Kỳ 139:

………

Nghe giáo Hiến phân tích tình hình và đưa ra biện pháp khắc phục, Nguyễn Nhạc thầm phục trong lòng. Giáo Hiến đúng là người có tài kinh bang tế thế. Nhạc phấn khởi hỏi tiếp:

– Theo ý của thầy thì lời sấm kia có linh ứng thật hay không?

Ngọc Lan đã pha trà xong và mang sang. Nàng rót nước vào hai chiếc tách, đặt bình trà lên bàn rồi cúi đầu chào Nguyễn Nhạc nói:

– Mời ông Biện dùng trà, mời cha dùng trà.

Nguyễn Nhạc mỉm cười:

– Cảm ơn cô Lan. Sắp trở thành cô thiếu nữ xinh đẹp rồi đấy. Nhanh nhỉ?

Ngọc Lan đỏ mặt nói:

– Ông Biện chọc cháu hoài. Cháu xin phép ạ.

Rồi Ngọc Lan trở bước về bên nhà, không quên đưa mắt lén nhìn Nguyễn Huệ. Không ngờ lúc đó Huệ cũng liếc nhìn nàng, bốn mắt giao nhau khiến nàng càng đỏ mặt lúng túng hơn, hệt như kẻ gian đang bị bắt quả tang. Nàng vội cúi đầu đi thẳng.

Nguyễn Nhạc uống hớp trà, giục giáo Hiến:

– Thầy nói về lời sấm truyền ấy đi.

– Lời sấm ấy đã tiên đoán đúng, do đó mới sinh ra tên gian tặc Trương Phúc Loan. Lời tiên đoán nói rằng chỉ có tám đời, tuy sẽ rất khó nhưng tôi e là sẽ linh nghiệm.

Nguyễn Nhạc hơi chồm người tới trước hỏi:

– Thầy căn cứ vào đâu mà cho là rất khó nhưng lại e rằng sẽ linh nghiệm?

– Lòng kẻ sĩ trong thiên hạ hãy còn hướng về nhà Nguyễn, hai chữ “trung quân” sẽ buộc họ và phủ Chúa lại với nhau. Vì vậy muốn phủ Chúa sập đổ sẽ rất khó bởi kẻ sĩ luôn là rường cột của một quốc gia. Còn nói e rằng sẽ linh nghiệm là vì lòng dân đã quay lưng lại với phủ Chúa. Họ đang muốn có một sự thay đổi để thoát ra khỏi tình trạng xã hội quá sức tồi tệ này.

– Thầy thuộc về nhóm kẻ sĩ trong thiên hạ hay nhóm đồng bào cùng khốn kia?

Từ lúc gặp Nguyễn Nhạc và sau ba năm dạy dỗ Lữ, Huệ, giáo Hiến biết ba anh em nhà này vừa có hùng tài vừa có chân mạng. Họ có thể làm nên việc lớn như ông hằng mong đợi, chỉ cần hun đúc thêm đại chí, được đào tạo tốt nữa thì đại nghiệp sẽ thành. Ông biết Nguyễn Nhạc đang thăm dò lập trường chính trị của mình nên tuy đã có chủ kiến từ trước, ông vẫn giả bộ nói khác đi để thử lòng Nguyễn Nhạc.

– Tôi là kẻ thừa kế nghiệp nho gia của tiên phụ, ông Biện đã biết rồi.

Nguyễn Nhạc hơi nhíu mày hỏi tiếp:

– Thế thì theo thầy, tình trạng tồi tệ của xã hội hiện nay vì đâu mà có và rồi sẽ đi về đâu?

Giáo Hiến nhìn thấy cái nhíu mày của Nhạc, trong bụng mừng thầm. Ông đáp:

– Sự tệ hại của xã hội hiện nay, tất cả đều do bọn gian tặc Quốc phó và bè đảng. Trừ tuyệt bọn chúng đi thì mọi việc tồi tệ sẽ kết thúc.

