Kỳ 138:

…………..

Tại ngôi trường duy nhất ở huyện Tuy Viễn, thôn An Thái, thầy giáo Hiến cũng đang có cuộc nói chuyện với các học trò về vấn đề thời sự nóng bỏng này. Từ lúc trốn chạy vào Quy Nhơn, Trương Văn Hiến được Nguyễn Nhạc đưa cả gia đình lên An Thái, mua tặng cho một miếng đất ở làng Thắng Công để mở trường dạy học. Vì không muốn tiếng lớn đồn xa nên ông chỉ nhận rất ít học trò và chọn lựa rất kỹ. Những học trò đầu tiên của giáo Hiến tất nhiên phải kể đến anh em Nguyễn Lữ và Nguyễn Huệ ở Kiên Thành, bên bờ bắc sông Côn. Nguyễn Nhạc nghe danh tiếng của Trương Văn Hiến đã lâu, lại sau vài lần trò chuyện đã biết ông là một người văn võ song toàn đúng như lời đồn. Vì vậy Nhạc đã ra sức giúp đỡ cho gia đình giáo Hiến trong những ngày đầu lập nghiệp tại xứ người. Trong mối quan hệ đó, Nhạc tự coi mình như một đệ tử ký danh của giáo Hiến, còn giáo Hiến cư xử với Nhạc như một người bảo trợ, nhất là với ngôi trường này. Hơn nữa, Nguyễn Nhạc càng lớn, uy thế toát ra càng khiến cho người đối diện phải nể vì. Do đó, tuy ở vai vế là em kết nghĩa với Trần Kim Hùng, ông nội vợ của Nhạc nhưng giáo Hiến cũng phải kính nể Nhạc đôi phần, cách xưng hô giữa hai người mang tính thân tình hơn là vai vế gia đình.

Lúc mới đến học, Nguyễn Lữ chỉ mới mười bốn tuổi, đồng tuổi với Trương Văn Đa, con trai cả của giáo Hiến. Nguyễn Huệ thì được mười ba tuổi, lớn hơn Ngọc Lan, con gái của giáo Hiến hai tuổi. Sau đó giáo Hiến thu nhận thêm vài học trò khác nữa, trong đó có Đặng Văn Long, Nguyễn Văn Huấn, Nguyễn Văn Danh…

Vì bận công việc buôn bán nên thỉnh thoảng Nhạc mới ghé thăm trường của thầy giáo Hiến. Trước là để xem hai em của mình học hành ra sao, sau nữa là nhờ giáo Hiến cố vấn cho những vấn đề nan giải mà ông không thể tự mình quyết định được. Đôi khi, ông còn nhờ giáo Hiến soạn thảo những văn thư báo cáo hoặc đơn từ của bộ phận thuế tại bến Vân Đồn.

Phần Nguyễn Lữ theo học văn võ với giáo Hiến được hai năm thì lại nghiêng nặng về việc tu hành theo đạo Minh giáo, còn gọi là đạo Ma Ní, nghiên cứu tâm linh bùa chú do một người Minh Hương truyền dạy.

Người Minh Hương này là một du khách người Hoa theo đạo Minh giáo, ông đã đến ở trọ trong Tây Sơn Hội Quán của Nguyễn Nhạc gần hai tháng trời. Sau vài lần gặp mặt nói chuyện, ông biết Nguyễn Lữ thích nghiên cứu tâm linh nên đã truyền các pháp môn tu tập của Minh giáo, kể cả những thuật bùa chú và pháp thuật. Trong hai tháng ấy, hằng ngày người Hoa này thường đi lang thang dạo khắp các vùng núi non ở Tây Sơn ngắm cảnh, nhất là vùng núi Thơm ở Kiên Thạnh và núi Ngang ở Trinh Tường. Việc này không qua được cặp mắt tinh đời của Nguyễn Nhạc. Nhạc bèn cho người tâm phúc theo dõi nhưng không thấy có gì lạ. Sau đó người Hoa từ biệt Nguyễn Nhạc và Nguyễn Lữ ra đi, hẹn sẽ trở lại thăm cũng như để hướng dẫn thêm cho Lữ việc tu hành và vận dụng pháp thuật.

Quả nhiên hai tháng sau đó ông ta đã trở lại. Sự hồ nghi của Nguyễn Nhạc đối với người Hoa kỳ lạ này vẫn chưa hết nên khi thấy ông ta lại đi dạo cảnh núi Ngang thì đích thân Nhạc đã lén theo dõi. Người Hoa nọ khi đến một nơi trong dãy núi đã cẩn thận nhìn trước ngó sau rồi lấy ra một chiếc địa bàn đo tới đo lui một lúc lâu, ra chiều băn khoăn suy nghĩ lắm. Sau đó, ông ta chặt hai nhánh trúc còn giữ nguyên lá đem trồng vào hai nơi, một bắc một nam. Xong đâu đó, ông ta ngửa mặt lên trời lâm râm khấn vái rồi nhìn hai cây trúc một lần nữa trước khi trở về.

