn hai huyện Phù Ly và Hoài Nhơn. Vì vậy lần này ra quân, chúng ta phải hết sức cẩn trọng, không nên khinh chúng là bọn cướp cạn mà sơ suất như hai huyện kia.

– Tướng quân biết địch biết ta như thế là rất tốt. Vậy theo ý Tướng quân thì ta nên tiến binh như thế nào?

– Theo thiển ý của tôi, chúng ta nên chia quân làm hai đạo. Một đạo qua sông Phù Ly đánh trực diện vào mặt nam Phù Mỹ để hợp với cánh quân của Phan Ngọc Chánh ở mặt tây. Một đạo kéo theo ngả Chánh Trực, vượt đèo Ô Phi, vòng sau lưng đánh bọc lại để chặn lối về Lại Khánh của chúng. Chúng ta ba mặt ép chúng vào giữa, chắc chắn sẽ tiêu diệt được trọn ổ.

Hoàng Kim Phụng tán thưởng:

– Kế hoạch hành binh như vậy thật là hoàn hảo. Tướng quân sẵn binh bản bộ ở Càn Dương, Đạm Thủy thì cứ đánh ngả thứ nhất, tôi xin đem binh Quy Nhơn theo ngả đèo Ô Phi để đánh bọc hậu, Tướng quân thấy thế nào?

Kiến Tính ngập ngừng:

– Như vậy cũng được, có điều Tướng quân đi ngả núi Lạc Phụng e…

Hoàng Kim Phụng cười xòa:

– Tướng quân đừng lo nghĩ xa quá. Những chuyện mê tín kiểu ấy tôi chưa bao giờ để tâm tới. Với tôi, con người phải làm chủ được vận mệnh của mình mới là kẻ trí và dũng.

– Tướng quân nói phải. Vậy chúng ta cứ theo kế hoạch đó mà tiến binh.

– Bao giờ thì xuất quân được?

– Chúng ta nên chờ cánh quân phía tây để cùng nhau ra quân một lúc, như vậy sẽ khiến cho chúng rơi vào thế lưỡng đầu thọ địch. Vả lại mình cũng cần thao luyện binh mã một chút để lấy lại hào khí.

– Thế cũng tốt.

Toán thám báo của Truông Mây làm việc rất hiệu qủa. Mọi động tĩnh của quân triều đình đều được báo cáo về cho Trần Lâm cũng như các toán quân bên ngoài. Trần Lâm liền dặn dò Đinh Hồng Liệt và Vũ Tùng:

– Đinh thúc và Vũ Tùng huynh mang theo bảy trăm anh em chặn đánh đạo quân hai ngàn người ngựa của Phạm Kiến Tính ở Trung Thứ. Kiến Tính với con ngựa Thiết Hoa và cây Luyện tử kim thương đã vang danh là Càn Dương bất bại tướng, hai người phải cẩn trọng.

Vũ Tùng cau mày:

– Địch quân bên cánh của huynh đông hơn, sao huynh chỉ dẫn theo có ba trăm quân? Huynh lo chúng tôi không thắng nổi địch ư?

Trần Lâm cười nói:

– Vũ Tùng huynh đừng hiểu lầm. Cánh của tôi đã có viện binh, còn đông binh đông tướng hơn bên này nữa là đằng khác.

– Ra là vậy! Xin lỗi, tôi chỉ lo cho huynh mà thôi. Giờ thì tôi an tâm rồi.

Trần Lâm gọi Thiên Tường vào dặn dò:

– Đệ đem một trăm anh em trong đội thần mã, mang theo cung tên và đồ dẫn hỏa rồi làm như vầy… như vầy… Ta sẽ cho thêm người tiếp viện.

Thiên Tường lãnh mạng đi ngay.

Trần Lâm lại gọi một tên thám báo đến dặn:

– Ngươi dùng một con ngựa tốt mang gấp thư này về cửa An Dũ trao cho Lam Tiểu Muội. Bảo cô ta phải làm ngay không được sơ sót.

Tên thám báo vâng dạ rồi đi ngay.

Sau đó, các toán quân chia nhau rầm rộ lên đường, khí thế thật hùng dũng, nhiệt huyết dâng tràn.

***

Toán quân của Lam Tiểu Muội, Hồng Y Nữ và Võ Tiến từ Lại Khánh qua sông Lại Dương, lần lượt tiêu diệt các trại binh nhỏ rồi tiến xuống cửa An Dũ. Thủy trại ở đây có khoảng hai mươi chiến thuyền và ba trăm lính thủy canh giữ. Suốt một thời gian dài nhàn hạ, bọn lính chỉ canh đám con buôn trốn thuế cho huyện nhà và cho quan Quốc phó, thế nên toán quân của Lam Tiêu Muội chẳng khó khăn gì để vừa giết vừa bắt trọn ổ đám lính vô công rỗi nghề này. Một số khi nghe giải thích về cuộc khởi nghĩa của Truông Mây đã đồng ý ở lại với nghĩa binh, số còn lại được trả tự do về nhà. Võ Tiến vốn có biệt tài về thủy chiến nên đã cho sắp xếp lại đồn trại và phân bố nghĩa binh trên những chiến thuyền, chia đội thuyền thành năm toán thay phiên nhau tuần tra cửa biển.

Hai hôm sau, Lam Tiểu Muội đưa Hồng Y Nữ đi thăm nhà cũ và tế mộ nghĩa phụ của mình. Đó là một căn nhà nhỏ trên bờ Lại Dương, nơi mà hơn mười năm về trước, khi nàng tuyệt vọng trầm mình xuống sông đã được nghĩa phụ vớt lên và nuôi nấng dạy dỗ suốt mấy năm trời. Cảnh cũ vườn xưa đã gợi lên trong lòng Tiểu Muội một nỗi thương tâm khiến nàng không cầm được nước mắt. Hồng Y Nữ động lòng an ủi:

– Lam tỷ đừng buồn nữa. Nghĩa phụ tỷ mất lâu rồi, giờ hẳn linh hồn người đã siêu thoát, thương tiếc mấy cũng không làm được gì hơn. Từ ngày gặp tỷ, thỉnh thoảng muội thấy tỷ trốn ngồi một mình buồn bã. Tỷ có thể chia sẻ với muội được không? À, đây là mồ nghĩa phụ, thế còn song thân của tỷ đâu?

Lam Tiểu Muội lau nước mắt nhìn Hồng Y Nữ, nét mặt trở lại vẻ bình thản nói:

– Gia đình tỷ ngày xưa ở trong một xóm nhỏ bên bờ Lại Dương gần Bồng Sơn. Cha của tỷ đi lính theo Nguyễn Cư Trinh vào nam đánh Cao Miên đã tử trận mất xác lúc tỷ mới có bảy tuổi.

Rồi với giọng nói buồn buồn, nàng tiếp tục kể lại cuộc đời của mình cho Hồng Liên nghe. Cuối cùng nàng nói bằng giọng tủi nhục:

– Cuộc đời của tỷ là như thế đó. Trăm cay ngàn đắng, đen tối ê chề.

Hồng Y Nữ cầm tay Tiểu Muội nhỏ nhẹ:

– Tỷ đừng buồn. Ai cũng có nỗi bất hạnh riêng của mình. Hãy nhìn nó như một điều hiển nhiên mà ta phải gặp trên đường đời thì rồi bất hạnh sẽ qua và hạnh phúc sẽ đến.

– Cảm ơn muội có lời an ủi, nhưng tỷ e rằng hai chữ hạnh phúc không dành cho đời mình.

– Sao tỷ lại bi quan đến độ đó? Xem nào…

Hồng Liên đưa tay nâng cằm Tiểu Muội lên nhìn chăm chú một lúc rồi nói tiếp:

– Này nhé, tỷ xinh đẹp, võ nghệ lại cao cường, thiếu gì anh hùng hảo hán chết mê chết mệt chứ? Tỷ hãy vứt bỏ những mặc cảm và bi quan đi, muội tin chắc tỷ sẽ có hạnh phúc.

Lam Tiểu Muội lắc đầu rồi hỏi:

– Muội đã yêu rồi phải không? Đừng chối nhé. Khi người mình yêu nhất tâm hờ hững và rồi lấy vợ… À mà thôi, đừng nói chuyện đó nữa.

– A! Muội hiểu ra rồi. Ân nhân cứu mạng. Sư phụ truyền cho võ nghệ và… và rồi tỷ yêu người ấy phải không?

Lam Tiểu Muội đỏ mặt:

– Muội đừng nói nữa. Phải hay không thì giờ cũng vô dụng rồi.

Hồng Y Nữ chưa chịu buông tha hỏi tiếp:

– Tỷ ở Truông Mây, kề bên người ta bao nhiêu năm sao lại không nói ra, để bây giờ ngồi than là vô dụng?

Lam Tiểu Muội cúi đầu, lấy ngón tay vẽ những đường ngoằn ngoèo trên mặt đất.

– Muội nghĩ tấm thân tỷ như thế này lại có đủ can đảm mở miệng ư?

Hồng Y Nữ cầm tay Tiểu Muội thật chặt và nói:

– Từ nay muội sẽ là người thân thiết nhất của tỷ. Chị em ta sống chết có nhau.

Lam Tiểu Muội nhìn Hồng Y Nữ bằng ánh mắt biết ơn. Nàng cảm động nói:

– Cảm ơn muội, chúng ta sống chết có nhau. Thôi chúng ta về đi.

Họ nắm tay nhau đi dọc theo bờ sông trở lại trại. Hai con người, một cuộc đời nhung lụa, một cuộc đời cùng khổ, giờ khắng khít yêu thương nhau. Tình thương chân thật đã xóa bỏ tất cả những dị biệt giữa hai người. Nếu mọi người đều trao ra tình thương chân thật để nhận lại tình thương chân thật thì nhân loại sẽ dứt tuyệt những khổ đau phiền não.

Khi họ về đến trại thì có mật thư của Trần Lâm gởi đến. Lam Tiểu Muội đọc xong thư liền cùng Hồng Y Nữ và Võ Tiến cấp tốc thực hiện kế hoạch Trần Lâm đã giao phó.

***

Hôm ấy, đạo quân của Hoàng Kim Phụng hàng ngũ chỉnh tề rầm rộ tiến đến chân đèo Ô Phi. Khi tới dưới chân đèo, Hoàng Kim Phụng ngồi trên lưng con bạch mã quay sang nói với tả hữu:

– Đèo Ô Phi tuy không dài lắm nhưng khúc khuỷu gập ghềnh rất khó đi. Chúng ta phải vượt qua thật nhanh để tránh bị phục binh địch tấn công.

Viên phó tướng Bùi Tiến Hưng lên tiếng:

– Chúng ta hành quân nhanh thế này, địch quân dù có chấp cánh cũng chưa chắc đến nơi kịp. Tướng quân đâu cần phải lo chuyện phục binh.

– Ngươi nói cũng hợp lý, nhưng dù sao cũng phải qua khỏi đèo cho thật nhanh. Cẩn tắc vô ưu, đó là điều quan trọng khi hành quân. Ngươi hộ tống toán quân lương đi chậm lại, đợi ta qua khỏi đèo an toàn rồi hãy đưa lương thảo qua sau.

– Vâng, tướng quân nói phải.

Rồi Tiến Hưng quay ngựa lại, Kim Phụng và phó tướng Trần Kim Thể thúc quân vội vã lên đèo. Khi toán quân cuối cùng của Kim Phụng vừa lên đèo thì toán quân của Trần Lâm từ Phù Ly đi tắt qua hồ Hóc Nhạn cũng đã đến nơi. Trần Lâm nói với anh em:

– Chúng ta cứ ẩn thân nơi đây chờ toán quân của Võ Tiến đến. Có lẽ họ cũng sắp đến nơi rồi. Lúc đó chúng ta sẽ giải quyết toán quân lương này trước.

Một cơ trưởng ngạc nhiên hỏi:

– Võ Tiến đang ở cửa An Dũ mà?

– Đúng vậy, nhưng ta đã mật lệnh cho Võ Tiến dùng thuyền nhẹ chở một trăm anh em lẻn vào cửa Đề Gi chờ cho đội thuyền của Hoàng Kim Phụng đổ quân vừa đi khỏi xong thì lập tức tiêu diệt tất cả thủy thủ đoàn, chiếm các chiến thuyền mang đi nơi khác. Sau đó sẽ kéo đến chân đèo Ô Phi này hội quân cùng chúng ta.

– Quân sư tính toán đúng là như thần. Kỳ này Hoàng Kim Phụng hết đường về rồi. Nhưng mà chúng ta phục binh dưới chân đèo này để làm gì?

– Cả đạo binh của Hoàng Kim Phụng sẽ bị nhốt giữa con đèo hiểm trở này vì bên kia đèo đã bị Thiên Tường, Lam Tiểu Muội cùng Hồng Y Nữ cho anh em dùng đá bít chặt ở nơi hiểm yếu nhất rồi. Họ còn chuẩn bị vật dẫn hỏa để đánh một trận hỏa công nữa. Đầu bên kia thì bị lửa và tên loạn tiễn tấn công còn đầu bên này thì bị chúng ta chặn đánh, hai ngàn quân của Hoàng Kim Phụng coi như chỉ còn có cách nhảy xuống vực núi mà thôi. Hà! Kế hoạch này tàn ác thật nhưng chiến tranh mà, không thể làm khác hơn được. Bởi vậy nếu có thể kêu gọi được toàn binh triều đầu hàng thì hay biết mấy. Đồng bào ruột thịt của mình cả đấy.

Nói xong Trần Lâm thở dài. Viên cơ trưởng an ủi:

– Quân sư đừng buồn. Mình không giết họ thì họ cũng sẽ giết mình. Đã lao vào cuộc chiến thì phải có một bên chết để bên kia được sống. Đó là điều tự nhiên mà.

Mọi người đang nói chuyện thì thấy phía xa xa đã có một toán quân chạy đến. Thì ra là Võ Tiến dẫn khoảng bảy chục anh em nghĩa binh tìm đến. Võ Tiến chào Trần Lâm:

– Tiến tôi đã thực hiện đúng kế hoạch của quân sư không sai sót một chút nào, nay đưa anh em mang cung tên đến hội quân.

Trần Lâm hớn hở nói:

– Thật là tốt! Bây giờ chúng ta thanh toán đội tải lương của Hoàng Kim Phụng là vừa.

Nói xong chàng ra lệnh cho nghĩa binh la ó rầm trời xông ra tấn công toán quân chở lương. Bùi Tiến Hưng và đám binh triều bất ngờ bị tấn công nên đâm ra luống cuống tay chân, tinh thần hoảng loạn.

Võ Tiến giục ngựa tới hét lớn:

– Bùi Tiến Hưng, ngươi bảo anh em bỏ vũ khí đầu hàng đi. Cả đạo quân của Hoàng Kim Phụng đã bị đốt trên đèo rồi, các ngươi đừng chống cự vô ích.

Bùi Tiến Hưng trông thấy Võ Tiến thì giật mình kinh ngạc hỏi:

– Võ Tiến, ngươi ăn lộc Chúa bao năm sao lại trở lòng phản trắc theo bọn giặc cướp? Ngươi không thấy hổ thẹn với tổ tiên ngươi hay sao?

Võ Tiến cười lớn nói:

– Lộc của Chúa bây giờ hết ban phát cho con dân rồi, chỉ còn là những đồng tiền xương máu của nhân dân mà tên Quốc phó đã vơ vét rồi bố thí lại cho những tên tay sai của hắn như ngươi thôi. Nghĩa binh Truông Mây ra quân lần này là để tiêu diệt tên gian tặc Quốc phó, ngươi là người hiểu biết sao còn giúp cho tên giặc ấy giết dân mình?

Bùi Tiến Hưng nhìn đám quân sĩ của mình bị nghĩa binh Truông Mây đánh giết tơi bời, lại thấy phía sau Võ Tiến có một thanh niên mày thanh mục tú, phong thái ung dung đang ngồi trên lưng con Ô Truy nhìn mình mỉm cười, tự dưng hắn bỗng rúng động trong lòng. Hắn biết có tiếp tục chiến đấu cũng vô dụng, vả lại từ lâu hắn vốn đã căm ghét tên quan Quốc phó nên vội phất tay ra lệnh:

– Anh em hãy dừng tay! Chúng ta không nên hi sinh vô ích nữa.

Đồng thời hắn cũng nhảy xuống lưng ngựa bỏ đao chịu đầu hàng. Quân triều đình thấy chủ tướng bỏ khí giới nên vội vàng đồng loạt làm theo. Nghĩa binh cũng dừng tay không tấn công nữa.

Trần Lâm nhảy xuống ngựa, bước đến đỡ Bùi Tiến Hưng đứng dậy nói:

– Tướng quân hiểu được nghĩa lớn thật là phúc của thiên hạ. Từ nay chúng ta sát cánh bên nhau chiến đấu vì sự tự do và miếng cơm manh áo của đồng bào chúng ta.

Bùi Tiến Hưng nói:

– Đa tạ lòng bao dung của tướng quân. Hưng tôi từ lâu đã chán nản cảnh kỷ cương tan nát của phủ Chúa, những muốn giết chết tên gian tặc nhưng không biết phải làm sao. Nay nghĩa binh Truông Mây thế thiên hành đạo, rất hợp ý tôi. Tôi xin theo dưới trướng của Truông Mây, dẫu chết không từ.

Võ Tiến nhảy xuống ngựa nói:

– Từ nay chúng ta sát cánh bên nhau vì chính nghĩa mới, xã hội mới.

– Nhất định như vậy.

Trần Lâm nói:

– Để anh em lại đây cùng toán kỵ mã giữ quân lương, tướng quân cùng chúng tôi lên đèo đi.

Rồi chàng ra lệnh cho tất cả bộ binh lên đèo, chọn nơi hiểm yếu mai phục và chuẩn bị cung tên sẵn sàng chờ quân của Kim Phụng tháo chạy trở ra.

Nói về hai ngàn quân kỵ mã của Hoàng Kim Phụng đang cố vượt đèo Ô Phi thật nhanh, nhưng đường đèo càng lên cao càng gập ghềnh khúc khuỷu, lại chật hẹp nên rất khó đi. Khi toán tiền quân của Trần Kim Thể lên đến con dốc cuối cùng trên đỉnh đèo thì thấy lối đi đã bị đá chất cao thành đống như bức vách chặn lại. Đoạn dốc này một bên là vách núi sừng sững, một bên là vực sâu thăm thẳm. Kim Thể cho quân trở lui báo cho Kim Phụng biết. Kim Phụng vội thúc ngựa lên phía trước xem thử thì giật mình kinh hãi. Ông vội ra lệnh:

– Tất cả dừng lại và chuẩn bị, chúng ta bị phục binh rồi.

Lúc đó trên đỉnh núi có tiếng cười trong trẻo của hai cô gái vọng xuống:

– Hoàng Kim Phụng, đầu hàng đi. Ngươi đã trúng kế của quân sư ta rồi. Ngươi có biết núi này tên là gì không? Ngươi tên Kim Phụng mà vào núi Lạc Phụng này thì coi như con chim phụng đã gãy cánh rồi. Ha ha…

Hoàng Kim Phụng nghe nói chấn động tinh thần. Nhưng vốn là một vị tướng từng trải, dày dặn kinh nghiệm nên ông đã lấy lại bình tĩnh rất nhanh. Ông lớn tiếng đáp:

– Trúng kế rồi thì các ngươi làm gì được ta? Bọn cướp cạn các ngươi cứ trổ tài đi, những trò trẻ con ấy đâu có hù dọa được Kim Phụng này.

Nói xong ông giục ngựa tiên phong và hô quân tiến lên. Trên kia, Lam Tiểu Muội cười giòn giã nói:

– Ngươi không thức thời muốn chết sớm phải không? Được, hãy coi đây!

Nói rồi nàng liền phất cờ ra hiệu. Thiên Tường cho nghĩa binh lăn đá tảng từ trên dốc và trên đỉnh núi xuống. Hoàng Kim Phụng thất kinh vội quày ngựa tháo lui. Toán tiên phong của quân triều cũng mạnh ai nấy bỏ chạy, giẫm đạp lên nhau cố thoát khỏi trận mưa đá. Gần hai ngàn quân bây giờ hậu đội trở thành tiền đội quay lưng tháo chạy, quang cảnh hỗn loạn vô cùng. Sau đợt mưa đá là những cục lửa lớn cùng với loạn tiễn bắn xuống lòng đèo xối xả. Lửa bén vào những cây cỏ khô bốc cháy phừng phừng. Binh lính lớp bị trúng tên, lớp bị đốt cháy, lớp tự đạp lên nhau, xô nhau xuống vực mà chết nhiều vô số kể. Hoàng Kim Phụng tay múa tít thanh kiếm Thanh Hồng vừa gạt tên, vừa hối thúc quân sĩ tháo lui để một mình ông ở lại cản hậu. Bỗng có tiếng của Hồng Y Nữ la to:

– Hãy bắn vào con bạch mã, Hoàng Kim Phụng đang cưỡi con bạch mã kìa!

Tức thì bao nhiêu cung tiễn đều nhắm thẳng vào con bạch mã và Hoàng Kim Phụng. Dù cho đường kiếm của ông kín đáo vô cùng nhưng phần lửa cháy khắp nơi, phần quân sĩ hỗn loạn nên ông không thể nào chống đỡ được hết hàng loạt mũi tên bắn vào. Con bạch mã cuối cùng bị trúng tên ngã quị. Hoàng Kim Phụng nhảy xuống đất, ngửa mặt lên trời than:

– Đúng là hoàng thiên sắp đặt, Hoàng Kim Phụng ta đành bỏ mạng tại núi Lạc Phụng này rồi.

Lập tức, ông bị trúng mấy mũi tên bắn liên tiếp vào người nên quị xuống. Chỉ một giây sau, khắp người ông tên đã cắm tua tủa như lông nhím. Thương thay một đời danh tướng chỉ một phút sa cơ đành thảm tử. Đoàn quân mất chủ tướng lại càng bấn loạn hơn. Trần Kim Thể lẩn vào trong đám quân và tìm đường tháo lui trước. Bọn quân sĩ tranh nhau xô lấn khiến cho rất nhiều đồng đội của chúng bị rơi xuống vách núi chết mất xác. Khi đám loạn quân chạy ra gần khỏi đèo đã thấy có hai người cưỡi ngựa dẫn đầu một đoàn kỵ mã đứng chặn lối. Đám lính bấy giờ hết sức kinh hoàng, nhiều tên sợ quá đã té xỉu. Trần Lâm lên tiếng nói lớn:

– Hỡi các anh em, chúng tôi là những nghĩa sĩ ở Truông Mây, chỉ vì hận tên Quốc phó tàn ác nên mới đứng lên khởi nghĩa tiêu diệt hắn để cứu đồng bào chúng ta. Anh em ai cũng có vợ con, người thân và họ đang sống vô cùng khổ cực ở quê nhà vì tên cẩu tặc đó. Nay anh em đã lọt vào nơi đất chết, nhưng chúng tôi không muốn giết anh em vì biết anh em cũng chỉ là bất đắc dĩ nên mới cầm gươm ra trận. Anh em hãy nhìn chung quanh xem, một rừng tên đang chờ anh em ở đấy, anh em hãy buông khí giới đầu hàng để bảo toàn mạng sống. Ai vì nghĩa muốn giúp dân mình thì theo chúng tôi, còn ai muốn trở về nhà, chúng tôi sẽ để tự do ra về. Anh em có nghe tôi nói không?