Nguyễn Nhạc là người lanh lợi, lại từng theo cha đi khắp đó đây nên kiến thức rất rộng, do đó ông biết chắc người Hoa này chính là một thầy địa lý đang đi tìm long mạch. Việc người Hoa đo tới đo lui rồi phải cắm đến hai cây trúc ở hai nơi có lẽ là vì long mạch chính tại cuộc đất này khó xác định nên phải dùng cây trúc để thử.

Mươi ngày sau đó, hôm nào Nhạc cũng lẻn đến nơi hai cây trúc để theo dõi. Rồi vài ba hôm sau nữa thì thấy cây trúc ở phía bắc đã có hiện tượng héo dần trong khi cây ở phía nam vẫn còn tươi tốt như lúc vừa mới chặt. Để tránh lưu lại dấu vết tạo sự nghi ngờ cho nhà địa lý, Nguyễn Nhạc quyết định đổi chỗ hai cây trúc. Người Hoa nọ vì muốn tránh sự việc bại lộ nên trong suốt thời gian ba tháng mười ngày ông không hề ghé thăm hai cây trúc. Chỉ đến khi ông biết đã có kết quả thử nghiệm thì mới trở lại. Nhìn thấy cả hai cây trúc đều héo úa, ông thất vọng ngửa mặt lên trời than:

– Lạ thật! Giả cuộc ư? Không thể nào! Rõ ràng đây là cuộc đất đế vương mà? Hay long mạch bị đứt ở đâu đó?

Than xong ông ta bỏ đi lang thang quanh vùng như tìm kiếm nguyên nhân long mạch bị phá. Cuối cùng ông ta quay về, dáng điệu hết sức thất vọng.

Hai hôm sau thì người Hoa giã từ anh em Nguyễn Nhạc ra đi, không trở lại nữa. Phần Nguyễn Nhạc, tuy trong lòng bán tín bán nghi nhưng ông cũng quyết định âm thầm bốc mộ cha mình đem chôn nơi cây trúc phía nam. Để tránh người Hoa có thể trở lại xem xét, chôn xong Nhạc san bằng mặt đất và để nguyên hai cây trúc đã héo như trước. Nhạc làm dấu quanh đó để sau này biết đường xác định vị trí huyệt mả, dự trù vài năm nữa sẽ cho xây dựng mộ bia. Việc làm này ông giấu kín hoàn toàn, ngay cả với những người thân trong gia đình.

Buổi tối hôm đó, khi lớp học của giáo Hiến sắp kết thúc thì Nguyễn Nhạc ghé thăm. Hai bên chào nhau xong, giáo Hiến mời Nhạc ngồi xuống ghế rồi hỏi:

– Ông Biện ghé chơi hay có việc gì không?

Rồi ông gọi sang nhà bên:

– Lan à, pha bình trà mới mời ông Biện nghe con.

Có tiếng đáp vọng lại:

– Dạ, thưa cha!

Nguyễn Nhạc nói:

– Cũng có chút chuyện muốn nhờ thầy phân tích xem sao.

– Là chuyện gì?

– Cũng là chuyện thời sự nóng bỏng hiện nay. Tôi muốn được nghe thầy phân tích xem tình hình sắp tới sẽ thế nào. Hiện giờ, mọi sinh hoạt xã hội đều rất tồi tệ. Dạo này công việc buôn bán khó khăn và trì trệ quá. Hàng hóa ế, giá cả mọi thứ thì cứ tăng vọt từng ngày. Lại thêm cái nạn triều đình tăng thuế nữa. Tình hình này nếu không có cách gỡ, chắc việc kinh doanh của tôi bị phá sản quá. Thầy cho tôi xin vài nhận định cũng như ý kiến xem sao.

Giáo Hiến thở dài nói:

– Muốn hiểu cho tường tận những nguyên nhân đưa đến tình trạng tồi tệ hiện nay, chúng ta phải lùi lại xa hơn một chút, mở rộng tầm quan sát hơn mới có thể thấy rõ được bối cảnh chung của lịch sử vương triều Nguyễn trong thời gian vừa qua.

Nguyễn Nhạc và đám học trò ai nấy đều sửa lại thế ngồi cho ngay ngắn rồi chăm chú lắng nghe. Nguyễn Nhạc nghe mấy chữ “vương triều Nguyễn” thì lấy làm lạ nên hỏi chen vào:

– Thầy vừa nói là vương triều Nguyễn à?