Đám lính triều đình nhìn lên cao, thấy quả nhiên có mấy trăm cung thủ đang giương tên chĩa xuống đầu họ. Cả bọn liền từ từ buông bỏ vũ khí và nói lớn:

– Chúng tôi xin hàng!

Trần Lâm mừng rỡ:

– Rất tốt, anh em hãy thong thả xuống tập hợp nơi chân đèo Ô Phi, chúng ta sẽ nói chuyện với nhau ở đó.

Đương lúc ấy, trời bỗng kéo mây đen vần vũ, gió biển thổi vào từng cơn dữ dội, mang theo hơi nước mát lạnh. Cuối cùng, một cơn mưa như thác đổ xuống khiến cho mọi người ướt sũng. Nước mưa mát lạnh làm ai nấy đều cảm thấy tỉnh táo trở lại sau cơn nguy hiểm kinh hoàng tưởng chừng đã mất mạng vừa qua.

Trần Lâm dẫn toán kỵ mã và đám hàng binh xuống chân đèo. Đoàn quân hai ngàn người của Hoàng Kim Phụng khi lên đèo thì rầm rộ, giờ xuống đèo chỉ còn khoảng hơn ngàn tên lếch thếch. Khi toàn bộ đã tập hợp dưới chân đèo thì toán quân của Lam Tiểu Muội cũng đội mưa xuống tới. Họ mang theo cả xác của Hoàng Kim Phụng. Trần Lâm nói:

– Ông ta là một danh tướng. Hãy đem chôn xác ông ta cẩn thận.

Mấy nghĩa binh liền đem xác Hoàng Kim Phụng chôn nơi chân đèo. Trần Lâm đến trước mồ vái ba vái rồi nói với hai viên phó tướng và đám hàng binh:

– Anh em ai muốn theo nghĩa binh thì ở lại với chúng tôi, ai muốn trở về nhà thì cứ tự nhiên về. Nhớ là không nên làm lính đánh thuê cho tên cẩu tặc Quốc phó nữa. Nếu để chúng tôi bắt được lần hai thì sẽ giết không tha.

Bọn hàng binh dạ ran rồi từ từ giải tán. Số ở lại với nghĩa binh ước chừng được gần ngàn người. Trần Lâm hỏi phó tướng Trần Kim Thể:

– Chúng tôi đang cần những người tài năng như Tướng quân đây để giúp cho cuộc khởi nghĩa mau đến thắng lợi hầu làm giảm bớt xương máu của đồng bào, chẳng biết Tướng quân có vui lòng về giúp chúng tôi không?

Trần Kim Thể thấy Bùi Tiến Hưng cũng đã đầu hàng nên nói:

– Chúng tôi là bại tướng bị bắt, tướng quân đã không giết còn lấy lễ đãi người. Ân tình này chúng tôi nguyện theo phò trợ để đáp tạ.

Trần Lâm vui mừng nói:

– Đó là phước đức của đồng bào ta. Giờ hai vị hãy vào toán quân của Võ Tiến để cai quản đội thủy quân Đạm Thủy như cũ.

Hai tướng cúi đầu cảm tạ rồi quay sang ra mắt Võ Tiến.

Trần Lâm cất giọng tuyên bố với toàn thể binh sĩ:

– Từ nay tất cả sẽ là anh em, chúng ta sống chết có nhau, quyết tâm tiêu diệt tên Quốc phó để cứu đồng bào mình, anh em có đồng ý không?

Tất cả đồng thanh hô lớn:

– Đồng ý! Chúng tôi nguyện theo quân sư để tiêu diệt tên Quốc phó.

– Nghĩa sĩ Truông Mây vì nghĩa mà tiến lên, dù thấy chết cũng không bao giờ quay đầu bỏ chạy. Ai chưa có lệnh đã quay đầu sẽ bị chém tại chỗ, anh em có dám tiến lên không?

Tất cả đồng thanh hô lớn:

– Chúng tôi sẽ vì nghĩa tiến lên, quyết không quay đầu bỏ chạy!

Cả đám nghĩa quân đồng thanh hô lớn:

– Như vậy từ nay chúng ta là anh em, sống chết có nhau!

Đám hàng binh cũng hô lớn:

– Chúng ta là anh em, sống chết có nhau!

Sau đó Trần Lâm cho băng bó, chữa trị cho những người bị thương. Đích thân chàng cũng tham gia vào công việc này. Xong, chàng quay sang nói với Lam Tiểu Muội, Hồng Y Nữ và Thiên Tường:

– Các người làm việc thật xuất sắc. Thắng trận này là công lớn của Thiên Tường và hai tiểu muội đó.

Hồng Y Nữ nói:

– Là công của Lam tỷ cùng Thiên Tường đó. Chị ấy điều quân vào tiếp viện cho Thiên Tường thật là mau lẹ, năng nổ, muội chỉ góp một phần nhỏ xíu thôi hà.

Lam Tiểu Muội cười nói:

– Thôi đừng có tốt với tỉ quá như vậy. Thanh kiếm báu này tặng muội để thay cho lời cảm ơn đấy.

Nói rồi Tiểu Muội trao cây Thanh Hồng kiếm thu được của Hoàng Kim Phụng cho Hồng Y Nữ. Hồng Y Nữ mừng rỡ nói:

– Cảm ơn Lam tỷ. Từ lâu muội vẫn mơ có được một thanh kiếm báu như thế này.

Võ Tiến nói:

– Đây là thanh kiếm báu của người Tàu có từ thời cổ xưa, chém sắt như chém bùn đấy. Cô hãy thử xem.

Võ Tiến lấy một thanh đao cầm nơi tay, Hồng Y Nữ rút Thanh Hồng kiếm chém xuống. Ánh hồng quang nhoáng lên đã thấy cây đao bị tiện đứt ngọt. Hồng Y Nữ vui mừng reo lên:

– Quả là kiếm báu! Cảm ơn Lam tỷ lần nữa nhé.

Trời vẫn còn mưa như trút, Lam Tiểu Muội bỗng quay sang hỏi Trần Lâm:

– Tại sao Lâm ca lại chọn cách dùng hỏa công để đánh? Nếu không nhờ trận mưa này thì có phải là toàn bộ khu rừng đã bị cháy rụi hết rồi không?

Trần Lâm vuốt nước mưa trên mặt cười nói:

– Thật ra huynh đã có tính toán trước nên mới dám dùng hỏa công để có thể thu được kết quả nhanh chóng nhất. Ơn trời đã không phụ lòng chúng ta.

Võ Tiến hỏi:

– Lâm huynh tính toán thế nào?

– Nay đang tiết Cốc Vũ, vùng này lại gần biển, thêm vào đó năm nay trời nóng sớm cho nên tôi tin chắc là sẽ có những cơn mưa rào lớn. Do đó tôi đánh liều dụng hỏa công, cũng may mọi việc đều đúng như dự kiến.

Hai tướng mới qui hàng đồng thanh nói:

– Quân sư tính toán tài tình như thế, chúng tôi có bại trận cũng không lấy gì làm hổ thẹn.

– Mọi hiện tượng trong trời đất đều có quy luật của nó, nếu chúng ta chịu khó tìm tòi, ghi nhận thì sẽ tìm ra được nguồn cơn của chúng. Tuy nhiên, thành quả đạt được phần lớn cũng nhờ ở sự may mắn vì có nhiều điều con người không thể nào thực hiện được. Như cơn mưa đúng lúc bây giờ chẳng hạn. Cho nên đạo làm tướng, biết địch biết ta có thể nắm phần thắng chứ không nguy, biết trời biết đất mới thật là toàn thắng.

Mọi người nghe Trần Lâm giải thích đều lấy làm khâm phục vô cùng. Rồi chàng ra lệnh:

– Tất cả hãy dựng lều trại, chúng ta nghỉ ngơi tại đây. Sáng mai sẽ có việc mới phải làm.

Một nghĩa binh chạy lại nói:

– Lều của quân sư đã dựng xong, mời người vào đó tránh mưa và nghỉ ngơi.

– Cứ đợi tất cả anh em dựng xong lều trại rồi chúng ta cùng nghỉ ngơi.

Tên nghĩa binh cúi đầu nói:

– Vâng.

Bùi Tiến Hưng và Trần Kim Thể thấy Trần Lâm trại quân chưa dựng thì tự mình chưa vào nghỉ, lại đích thân tham gia băng bó cho các thương binh nên trong lòng cảm phục lắm. Làm tướng súy như thế, quân sĩ dẫu chết cũng sẽ không bỏ chạy. Thảo nào nghĩa binh có ít nhưng lại đánh đâu được đấy. Bởi họ trên dưới một lòng, yêu thương nhau như anh em một nhà.

Quân lính dựng trại xong mọi người nghỉ ngơi và ăn uống. Sau đó, Trần Lâm cho vời các đầu lĩnh, phó tướng đến trại trung ương của chàng họp. Chàng nói:

– Rạng sáng ngày mai, Võ Tiến, Lam muội và Liên muội cùng hai tướng Hưng và Thể đem theo một ngàn anh em đến cướp sạch lương thảo, binh khí, tài vật ở hai kho Đạm Thủy và Càn Dương. Một nửa chia cho anh em, một nửa để trữ trong kho. Võ Tiến, Bùi Tiến Hưng cùng năm trăm anh em ở lại giữ cửa Đề Gi, phần hai muội cùng Trần Kim Thể và ba trăm anh em dùng thuyền chở số lương thảo đó về Lại Dương giao cho chú Lê Trung. Ta sẽ cùng Thiên Tường dẫn toán kỵ binh đi tiếp viện cho hai cánh quân kia. Tất cả nghỉ ngơi cho khỏe, sáng mai lên đường.

***

Nói về Đinh Hồng Liệt và Vũ Tùng đem theo bảy trăm nghĩa binh đón đánh Phạm Kiến Tính. Vũ Tùng nói:

– Mọi việc xin lão tướng điều động, tôi xin vâng lệnh thi hành.

Hồng Liệt vui vẻ nói:

– Cánh quân của họ Phạm từ Gò Kho đến đây tất phải đi qua sông Phù Ly để tiến vào. Địa bàn vùng này tương đối thoáng, không có thế dụng binh, lực lượng chúng ta lại ít hơn cho nên chúng ta phải chờ họ ở phía tây Chánh Hội, nơi đó có một cửa núi có dốc hẹp, chúng ta chia nhau đóng giữ hai bên, đợi bọn chúng đến sẽ đánh thử một trận xem lực lượng của chúng thế nào rồi mình mới tìm kế phá giặc sau.

– Vậy chúng ta cứ làm theo kế hoạch đó.

Rồi họ chia quân đóng giữ hai bên cửa núi, chờ đợi binh triều. Chẳng bao lâu sau đã thấy đại đội binh mã của Phạm Kiến Tính rầm rộ kéo đến. Kiến Tính cưỡi con Thiết Hoa đi đầu, hai bên là hai viên phó tướng Trần Trụ và Đặng Hiền. Lúc ấy có quân báo rằng nơi cửa núi dẫn vào Phù Ly đã bị quân cướp đóng giữ, Kiến Tính liền cho quân dừng lại rồi giục ngựa đến trước xem thử. Khi thấy có hai tướng cướp một già, một trẻ cưỡi ngựa đứng hai bên cửa núi chờ, trên sườn núi cờ Truông Mây cắm đầy Kiến Tính quay sang nói với hai phó tướng:

– Bọn cướp chặn nơi cửa núi này vì quân của chúng ít hơn quân ta nên không dám đương trường chiến đấu. Chúng cho cắm nhiều cờ hai bên sườn núi có lẽ cũng chỉ để nghi binh mà thôi. Tuy vậy, tình hình này ta không thể dùng kế hay lực lượng quân sĩ đông mà chỉ có thể cậy vào tài sức của tướng lĩnh thôi.

Trần Trụ vỗ vào thanh đao nói:

– Thanh đao này đã lâu chưa nhuốm máu người, nay tôi xin ra đánh trận đầu để rửa đao. Tướng quân cứ đứng lược trận là được.

– Phó tướng phải cẩn thận, không biết tên tướng trẻ người Phù Tang kia là ai, sao lại theo giúp bọn cướp Truông Mây?

– Đánh với bọn Phù Tang càng hay, tôi sẽ cho chúng biết thế nào là đường đao Đại Việt của chúng ta.

Nói rồi Trần Trụ giục ngựa tới trước cửa núi hoành đao gọi lớn:

– Bọn cướp cạn Truông Mây kia, chúng bay dám lộng hành, không coi vương pháp ra gì, còn loạn chiếm cả huyện thành. Hôm nay gặp đại tướng Trần Trụ ta thì bọn ngươi đúng là xấu số rồi. Có tên nào dám ra đây đấu với ta vài hiệp chăng?

Vũ Tùng nói với Đinh Hồng Liệt:

– Tên này có vẻ huênh hoang thái quá, để tôi cho hắn một bài học.

Đinh Hồng Liệt nói:

– Trần Trụ tuy làm phó tướng nhưng mình mang tuyệt nghệ. Đường đao của hắn lừng danh khắp đất Quy Nhơn này, tướng quân nên thận trọng.

Vũ Tùng gật đầu rồi thúc ngựa chạy xuống dốc. Trần Trụ nói lớn:

– Tên Phù Tang kia báo tên họ đi! Ngươi không ở nước ngươi hưởng phước mà lại đến đây giúp cho bọn cướp làm loạn là sao?

Vũ Tùng đáp:

– Ta là Cung Bản Vũ Tùng, đừng nói nhiều, thắng được ta trước đã.

Xong liền rút kiếm khỏi vỏ, giục ngựa lướt tới tấn công Trần Trụ. Trần Trụ xoay ngựa né tránh rồi vung đao phản công lại. Hai tướng đao qua kiếm lại, quần nhau hơn năm mươi hiệp mà vẫn bất phân thắng bại. Đường đao của Trần Trụ mạnh như vũ bão còn đường kiếm của Vũ Tùng nhanh và hiểm hóc vô cùng. Binh khí chạm nhau chan chát, bụi bay ngập trời, đã qua hai trăm hiệp mà chưa ai nắm được thế thượng phong. Thấy trời bắt đầu sẩm tối, Phạm Kiến Tính và Đinh Hồng Liệt sợ bên mình có sơ suất nên cả hai cùng gióng chiêng thâu quân về. Hai tướng nghe lệnh, vội quày ngựa trở lại bên quân mình. Trần Trụ về đến nơi nói với Kiến Tính:

– Tên Phù Tang này giỏi thật, Trụ tôi bình sinh mới gặp được một địch thủ ghê gớm thế này. Thật là nguy hiểm mà cũng thật là sướng tay.

– Giờ đã tối, chúng ta hãy đợi sáng mai rồi hẵng tính.

Kiến Tính bèn ra lệnh lui binh hai dặm, hạ trại theo thế trận Trường xà giữa đồng trống nghỉ ngơi. Bên kia, Vũ Tùng cũng nói với Hồng Liệt:

– Tên Trần Trụ này quả là mãnh tướng của Quy Nhơn. Đường đao của hắn vừa mạnh vừa kín đáo, không chút sơ hở. Sáng mai tôi phải tái đấu với hắn một trận nữa mới được.

– Được. Giờ chúng ta hãy nghỉ ngơi và cho quân canh phòng cẩn mật, ngừa bọn chúng đang đêm tấn công bất ngờ.

Hồng Liệt bèn ra lệnh nghĩa binh hạ trại hai bên cửa núi nghỉ ngơi và thay phiên nhau canh phòng. Sáng hôm sau, mọi người nai nịt gọn gàng xong đã thấy quân triều đình kéo đến bên dưới dốc. Phó tướng Đặng Hiền diễu võ dương oai kêu lớn:

– Tên giặc Phù Tang kia, nhà ngươi có dám xuống đây đấu với ta trăm hiệp hay không?

Vũ Tùng nghe hắn gọi đích tên mình liền phóng lên ngựa chạy xuống dốc. Không nói tiếng nào, chàng rút kiếm tấn công Đặng Hiền ngay. Đặng Hiền vung kiếm ra đỡ. Một tiếng keng trong trẻo vang lên rồi cả hai cùng dạt ra. Cánh tay Đặng Hiền như tê dại trước sức mạnh của Vũ Tùng. Hắn thoáng kinh hãi trong lòng nhưng vội lấy lại bình tĩnh để ra chiêu gạt một đường kiếm đang chém xuống của Vũ Tùng. Đánh được năm mươi hiệp, Đặng Hiền có vẻ núng thế hơn, tay chân luống cuống chỉ còn đỡ gạt chứ không thể phản kích được nữa. Trần Trụ thấy vậy vội giục ngựa xông lên gọi lớn:

– Đặng huynh hãy lui về nghỉ, để tên này cho tôi!

 Trần Trụ liền xốc ngựa tới, vung đao chém Vũ Tùng. Đặng Hiền nói:

– Vậy chúng ta hãy cùng nhau liên thủ tiêu diệt tên này để phá tan bọn cướp cho lẹ.

Miệng nói, tay hắn liền vung kiếm tấn công vào bên trái của Vũ Tùng. Vũ Tùng phải đấu một lúc với hai người nên lâm vào thế hạ phong, tuy vậy tay kiếm của chàng vẫn vững vàng, đỡ đông gạt tây không hề nao núng. Đinh Hồng Liệt thấy thế nguy thì giục ngựa xông vào tiếp cứu. Sau một hồi giao chiến, bên Trần Trụ đã tỏ ra yếu thế hơn. Phạm Kiến Tính thấy vậy bèn giục ngựa xông vào vung thương đâm Hồng Liệt. Năm tướng đánh nhau một trận cát bụi mịt trời, quân sĩ hai bên reo hò cổ vũ cho phe mình, vang động cả một vùng cửa núi. Hồng Liệt biết không thể thắng được nên vừa đánh vừa lui dần lên dốc. Phạm Kiến Tính sợ địch có âm mưu nên vội ra lệnh cho hai tướng dừng tay rồi lui về. Lúc ấy trời cũng sắp tối, hai bên lại thâu quân về trại nghỉ ngơi.

Hai phó tướng hỏi Kiến Tính:

– Hôm nay hai tướng giặc không địch nổi ba chúng ta sao tướng quân không cho đánh thốc luôn lên cửa núi mà lại thu quân về?

Kiến Tính đáp:

– Trời cũng sắp tối, bên địch lại nhiều quỉ kế, ta không muốn mạo hiểm nên mới thu quân. Ngày mai ra trận lần nữa xem sao rồi hãy tính.

Hai tướng vâng dạ lui ra.

Bên kia Đinh Hồng Liệt bàn với Vũ Tùng:

– Hôm nay quân địch thắng thế nhưng có lẽ vì sợ trúng mai phục của ta nên mới rút lui. Ngày mai thế nào chúng cũng sẽ thử sức trở lại. Bên ta ít quân nên không thể đương trường đối địch, chỉ còn cách phục binh cố thủ cửa núi này. Tôi sẽ cho người báo với Trần Lâm để xin thêm viện binh.

Vũ Tùng nói:

– Tình hình này nếu đương trường chiến đấu chúng ta kém thế hơn. Hay đêm nay chúng ta bất thình lình cướp trại giặc, chắc sẽ chiếm được thắng lợi.

– Kiến Tính đóng trại theo thế “trường xà”, đầu đuôi và giữa đều có thể ứng cứu nhau. Ta ít quân mà đi cướp trại tất sẽ bị chúng bao vây.

– Nếu vậy ngày mai tướng quân ra trận rồi giả thua chạy về, tôi sẽ dùng phi tiêu hạ chúng. Lại cho cung thủ mai phục sẵn, đề phòng bọn chúng tổng tấn công lên cửa núi.

Hồng Liệt đồng ý rồi cho thám mã cấp báo với Trần Lâm.

Sáng hôm sau, Kiến Tính lại đem quân đến cửa núi. Lần này đích thân ông ta ra khiêu chiến. Đinh Hồng Liệt nai nịt gọn gàng, lên ngựa chạy xuống. Kiến Tính cười ha hả nói:

– Các ngươi không có bao nhiêu quân, ta đã biết rồi. Hôm nay ta nhất định đánh một trận tới cùng cho bọn bay biết thế nào là Càn Dương bất bại tướng.

Dứt lời, ông ta giục ngựa tới đâm Hồng Liệt một thương. Hồng Liệt xoay ngựa né tránh và vung kiếm tấn công lại. Hai bên quần nhau độ mươi hiệp, Hồng Liệt giả thua bỏ chạy lên dốc, Kiến Tính giục ngựa đuổi theo. Hai tướng Trần Trụ, Đặng Hiền liền hô quân tiến lên. Kiến Tính rượt Hồng Liệt đến gần cửa núi thì bỗng có một loạt ám khí xé gió bay vút đến. Ông ta giật mình liền múa tít cây thương gạt ám khí. Nhưng vừa dứt đợt một, loạt ám khí thứ hai lại tiếp tục nhắm thẳng vào người ngựa của ông lao đến. Ông vội vàng vừa múa thương đỡ gạt vừa giật ngựa phóng tạt sang bên né tránh, sau đó quày ngựa chạy về. Dù vậy ông cũng đã bị trúng hai mũi ám khí nơi cánh tay. Trong khi đó, hai bên vách núi nghĩa binh bắn tên như mưa vào toán quân triều đình đang xông lên. Trời lúc ấy vần vũ mây đen, gió từ biển kéo vào tạo thành cơn dông mạnh, sau đó một trận mưa lớn đổ xuống chiến trường. Kiến Tính thấy tình hình không thuận lợi vội ra lệnh rút binh lần nữa. Sáng sớm hôm sau, bỗng có một toán lính chừng năm người của Hoàng Kim Phụng, áo quần tả tơi xin vào yết kiến. Kiến Tính ngạc nhiên cho đòi vào. Một tên trong bọn nói:

– Trình với tướng quân, đạo binh của chủ soái tôi bị phục binh tại đèo Ô Phi. Chủ soái tôi đã tử trận, toàn bộ binh sĩ lớp chết lớp đầu hàng, lớp được thả về quê, chỉ còn bọn tôi không nỡ nhìn thấy tướng quân bại trận tiếp nên mới cố chạy lên đây báo tin.