Giáo Hiến gật đầu đáp:

– Đúng vậy. Là vương triều Nguyễn của Đàng Trong từ ngày Phúc Khoát xưng vương. Do đâu mà có điều này thì chúng ta phải đi sâu vào từng chi tiết nhỏ. Trước tiên là lời sấm “Đến tám đời thì về Trung Đô” không biết từ đâu đã lan truyền trong dân chúng. Sau đó lại thêm tin đồn ở một vùng núi phía nam có một vị đạo sĩ hơn tám mươi tuổi đã căn cứ vào thuyết “thượng ngươn, hạ ngươn” mà quả quyết rằng: “Chỉ có đến tám đời Chúa thôi, không hơn. Cho đến khi núi biến thành đồng, cửa biển bị lấp, sao chổi xuất hiện thì vương quốc sẽ chuyền tay người khác”. Những lời đồn đại này đã khiến cho triều đình lo sợ và tìm cách chống lại. Nhân có điềm lạ là cây sung nở hoa, gọi là “ưu đàm khai hoa”, mọi người đều cho rằng đó là điềm cát tường nên triều thần cùng nhau dâng biểu xin Chúa xưng vương nhằm thay đổi toàn triệt lời sấm. Vì vậy mà năm Giáp Tý 1744, Chúa Võ đã trở thành Võ Vương, cho đúc ấn và xin xưng thần với nhà Thanh, tự coi là một vương quốc riêng ở miền Nam, chia nước ra thành mười hai dinh, một trấn là Hà Tiên và đế đô là Phú Xuân.

– Với những thay đổi đó, sự tình rồi có khá hơn không?

– Chẳng những không khá hơn mà còn tồi tệ hơn.

– Lại là những chuyện gì nữa?

– Sự phát triển thương cảng Cù Lao Phố của Trần Thượng Xuyên và vùng Mỹ Tho của Dương Ngạn Địch đã thu hút nhiều thương thuyền nước ngoài, làm cho nhu cầu tiền tệ trao đổi tăng cao. Võ Vương bèn thuê Hà Lan và Nhật Bản đúc tiền đồng. Sau vì lượng đồng trong nước không đủ nên năm 1746, phủ Chúa đã cho đổi sang đúc tiền kẽm rẻ hơn, lại đúc dưới dạng nhỏ, có lỗ xỏ để tiết kiệm nguyên liệu. Về sau, một phần do sự lũng đoạn của gian thần, một phần do bọn gian thương người Minh Hương đúc tiền lậu rồi dùng tiền đó mua lại hàng hóa với bất kỳ giá nào nên đã khiến cho đồng tiền mất giá một cách tồi tệ và tạo thành lạm phát trầm trọng. Từ lạm phát dẫn đến sự suy thoái của nền kinh tế trong cả nước. Nhân dân không còn tín nhiệm đồng tiền kẽm nữa, thay vì giữ tiền họ chuyển sang giữ hàng hóa, lúa gạo, làm cho tình trạng lương thực khan hiếm, nạn đói ngày một gia tăng và lan rộng khắp nước. Kể từ cuối năm ngoái cho đến năm nay, tại vùng Gia Định và miệt châu thổ sông Cửu Long mà giá thóc gạo đã cao quá mức chịu đựng của người tiêu dùng thì nói chi đến những nơi khác. Tệ hơn thế nữa, dù là giá cắt cổ nhưng cũng chẳng có thóc lúa để mà mua. Từ ngày tên gian tặc Quốc phó Trương Phúc Loan kết bè kết đảng tiếm quyền phủ Chúa, tình hình kinh tế trong nước đã trì trệ nay còn tồi tệ hơn. Liên tục những năm gần đây có nhiều hiện tượng kỳ quái xảy ra như năm 1757, tự nhiên cửa biển Tư Dung bị bồi lấp, núi sập, chuột đồng xuất hiện khắp nơi… Cho nên dân chúng càng hoang mang và mất niềm tin đối với phủ Chúa. Họ cho rằng lời sấm đã bắt đầu linh ứng. Đã thế, bọn gian tặc Quốc phó lại còn đưa ra chính sách sưu cao thuế nặng, đè đầu đè cổ người dân, moi móc họ đến đồng tiền kẽm cuối cùng khiến cho lòng dân ai nấy đều căm phẫn.

– Theo thầy thì triều đình nên dùng cách gì để ngăn chặn hoặc làm thay đổi tình hình đói kém và thiếu gạo hiện nay?

– Trước hết phải ngăn chặn nạn đúc tiền kẽm giả và giới hạn việc đúc tiền của triều đình. Sau đó phải ổn định giá lúa gạo vì nó là nguồn huyết mạch của toàn dân. Giá lúa gạo có ổn định thì mọi sinh hoạt khác mới ổn định theo được. Mà để giảm giá thóc gạo, triều đình phải lập ra những kho điều tiết ở từng địa phương để thu mua thóc khi giá còn rẻ rồi cho tồn kho. Gặp lúc giá thóc tăng cao mới cho bán ra để ổn định giá cả. Như thế, giá thóc sẽ không quá rẻ làm thiệt hại đến người nông dân, mà cũng không quá mắc gây khó khăn cho người tiêu dùng. Các kho này sẽ làm nhiệm vụ điều tiết thị trường để ổn định đời sống dân chúng, làm giảm bớt nạn đói. Đáng tiếc là triều đình đã không biết làm như vậy.

………..

(xem tiếp vào ngày mai)