Kiến Tính nghe báo rụng rời tay chân. Ông vội gọi Trần Trụ và Đặng Hiền đến họp. Ông nói:

– Nay đại binh của Hoàng Kim Phụng đã tan rã, thế nào bọn chúng cũng sẽ mang quân lên đây tiếp viện. Giờ ta cho quân dùng khiên che tên lập thành rào chắn tấn công lên dốc. Dù giá nào cũng phải qua cho được cửa núi này. Hai ông về cho quân chuẩn bị đi.

Hai tướng vâng lệnh lui ra.

Bên trại nghĩa quân, Đinh Hồng Liệt nói với Vũ Tùng:

– Nếu viện binh không đến kịp ta e rằng mình không cố thủ ở đây được mãi vì cung tên cũng đã gần cạn. Ngày mai đành phải quyết một phen tử chiến một mất một còn với bọn chúng thôi.

Vũ Tùng nói:

– Đã vậy ngày mai tướng quân giao đấu cùng Kiến Tính, phần tôi sẽ đánh với hai tên phó tướng. Ta phải cố giết cho được một tên thì mới có cơ thủ thắng bọn họ.

– Cách đó rất hay!

Hôm sau Kiến Tính và hai phó tướng lại kéo binh mã đến. Lần này toán quân đi đầu dùng khiên dàn hàng ngang tiến lên để che chở cho những người đi sau. Trận mưa dữ dội hôm qua làm cho vùng chiến địa nhiều nơi còn đọng những vũng nước lớn. Đinh Hồng Liệt biết bọn họ quyết tử chiến nên vội vàng kéo toàn bộ nghĩa binh xuống đầu dốc, dàn hàng ngang chuẩn bị. Kiến Tính huơ thương giục ngựa tiến lên nói lớn:

– Đinh Hồng Liệt, bọn ngươi đầu hàng đi! Hôm nay bằng mọi giá ta quyết giết sạch bọn bay.

Đinh Hồng Liệt ngửa mặt cười ha hả nói:

– Đầu hàng? Nghĩa sĩ Truông Mây chúng ta chỉ có tiếng chết chứ không có tiếng đầu hàng. Hôm nay ta cũng quyết tử chiến với ngươi một phen.

Nói rồi Hồng Liệt liền thúc ngựa tới vung kiếm đâm Kiến Tính. Tính múa thương gạt kiếm rồi xoay ngựa đâm trả. Bên kia, Vũ Tùng cũng giục ngựa xông vào giao đấu với Trần Trụ và Đặng Hiền. Vũ Tùng một mình đấu với hai người tuy không thể thắng được nhưng cũng không chịu để bị thua. Thỉnh thoảng chàng lại phóng ám khí bất ngờ khiến cho hai tướng rất vất vả né tránh, gạt đỡ. Đám binh sĩ hai bên bấy giờ tự do xông vào nhau chém giết. Nghĩa binh Truông Mây, số quân chủ lực đã được rèn luyện khổ cực suốt hai năm nay cho nên ai nấy võ nghệ đều cao cường. Họ có thể một người chọi tới hai ba tên lính triều đình. Riêng bọn tân binh mới đầu hàng ít được rèn luyện nên bị số đông quân triều áp đảo. Cuộc hỗn chiến kéo dài độ một khắc thì bỗng thấy đám binh triều la hét hoảng hốt bỏ chạy tán loạn. Một đội thiết kỵ mấy trăm con xông vào tấn công khiến đám quân triều đình ngã như rạ. Kiến Tính đang giao đấu với Đinh Hồng Liệt trông thấy cảnh tượng đó thì vô cùng kinh hoàng, vội ra lệnh rút lui. Ba tướng vừa đánh tháo lui vừa dẫn quân chạy về hướng bờ sông Phù Ly. Kiến Tính lệnh cho đội quân cung thủ đi sau cùng để yểm trợ bảo vệ cho toán bộ binh chạy trước. Nghĩa binh rượt theo bị tên bắn rát quá nên Hồng Liệt ra lệnh không đuổi theo nữa.

Thì ra toán kỵ mã của Trần Lâm và Thiên Tường đã đến kịp lúc để giải nguy. Trần Lâm nói:

– Kiến Tính điều binh rất có kỷ luật và phải phép, tuy bỏ chạy mà hàng ngũ không rối loạn, lại có thể bảo toàn được lực lượng, chứng tỏ ông ta là một tướng tài. Giặc cùng chớ đuổi, ta chờ bắt hắn vào dịp khác vậy.

Đinh Hồng Liệt vui mừng nói:

– Nếu các người không đến kịp thì toàn bộ toán quân này chắc sẽ chết hết.

– Cháu đã đánh giá thấp Phạm Kiến Tính, suýt chút nữa làm chết nhiều anh em, đó là lỗi của cháu.

Thấy Vũ Tùng máu nhuộm đỏ cả người, chàng vội hỏi:

– Vũ Tùng huynh bị thương có nặng không? Là lỗi của tôi.

Vũ Tùng đáp:

– Chỉ bị vài vết thương nhẹ thôi. Đời làm tướng chết tại chiến trường là chuyện thường, một vài vết thương nhỏ có đáng gì. Lâm huynh đừng ái ngại.

Trần Lâm cho kiểm điểm lại binh mã. Bên nghĩa binh chết gần hai trăm người, bị thương gần một trăm, còn binh triều bỏ xác lại gần năm trăm. Trần Lâm cho đào một cái hố lớn đem chôn tập thể những người đã chết và băng bó chữa trị cho anh em bị thương. Xong chàng nói với Hồng Liệt:

– Đinh thúc và Vũ Tùng huynh đưa anh em thương binh về Phù Ly dưỡng thương đồng thời hợp với chú Nhẫn giữ huyện thành. Cháu cùng Tường đệ sẽ dẫn toán thiết kỵ và bộ binh chủ lực đi tiếp viện cho Trương Bàng Châu. Binh phủ Quy Nhơn giờ đã qui về một mối nên lực lượng lớn lắm.

Đinh Hồng Liệt nói:

– Ta còn khỏe nên muốn theo giúp cháu một tay. Để Vũ Tùng về Phù Ly là được rồi.

Vũ Tùng vội nói:

– Tôi chỉ bị thương nhẹ thôi. Tôi cũng muốn tham gia chiến dịch này.

Trần Lâm nói:

– Cả hai vị cùng đi cũng được. Trận này chúng ta phải quyết thắng để dồn binh triều về phủ Quy Nhơn. Sau đó sẽ chuẩn bị đánh một trận lớn chiếm luôn cả phủ thành. Đinh thúc cùng Vũ Tùng huynh dẫn bộ binh đi sau còn chúng tôi đi trước, không nên để sơ sót như ở đây được nữa.

Nói xong chàng lệnh cho mười kỵ mã hộ tống toán thương binh về Phù Ly.

Đinh Hồng Liệt chợt hỏi:

– Cánh quân mặt đông của Hoàng Kim Phụng cháu giải quyết thế nào rồi?

Trần Lâm mỉm cười:

– Hoàng Kim Phụng đã chết trên đèo Ô Phi núi Lạc Phụng, cả toán quân của ông ta đã đầu hàng.

Vũ Tùng cúi đầu kính phục nói:

– Lâm huynh dụng binh như thần, Vũ Tùng tôi thật sự bái phục.

Trần Lâm cũng cúi đầu đáp lễ và nói:

– Đều do anh em cùng nhau quyết tâm mà thôi. Vả lại trong trận này tôi may mắn có được cả ba thứ là thiên thời, địa lợi và nhân hòa nên mới thành công dễ dàng như thế. Thôi, chúng ta lên đường đi.

Đoàn thần mã của Truông Mây rầm rập lao đi. Vũ Tùng nhìn theo đám bụi mù nói với Đinh Hồng Liệt:

– Lâm huynh thật là kỳ tài trong thiên hạ, lại chịu bôn ba gian khổ làm việc không ngừng.

Đinh Hồng Liệt gật đầu:

– Cậu ấy là người mà tôi vừa cảm vừa phục nhất đời. Trong con người sắt đó có một khối óc và một trái tim vĩ đại.

***

Lại nói về Phạm Kiến Tính dẫn quân dọc theo bờ sông Phù Ly chạy về hướng Tây, đang đi thì có tin đến báo kho Càn Dương và Đạm Thủy đã bị nghĩa binh chiếm lấy, bao nhiêu lương thảo trong kho đều bị cướp sạch. Ông ta thất kinh liền cho quân thám mã đi trước dò xem cánh quân của Phan Ngọc Chánh đã đi đến đâu. Không bao lâu thám mã về báo đại quân của Phan Ngọc Chánh hãy còn ở bờ nam sông Phù Ly.

Kiến Tính nói với hai phó tướng:

– Phan Ngọc Chánh làm việc thật cẩn trọng. Ông ta thao luyện binh mã kỹ lưỡng trở lại rồi mới ra quân. Chúng ta hơi hấp tấp nên chiến dịch không đồng bộ mới để bọn Truông Mây chiếm mất lợi thế. Ta thật có lỗi với ba quân.

Trần Trụ nói:

– Cũng do bọn quan văn ngồi không đục khoét, bán tước mua quan nên binh lính bây giờ toàn là thứ bát nháo. Họ không có tinh thần chiến đấu, chúng ta chưa ra quân đã nắm lấy thất bại đến năm phần rồi.

Kiến Tính thở dài:

– Hà! Làm tướng trong thời buổi này thật là khó. Nếu lỡ có chết trên chiến trường thật chẳng sảng khoái chút nào. Còn đâu nữa cái hào khí da ngựa bọc thây?

Sau đó ông bèn chọn khúc sông cạn cho quân qua sông để họp binh cùng Ngọc Chánh. Cơn mưa lớn hôm kia làm nước sông dâng cao và chảy mạnh hơn. Khi quân Kiến Tính kéo đến đường trạm chính thì đại binh của Ngọc Chánh cũng đến nơi. Kiến Tính vào gặp Ngọc Chánh báo tin về sự thất bại của cánh quân mặt đông. Ngọc Chánh cùng Đặng Thông nghe nói giật mình kinh ngạc. Ngọc Chánh thốt lên:

– Bọn Truông Mây quả nhiên lợi hại! Chỉ trong mấy ngày chúng đã có thể tiêu diệt được đạo quân lớn của Kim Phụng và cướp kho Càn Dương. Chúng hành binh thần tốc và xuất quỉ nhập thần như thế chúng ta không thể xem thường được. Ta được tin thám mã cho biết bên kia sông Phù Ly có một toán quân một ngàn người của Tào Sơn Trương Bàng Châu đang theo đường trạm để ngăn đón chúng ta. Bàng Châu là chỗ quen biết với ta, võ nghệ tuyệt luân ít người sánh kịp. Đây là trận chiến cam go cả về đấu trí lẫn đấu sức, các ngươi có kế sách gì hay không?

Đặng Thông lên tiếng:

– Quân địch ít, tôi tin là chúng chỉ dám đóng bên kia sông để ngăn cản chúng ta thôi chứ không dám tìm đến ta để đương trường đối địch. Tôi xin lãnh một ngàn quân đi vòng lên phía chân núi Hội Sơn đắp bờ ngăn nước sông rồi đem quân đánh bọc xuống sườn địch. Tướng quân xua đại binh sang tấn công chính diện, Kiến Tính tướng quân lãnh binh Càn Dương xuống phía đông, sang sông rồi đánh bọc lên. Ba mặt giáp công như thế thì một ngàn quân của địch sẽ bị ta diệt gọn không sót một tên.

Kiến Tính vội nói:

– Tướng quân đừng quên là bọn chúng đã có thêm gần ngàn quân tiếp viện. Đặc biệt là đội binh thiết kỵ.

– Dù vậy quân ta vẫn đông hơn gấp ba lần. Riêng đội thiết kỵ, chúng ta sẽ dùng đội quân câu liêm thương để trị. Việc này xin Phan tướng quân chỉ đạo cho.

Phan Ngọc Chánh nói:

– Được, chúng ta cứ theo kế hoạch đó mà làm.

Nói về cánh quân của Trương Bàng Châu từ thành Phù Ly theo ngã đường liên trạm tiến về hướng nam để đón đầu cánh quân của Phan Ngọc Chánh từ Quy Nhơn ra. Bàng Châu nói với Văn Bảo và Đinh Cường:

– Phan Ngọc Chánh là tướng giỏi lại rất cẩn thận, hắn cho thao luyện binh lính đàng hoàng rồi mới xuất quân. Nghĩa binh của ta tuy dũng mãnh thật nhưng nếu đương trường chiến đấu thì dẫu có thắng cũng sẽ bị thiệt hại rất nhiều. Hai người có tính toán gì không?

Văn Bảo đưa mắt nhìn Đinh Cường. Đinh Cường cười nói:

– Tôi chỉ xin nghe theo lệnh mà thi hành, còn mưu kế thì xin chịu bó tay.

Văn Bảo lên tiếng:

– Theo ý tôi, chúng ta có hai cách. Thứ nhất, mình đưa quân đi thật nhanh, một toán đến chiếm vùng chân núi Bà ẩn kín làm kỳ binh, một toán đóng ở vùng đồi cạnh đường trạm làm chính binh đợi quân địch đến. Như thế chúng ta có thể hai mặt giáp công địch, lấy ít thắng nhiều. Tuy nhiên, đưa quân vào sâu trọng địa của địch sẽ rất nguy hiểm, trừ phi chúng ta nắm chắc được phần thắng. Thứ hai, chúng ta cứ đóng quân bên này bờ sông Phù Ly ngăn không cho địch qua sông chờ Trần Lâm tiêu diệt cánh quân mặt đông kéo về tiếp viện. Vì chúng ta ít quân hơn địch nên giữ thế thủ là thượng sách. Tôi chọn cách này hơn vì có thể bảo toàn được lực lượng.

Đinh Cường hỏi:

– Trường hợp chiến trường mặt đông kéo dài thì chúng ta làm thế nào?

– Tôi tin rằng Lâm đệ đã có tính toán kỹ càng, chỉ là không hé ra vì sợ lộ cơ mưu thôi. Lâm đệ vốn là người kỹ tính, hắn không thể để chúng ta ra quân với khả năng năm ăn năm thua thế này đâu. Cho nên chúng ta phải cố bảo toàn lực lượng.

Bàng Châu nói:

– So về tướng thì chúng ta không sợ địch, nhưng về quân số thì địch lại gấp ba lần ta. Đúng là năm ăn năm thua thật. Chúng ta cứ theo cách thứ hai, phải lợi dụng con sông để tiêu diệt bớt lực lượng của địch trước. Khi địch có thể sang được bên này thì ít nhất chúng cũng phải bị hao tổn một số quân. Việc bây giờ là cần chuẩn bị cung tên cho đầy đủ.

Văn Bảo nói:

– Nếu vậy chúng ta phải chia ra làm ba trại, đóng rải dọc theo bờ sông để đề phòng địch lên thượng nguồn đắp đê chặn nước rồi sang sông đánh bọc xuống. Tôi xin lãnh hai trăm rưỡi nghĩa binh lên phía tây, Đinh huynh lãnh hai trăm rưỡi nghĩa binh xuống mé đông, số quân còn lại Trương huynh thủ trung quân.

Bàng Châu khen ngợi:

– Hay lắm! Như thế chúng ta có thể cứu ứng lẫn nhau.

Đinh Cường lại hỏi:

– Trường hợp địch cũng chia ra ba đạo sang sông thì sao?

Văn Bảo đáp:

– Như vậy thì bản thân chúng ta phải cố giết cho được một chủ tướng để phá tan bớt một đạo quân địch rồi rút về ứng cứu cho hai đạo kia.

Đinh Cường cao hứng nói:

– Hay lắm, hay lắm! Để coi đường côn tổ truyền của tôi có giết được tướng giặc nào không. Ha ha…

Bàn định xong, Bàng Châu y kế hoạch chia quân đóng dọc theo bờ bắc sông Phù Ly. Hôm sau thám mã về báo đại binh của Phan Ngọc Chánh từ Quy Nhơn đã kéo đến núi Bà, còn chừng mươi dặm nữa là đến bờ sông.

Chiều hôm đó, đại binh của phủ Quy Nhơn cờ xí rợp trời dàn hàng ngang bên kia bờ sông Phù Ly. Phan Ngọc Chánh ngồi trên mình ngựa tiến đến sát bờ sông nhìn sang. Bên này, Trương Bàng Châu cũng lên ngựa tiến ra bờ sông. Sông Phù Ly rộng chừng hơn bốn mươi trượng, mùa này nước sông không lớn lắm. Trương Bàng Châu nói lớn sang bên kia:

– Chào Phan huynh, đã lâu không gặp.

Phan Ngọc Chánh cũng lớn tiếng vọng sang:

– Kính chào Trương huynh. Trông huynh vẫn phong độ như xưa.

– Sự đời thay đổi thật nhanh, ngày nào chúng ta còn cùng nhau đối ẩm mà giờ đã mỗi người mỗi bờ, mỗi chiến tuyến. Tôi thật lấy làm đau lòng.

– Vật đổi sao dời là lẽ tự nhiên của tạo hóa nhưng đôi khi con người lại tự mình thay đổi mới thật đáng buồn. Ví như Trương huynh, đường đường là một tay hào kiệt sao bỗng nhiên lại đổi lòng đi theo giặc cướp làm loạn? Trương huynh không thấy uổng phí đời mình hay sao?

– Huynh nói tôi đi theo giặc cướp làm loạn, tôi xin hỏi huynh chúng tôi đã cướp của những ai, huynh có biết không?

– Tuy huynh cướp của nhà giàu để phát cho dân nghèo là việc phải, nhưng nay làm loạn chiếm lấy huyện thành, chống lại quan binh phủ Chúa như thế là phản loạn. Trương huynh không thấy là mình đã hùa theo giặc làm điều sai quấy hay sao?

– Chúng tôi chỉ chống lại tên gian tặc Quốc phó. Huynh không thấy rằng cả cái phủ Chúa giờ đang nằm gọn trong tay hắn và bè lũ của hắn hay sao? Huynh không thấy muôn dân đang bỏ nhà, bỏ xứ lang thang chết đói đầy đường hay sao? Ngày nào còn tên Quốc phó Trương Phúc Loan và bè lũ của hắn thì ngày đó một dải giang san này vẫn còn là chốn địa ngục trần gian, huynh có nghĩ thế hay không? Sao huynh còn đem thân làm tay sai để bảo vệ chiếc ghế Quốc phó của hắn, cho hắn ngồi đó thản nhiên mà vơ vét của dân lành? Tinh thần thượng võ của kẻ cầm đao, lòng yêu nước thương dân của huynh để đâu?

Phan Ngọc Chánh nghe Trương Bàng Châu lý luận xác đáng, vừa như phân tích, vừa như mắng xéo mình thì trong lòng hổ thẹn vô cùng. Ông không biết trả lời thế nào cho phải lẽ. Ông nhìn xuống thấy nước sông đang cạn dần thì biết là Đặng Thông đã đắp đê ngăn dòng trên thượng nguồn. Ông bèn nói gượng:

– Trương huynh nói phải lắm, nhưng tôi thân làm tướng cho nhà Chúa, mang quân đi dẹp loạn là cho Chúa tôi chứ không phải cho quan Quốc phó. Trương huynh nếu còn nghĩ mình là thần dân của Chúa Nguyễn thì bỏ đao, dẹp binh đi để tránh can qua. Bằng không xin đừng trách tôi không nghĩ đến tình cố cựu.

Bàng Châu cười ha hả nói:

– Ha ha… Câu đó lẽ ra phải để tôi nói mới đúng. Đã thế thì chúng ta cứ lấy chiến trường để định lẽ phải trái, chút tình cố cựu riêng tư hãy dẹp sang bên.

– Được! Kẻ thắng trận sẽ nói tiếng nói của mình.

Xong Ngọc Chánh liền phất tay, cả đoàn quân ùn ùn chuẩn bị xuống sông. Bên này Bàng Châu cho cung thủ dàn hàng ngang sẵn sàng chờ đợi. Giữa lúc ấy, tiếng vó ngựa từ xa rầm rập phi tới từ phía sau lưng. Bàng Châu hốt hoảng nhìn lại thì thấy chính là đoàn kỵ mã của Trần Lâm. Trần Lâm tiến đến bên Bàng Châu để quan sát tình hình, chàng thấy nước sông cạn thì biết rằng địch đã cho đắp đê chặn trên miệt thượng nguồn. Trần Lâm vội hỏi Bàng Châu:

– Cách bố trí của chúng ta thế nào?

Bàng Châu đáp:

– Văn Bảo đem hai trăm rưỡi quân đóng phía tây, Đinh Cường đem hai trăm rưỡi quân đóng phía đông giăng hàng theo bờ sông.

– Địch đắp đê trên thượng nguồn chắc là sẽ mang quân từ trên đánh xuống, miệt dưới sẽ có quân đổ qua sông để đánh lên. Bây giờ anh hãy cho quân cung tiễn bắn giết họ càng nhiều càng tốt. Khi họ đã tràn được lên bờ thì giả thua dẫn quân bỏ chạy vào vùng rừng rậm phía tây đường trạm, cố thủ trong đó chờ khi nào có tiếng nổ lớn thì thúc quân đánh ra.

Trần Lâm lại kêu Thiên Tường dặn:

– Đệ dẫn một trăm anh em kỵ mã đi vòng lên vùng thượng nguồn nơi địch đắp bờ đê, cho quân chặt cây lớn ra thành từng khúc. Khi nào thấy pháo hiệu bắn lên thì phá đê cho nước đổ xuống và thả những khúc cây trôi theo. Xong việc thì tiếp tục đem quân dọc theo bờ sông xuống phía nam để rượt đám tàn binh địch vừa thoát được lên bờ.

Thiên Tường lãnh mệnh đi ngay. Trần Lâm lại sai hai thiết kỵ quân chia ra hai ngả thám thính số lượng quân địch ở hai cánh đông và tây. Hai lính thiết kỵ tuân lệnh phóng ngựa đi ngay.

Lúc này dưới lòng sông, quân triều đình đã dàn hàng ngang, dùng mộc che tên tiến tới sát bờ bắc. Trần Lâm đứng trên bờ ra lệnh:

– Toán cung thủ lui lại, có cơ hội chỉ bắn từng phát một vào những tên địch đi sau không có mộc che tên. Toán cận chiến ra trước đánh địch không cho lên bờ.

Toán binh triều cầm mộc đi đầu cố tràn lên bờ nhưng lên bao nhiêu đều bị đánh rớt xuống bấy nhiêu. Phan Ngọc Chánh tay múa đồng côn vun vút, giục ngựa tiến lên bến sông. Trương Bàng Châu cũng vội thúc ngựa lướt tới chặn Ngọc Chánh lại, miệng thét lớn:

– Ngươi không biết phải trái, đi theo làm tay sai cho gian tặc thì đừng trách ta vô tình.

Rồi chàng vung đồng côn tấn công. Ngọc Chánh đưa thiết côn ra đỡ. Hai tướng giao chiến kịch liệt với nhau nơi bến sông. Trong khi đó dọc bờ sông, cuộc chiến giữa nghĩa binh trên bờ và quân triều đình dưới lòng sông cũng diễn ra ác liệt không kém. Nghĩa binh ở trong thế trên cao đánh xuống, lại giỏi võ nghệ hơn nên binh triều tiến lên lớp nào đều bị triệt hạ lớp đó. Số người chết và bị thương vô số. Tuy vậy, vì quân triều đình quá đông nên cuối cùng chúng cũng đã lên được bờ và đẩy nghĩa binh lui dần.

Trương Bàng Châu thấy đã đến lúc rút lui nên đánh rát vài chiêu rồi hô quân rút về khu rừng rậm. Toán cung thủ đoạn hậu vừa chạy vừa bắn ngăn không cho quân triều đình đuổi theo. Vì thế cả toán quân của Bàng Châu đều đã lui vào rừng an toàn. Phan Ngọc Chánh thấy Bàng Châu đang giao chiến bỗng bỏ chạy thì hô quân dừng lại, không dám tiến sâu vào rừng. Ông cho quân đóng bên ngoài khu rừng chờ đợi tin tức của hai cánh quân kia.

Trong khi đó, Trần Lâm đã nhận được tin báo của hai thiết kỵ quân được cử đi do thám ban nãy. Chàng liền sai trăm quân kỵ xuống phía đông giúp Đinh Cường, dặn phải ráng chặn đừng để cho địch tiến lên rồi sẽ có quân tiếp viện đánh đến từ sau lưng địch. Phần chàng dẫn trăm quân thiết kỵ lên giúp cho Văn Bảo. Vừa đến nơi đã thấy Văn Bảo và Đặng Thông đang đấu với nhau. Hai danh thủ về kiếm gặp nhau, quả đúng là kỳ phùng địch thủ. Quân sĩ hai bên đứng chung quanh hò reo cổ vũ vang dội cả một góc rừng. Trần Lâm nói lớn:

– Tứ ca, để đệ giúp tứ ca một tay. Chúng ta cần thanh toán thật lẹ toán quân này để còn lo việc khác.

Chàng liền vỗ ngựa lướt tới, vung kiếm vạch một đường như chớp giật vào bên hông của Đặng Thông. Đặng Thông cả kinh vội thu kiếm về đỡ nhát kiếm đó của Trần Lâm. Lập tức từ bên phải, kiếm của Văn Bảo lại đâm vút tới bên sườn. Đặng Thông gập người xuống lưng ngựa để tránh, đường kiếm xẹt qua lưng cứa nhẹ một đường dài, máu đỏ phun ra ướt cả lưng áo. Trần Lâm lại nói:

– Đặng Thông, đầu hàng đi để bảo toàn sinh mạng cho anh em, nếu không cả ngươi và một ngàn binh sĩ kia sẽ bị chết uổng.

Đặng Thông thấy đường kiếm của hai người biết rằng hôm nay mình khó lòng thoát chết nhưng vẫn kiên cường:

– Ta thà chết chứ không chịu hèn!

Vừa nói hắn vừa bật người ngồi dậy ra chiêu tấn công Trần Lâm. Trần Lâm vung kiếm lên đỡ rồi tay trái rút nhanh cây roi nơi thắt lưng quất mạnh vào cổ tay cầm kiếm của Đặng Thông. Hắn trúng đòn, thanh kiếm vuột khỏi tay văng ra xa. Văn Bảo vội vàng thúc ngựa tới, dùng sống bàn tay làm đao chém vào gáy của Đặng Thông một nhát. Hắn ngã nhào xuống ngựa, nghĩa binh vội xông tới trói lại. Trần Lâm nói lớn:

– Anh em binh sĩ Quy Nhơn nghe đây, chúng tôi vì đồng bào nghèo khổ nên mới nổi dậy diệt trừ tên Quốc phó chứ không hề có ý gây chiến tranh để giết hại anh em đồng bào của mình. Anh em buông khí giới đầu hàng thì sẽ được toàn mạng.

Đám binh triều thấy chủ tướng đã bị bắt liền đồng loạt bỏ vũ khí. Nghĩa binh thu gom binh khí xong, Trần Lâm nói tiếp:

– Bây giờ anh em theo chúng tôi đến một nơi tạm lánh, chờ xong việc tôi sẽ phân phối anh em sau.

Chàng bèn lệnh cho một trăm kỵ binh dẫn bọn hàng binh tạm giam vào một hốc núi gần đó rồi mang theo Đặng Thông trở lại khu rừng nơi Bàng Châu đang ẩn trốn.

Nhắc lại toán quân của Đinh Cường đang đóng trại ở mé đông thì gặp cánh quân hơn ngàn người của Phạm Kiến Tính ồ ạt vượt sông. Đinh Cường cho cung thủ từ trên bờ bắn tên xuống như mưa rào, số binh triều đi đầu trúng tên kêu la om trời. Kiến Tính vội vàng đưa quân cầm mộc chống tên lên trước rồi tự mình cùng hai tướng Trần Trụ và Đặng Hiền múa thương tấn công xông lên bờ. Nghĩa binh tuy ít quân hơn nhưng họ đều giỏi võ lại chiến đấu quên mình nên quân triều đình bị giết rất nhiều. Đinh Cường cố chết chống cự không cho ba tướng vượt lên bờ. Nhưng vì một chọi ba không cân sức nên đã không thể ngăn được ba tướng của địch. Chàng ta bị Trần Trụ và Đặng Hiền bao vây vào giữa. Dù đã huy động côn đồng tả xung hữu đột nhưng chàng ta vẫn không sao thoát ra khỏi vòng vây của địch. Sợ quân mình bị diệt gọn, chàng vội lớn tiếng ra lệnh:

– Anh em lui trước đi, để mình ta đoạn hậu.

Nghĩa binh Truông Mây đồng hô lớn:

– Tướng quân bị vây, chúng tôi cùng liều chết với tướng quân.

Xong, cả bọn vùng lên chiến đấu hết sức bình sinh, không còn coi sống chết vào đâu. Bọn quân triều đình vốn tham sanh úy tử, thấy nghĩa binh liều mạng như vậy ai cũng kinh sợ, chùn tay. Vì thế chúng càng bị đám nghĩa binh tấn công ráo riết, người chết như rạ. Đương lúc ấy bỗng có tiếng vó ngựa dồn dập, một trăm quân thiết kỵ từ đâu kéo đến như dông bão. Họ lao vào đám quân triều đình vừa chém đông, giết tây vừa hô lớn:

– Đám giặc tay sai của cẩu tặc Quốc phó, các ngươi đã trúng kế phục binh của quân sư ta rồi, mau đầu hàng đi!

Đinh Cường và nhóm nghĩa binh thấy có quân tiếp viện càng hăng hái đánh dữ hơn. Người Đinh Cường bây giờ nhuộm đầy máu nhưng đường côn vẫn vô cùng lợi hại. Ba tướng địch không cách nào triệt hạ được chàng ta. Vừa lúc đó bỗng nghe tiếng bọn quân triều đình la ó bỏ chạy tán loạn. Thì ra một đạo binh khác của Truông Mây từ phía đông đã kéo lên bao vây binh triều vào giữa.

Đinh Hồng Liệt kêu lớn:

– Đinh Cường đừng sợ, có chúng tôi đến đây!

Rồi ông liền cùng Vũ Tùng xông vô cứu Đinh Cường. Vũ Tùng nhắm vào Đặng Hiền tấn công trước, miệng nói lớn:

– Món nợ một kiếm hôm trước, nay ta sẽ trả ngươi gấp đôi!

Rồi chàng vung kiếm chém luôn mấy nhát, kiếm chiêu hiểm hóc vô cùng. Đặng Hiền vừa ra gươm chống đỡ vừa lách ngựa sang bên né mấy chiêu kiếm ấy rồi ra đòn phản công lại. Vũ Tùng tay phải vung kiếm gạt mạnh thanh kiếm của Đặng Hiền, tay trái rút một thanh kiếm khác giắt bên hông chém một nhát. Đường kiếm thần tốc ấy đã tiện đứt cánh tay trái của Đặng Hiền. Hắn hét lớn một tiếng rồi ngã xuống ngựa. Kiến Tính đang đấu với Đinh Cường nghe tiếng hét giật mình. Ông ta vội bỏ Đinh Cường, lướt tới vung thương đâm Vũ Tùng để cứu Đặng Hiền. Quân triều đình liền nhào vô cứu chủ tướng, đem về giữa trận nhà. Kiến Tính nhìn thấy quân mình bị bao vây, nhắm bề không thắng nổi nên hô quân rút lui. Toàn bộ quân triều đình giờ lại phải vừa đánh vừa nhảy xuống sông tháo chạy về bờ bên kia. Kiến Tính cùng Trần Trụ cũng giục ngựa chạy theo. Trên bờ, nghĩa binh liền bắn tên. Đám cung thủ và quân cầm mộc đỡ tên của binh triều tụt lại phía sau làm rào chắn bảo vệ cho đồng đội. Vũ Tùng la lớn:

– Chúng ta nên thừa thế rượt theo giết bọn giặc này một trận cho đã tay.

Đinh Hồng Liệt ngăn:

– Giặc cùng chớ đuổi. Kiến Tính dụng binh kỷ luật như thế nếu chúng ta ép quá họ sẽ liều chết đánh trả. Như vậy hai bên đều thiệt hại như nhau. Chúng ta mau kéo quân lên để hội cùng trung quân tiêu diệt đại binh của Phan Ngọc Chánh.

Nghĩa binh thu nhặt gần năm mươi xác đồng đội đem theo, bỏ lại trên chiến trường hơn ba trăm xác địch.

Trong khi đó, Phan Ngọc Chánh cho đóng quân trước khu rừng rậm giữ chặt không cho Bàng Châu thoát ra và chờ quân của mình từ hai cánh đến. Bỗng có quân kỵ mã từ Quy Nhơn đến xin vào ra mắt. Ngọc Chánh lấy làm lạ cho đòi vào. Tên kỵ mã nhảy xuống ngựa vội vã chạy vào, vừa thở hổn hển vừa nói:

– Đêm qua phủ thành Quy Nhơn bị địch tấn công, kho lương và vũ khí cùng một số dinh trại bị đốt cháy, quan Tuần phủ lệnh cho tướng quân phải kéo binh về cứu viện gấp.

Phan Ngọc Chánh nghe báo thất kinh. Chưa kịp hoàn hồn thì lại có quân về báo rằng cánh quân phía tây của Đặng Thông đã đầu hàng, chủ tướng bị địch bắt giữ, còn cánh quân phía đông bị đánh tan tác, Đặng Hiền bị chặt đứt một tay, Kiến Tính phải rút chạy về lại bên kia sông. Bao nhiêu hung tin đến cùng một lúc làm cho Phan Ngọc Chánh vô cùng lo sợ. Ông vội ra lệnh rút quân về cứu phủ Quy Nhơn. Ba quân nghe lệnh cấp tốc nhổ trại kéo nhau ra bờ sông Phù Ly.

Bấy giờ bỗng nghe nơi mé rừng có một tiếng nổ rất lớn, Trương Bàng Châu từ trong rừng dẫn quân xông ra tấn công vào hậu quân của Phan Ngọc Chánh. Mặt tây, Trần Lâm và Trương Văn Bảo cũng kéo quân xuống, còn mặt đông thì Đinh Hồng Liệt, Vũ Tùng cùng Đinh Cường kéo quân lên. Ba mặt bị bao vây, binh triều chỉ còn một con đường là nhảy xuống sông để tháo chạy về bên kia. Cho nên mấy ngàn quân ùn nhau, mạnh ai nấy chạy không còn hàng ngũ gì nữa. Trần Lâm thấy địch quân đã tràn xuống lòng sông liền phóng tín hiệu lên trời. Trên thượng nguồn, Thiên Tường thấy hỏa pháo lập tức cho anh em phá vỡ bờ đê để nước đổ xuống, mang cả những khúc gỗ đã chặt sẵn cho trôi theo. Lượng nước sông bị chặn chứa vào một cái hồ thiên nhiên gần đó giờ được xả ra chảy ầm ầm xuống, khí thế mạnh bạo tưởng như long trời lở đất. Đám binh triều đang chen nhau dưới lòng sông bất ngờ bị dòng nước và những khúc gỗ tràn xuống cuốn phăng đi như đám lá khô giữa dòng thác lũ. Tiếng kêu la dậy trời, cảnh tượng thật là thê thảm.

Phạm Ngọc Chánh vốn dày dặn kinh nghiệm chiến trường nên khi nghe tiếng động ầm ầm từ phía thượng nguồn ông biết ngay địch quân đã cho phá bờ đê cản nước. Ông vội vàng thúc ngựa vọt lên trước để qua sông. May mắn là khi luồng nước và những khúc gỗ vừa trôi đến nơi thì ông cũng đã đến được gần bờ. Tuy vậy, con ngựa của ông bị một khúc gỗ lao trúng làm ngã quị. Trong khoảnh khắc ấy, ông liền đạp chân vào mình ngựa để lấy đà rồi phóng người lao vút lên bờ, thoát khỏi dòng nước lũ chỉ trong đường tơ kẽ tóc. Nhìn đám binh sĩ đang bị dòng lũ cuốn đi, miệng không ngớt kêu la inh ỏi, ông không dằn được nước mắt, ngửa mặt lên trời than:

– Đời làm tướng của ta chưa từng bị thất bại thê thảm và nhục nhã thế này. Thù này dù đến chết ta cũng quyết trả cho đám binh sĩ đã chết thảm kia.

Than xong ông vội vàng tìm một con ngựa khác, thu góp gần ngàn binh sĩ thoát được lên bờ lập tức bỏ chạy. Bấy giờ, đám tàn binh của Phạm Kiến Tính cũng đã kéo lên tới nơi. Họ họp nhau lại rồi nhắm hướng phủ thành Quy Nhơn trở về. Bỗng nhiên từ phía tây có tiếng vó ngựa dồn dập cùng tiếng quân reo dậy đất. Một viên tướng trẻ của Truông Mây đã dẫn quân rượt theo và kêu lớn:

– Phan Ngọc Chánh chớ chạy, có ta chờ đây đã lâu rồi!

Thì ra sau khi phá đê xả nước xong, Thiên Tường đã kéo quân xuống phục sẵn bên mé sông. Thấy quân triều đình thoát được lên bờ nam, chàng bèn cùng một trăm kỵ mã lao vào đám tàn binh của triều đình mà tiêu diệt. Bọn binh lính triều đình vừa trải qua một lần thoát chết kinh hoàng, giờ nghe tiếng vó ngựa rầm rập cùng tiếng quân reo thì hồn bay phách lạc, chúng vội vã ù té chạy, không cần biết địch ít hay nhiều. Phan Ngọc Chánh và các tướng cố sức la hét cũng không thể nào ngăn họ lại được. Phạm Kiến Tính và Trần Trụ nhìn thấy tình trạng như thế liền giục ngựa đến đón đánh Thiên Tường. Chàng vung kiếm đỡ rồi ra chiêu phản kích. Ba tướng đang hỗn chiến thì bỗng nghe tiếng kêu lớn:

– Tường đệ chớ sợ, đã có ta đến đây!

Một con bạch mã phóng tới và một ánh đao chớp lên phủ xuống đầu Kiến Tính. Ông ta hoảng hốt vội vung thương ra đỡ. Đỡ xong đường đao đó, tay chân Kiến Tính trở nên bủn rủn, suýt chút nữa cây thương đã vuột khỏi tay. Thiên Tường hỏi:

– Đại ca, đại ca cũng đến rồi ư?

Lía cười ha hả nói:

– Những cuộc vui thế này ta không góp mặt sao được?

Kiến Tính thấy nghĩa binh có thêm quân tiếp viện liền hô lớn:

– Lui binh!

Rồi ông ta cùng Trần Trụ chém bừa mấy nhát xong quày ngựa bỏ chạy. Bọn Lía và Thiên Tường rượt theo một lúc thì dừng lại. Lía nói:

– Bấy nhiêu đó đủ rồi. Hãy để bọn chúng sống sót với nỗi kinh hoàng trong lòng. Ha ha…

Đoạn, họ thu quân trở về. Trận ấy nghĩa binh Truông Mây thu được rất nhiều lương thực và khí giới của địch. Thiên Tường hỏi Lía:

– Sao đại ca lại có mặt ở đây?

Lía cười nói:

– Lâm đệ cho người mang thư dặn ta bí mật đem một toán quân nhỏ đến phủ Quy Nhơn, đợi cho đại binh của phủ đi xa rồi đang đêm mới lẻn vào phóng hỏa đốt kho lương và kho vũ khí cùng những nơi khác của địch. Lại cho reo hò ầm ĩ để chúng không biết đâu mà lường.

– Thảo nào Phan Ngọc Chánh đang vây chặt khu rừng bỗng cho quân rút lui. Thì ra phủ Quy Nhơn cho người gọi về cứu viện.

– Tình hình chiến trận ở các nơi thế nào?

– Chúng ta đại thắng trên tất cả các mặt trận. Tất cả đều nằm trong sự tính toán thần diệu của Lâm ca.

– Lâm đệ quả là bậc quân sư vĩ đại. Hắn nhìn rõ địch và trận địa như nhìn một vật trong lòng bàn tay, mưu kế lại thâm mật đến quỉ khốc thần kinh.

Nói rồi họ đưa quân lội sang sông Phù Ly để họp với nghĩa binh của Trần Lâm đang chờ bên bờ bắc. Mọi người gặp nhau, ai nấy đều vô cùng mừng rỡ. Ngay trong lần ra quân đầu tiên, họ đã đại thắng, làm cho quân triều đình phải một phen thất đởm kinh tâm. Trần Lâm nói:

– Giờ chúng ta phải phát lạc số hàng binh mới bắt được của Đặng Thông trước đã.

Một toán nghĩa binh đã đưa gần một ngàn hàng binh đến. Trần Lâm nói lớn:

– Mục đích của Truông Mây là tiêu diệt tên cẩu tặc Quốc phó Trương Phúc Loan chứ không phải để giết anh em. Nay anh em bị bắt, ai vì nghĩa lớn muốn cứu dân nghèo thì ở lại chiến đấu cùng chúng tôi, ai muốn về nhà thì được tự do ra về. Nhớ là đừng theo làm tay sai cho tên giặc già hại dân ấy nữa. Lần sau còn bị bắt lại chúng tôi sẽ không tha.

Bọn hàng binh thấy anh em Truông Mây nghĩa khí ngất trời, lại giàu lòng nhân ái như vậy nên có tới hơn phân nửa chịu theo về chiến đấu dưới cờ. Số còn lại Trần Lâm tha cho họ về nhà.

Trần Lâm cởi trói cho Đặng Thông rồi hỏi:

– Tướng quân trí dũng song toàn, là đấng anh hùng thời nay. Chắc tướng quân cũng biết tình trạng nước nhà và bá tánh hiện đang trong cơn khổ nạn thế nào. Chúng tôi vì nghĩa đứng lên tiêu diệt bè lũ tên gian tặc Trương Phúc Loan, rất mong tướng quân theo về hợp tác để cuộc chiến mau thành, tránh bớt nạn binh đao và xương máu của đồng bào ruột thịt mình. Tướng quân nghĩ sao?

Đặng Thông đã nghe danh Tây Hắc Hổ, Đông Bạch Long từ lâu, nay lại nhìn thấy những nghĩa cử đầy tình người của nghĩa sĩ Truông Mây nên trong lòng rất cảm phục. Ông bèn đáp:

– Được, tôi sẽ hết lòng vì nghĩa lớn để cứu đồng bào của chúng ta.

Lía vui vẻ bước tới nắm tay Đặng Thông nói:

– Từ lâu Lía tôi đã nghe danh của tướng quân, rất muốn kết giao nhưng chưa có duyên gặp mặt, nay chúng ta đã trở thành người một nhà, thật đúng là một niềm vui sướng lớn nhất trong đời tôi.

Đặng Thông cảm kích nói:

– Đại danh hiệp sĩ của chàng Lía Truông Mây vang rền khắp cõi Nam hà này. Đặng Thông tôi thật là người có phúc nên mới được về chiến đấu dưới cờ.

– Vậy là chúng ta nghĩa khí tương đồng. Từ nay sống chết có nhau, vì thiên hạ bá tánh dẫu thác không từ.

Các đầu lĩnh đều xúm lại bắt tay vui mừng, đồng thanh nói lớn:

– Dẫu thác không từ!

Sau đó tất cả cùng kéo binh về Phù Ly, kiểm duyệt lại binh mã rồi mở tiệc khao quân. Nhân dân trong hai huyện hết sức vui mừng, nhà nhà ăn mừng, người người nhảy múa hát ca. Họ mang thực phẩm đến tặng cho các nghĩa binh trong ngày hội vui chiến thắng.

Sau cuộc chiến, số nghĩa quân chủ lực của Truông Mây bị chết hơn hai trăm người, bị thương gần ba trăm. Số hàng binh mới theo về bị chết khoảng ba trăm, bị thương cũng gần ba trăm nữa. Tổng số quân Truông Mây hiện có trong tay đã lên đến gần bốn ngàn người.

Trong khi đó, lực lượng binh mã bảy ngàn người của phủ Quy Nhơn coi như đã bị tan rã, chỉ còn lại số quân khoảng hơn hai ngàn người của Phạm Kiến Tính và Phan Ngọc Chánh mới rút chạy về. Chiến thắng vang dội của Truông Mây làm rung chuyển cả phủ Chúa Nguyễn ở Phú Xuân và toàn cõi Đàng Trong. Trong khi bọn quan tướng lo sốt vó thì nhân dân nhảy nhót reo mừng. Hịch văn được dân chúng mang đi dán khắp nơi, rồi họ truyền miệng nhau một thành mười, mười thành trăm… Những trận thắng của nghĩa binh trước quân triều đình đã được họ thêu dệt thành huyền thoại. Họ làm vè ca tụng những anh hùng Truông Mây, ca tụng chàng hiệp sĩ Lía, người lãnh đạo phong trào.

Thành thật cáo lỗi cùng qúy độc giả, chúng tôi phải đi xa trong 2 tuần, mời qúy độc giả trở lại xem tiếp vào ngày 05-08-2015. 

*****

Hồi thứ ba mươi sáu

Cử binh bốn lộ Phú Xuân quyết diệt nghĩa binh

Hào khí can vân anh hùng Truông Mây luận tửu

*