– Thầy có nghĩ là trừ tên Quốc phó này đi thì sẽ lại có một tên Quốc phó khác thay thế không? Vì nhà Chúa bây giờ chỉ toàn là một bọn ham chơi, đam mê tửu sắc, đâu còn nghĩ gì đến việc chăn dân, trị nước nữa.

Giáo Hiến vờ đáp:

– Có thể. Cho nên bổn phận của chúng ta là phải giúp Chúa trừ tên Trương Phúc Loan này và ngăn chặn những tên khác mọc lên.

Nguyễn Nhạc có vẻ phật ý hỏi:

– Ở Đàng Ngoài, Chúa Trịnh thâu tóm mọi quyền hành, vua Lê giờ chỉ còn là hư vị, danh là vua nhưng quyền cai trị nước lại nằm trong tay họ Trịnh. Tình trạng này theo thầy thì do đâu mà có?

Khi thấy Nguyễn Nhạc đang cố ý đưa mình vào thế bí, giáo Hiến mừng thầm. Nhưng ông vẫn giả bộ thở dài.

– Đó là thảm trạng của đất nước. Kể từ khi Lê Thái Tổ đánh đuổi quân Minh lập nên nhà Lê, trải qua hơn ba trăm năm đã đem lại cho dân tộc một thời kỳ vàng son cực thịnh nhưng cái thời kỳ ấy đã qua rồi, thay vào đó là tình trạng Chúa Trịnh lộng quyền, đất nước điêu linh. Cuộc thịnh suy thay đổi này là cái lẽ xoay vần của tạo hóa, con người khó lòng cưỡng lại được.

Nguyễn Nhạc nghe giáo Hiến nói thế thì chồm người tới trước hỏi:

– Thế thì cái cuộc thịnh suy của Chúa Nguyễn Đàng Trong có phải cũng là do lẽ tự nhiên của trời đất vần xoay không, thưa thầy?

Giáo Hiến đã nhìn thấy được ý nghĩ trong đầu Nguyễn Nhạc nên đáp:

– Đã là qui luật thì khó lòng tránh khỏi. Có điều vần xoay thế nào, bao giờ mới cáo chung thì còn tùy thuộc vào rất nhiều nhân tố.

– Những nhân tố nào có thể góp phần đưa sự vần xoay đó đến cáo chung?

Giáo Hiến nhìn thẳng vào mắt Nhạc đáp:

– Phải hội đủ thiên thời, địa lợi và nhân hòa.

– Làm sao có thể biết thiên thời đã đến?

– Điềm trời. Ví như lời sấm truyền, lời tiên tri về núi lở, cửa biển lấp, sao chổi mọc…

– Còn địa lợi?

– Địa lợi là vùng đất tốt để phát khởi.

Nhạc lại chồm người tới trước:

– Theo thầy vùng đất nào là vùng đất tốt để phát khởi?

Giáo Hiến bưng tách trà lên hớp một ngụm, nhìn Nguyễn Nhạc rồi chậm rãi đáp:

– Tây Sơn!

Ba anh em Nguyễn Nhạc đồng thốt lên:

– Tây Sơn à?

Giáo Hiến gật gù:

– Đúng. Tây Sơn là nơi mà có thể nói đại địa lợi.

Nguyễn Nhạc uống một hớp trà, nuốt mạnh xuống như để nén lại sự phấn chấn đang trào dâng trong lòng. Nhạc hỏi tiếp:

– Còn nhân hòa?

– Đó là lòng dân, lòng kẻ sĩ.

– Theo ý thầy lúc nãy thì lòng dân đã hòa, chỉ còn lòng kẻ sĩ chưa thuận nữa mà thôi, phải không?

– Có thể nói như vậy.

– Còn gì nữa không thầy?

– Còn. Đó là cần có một người vừa có hùng tâm, vừa có tài trí để có thể nắm vững lấy ba yếu tố thuận lợi kia mà thực hiện sự cáo chung.

Sắc mặt Nguyễn Nhạc như sáng hẳn lên. Trong khi đó, ánh mắt chú học trò nhỏ Nguyễn Huệ cũng chợt lóe lên một tia sáng kỳ lạ rồi trở lại bình thường. Đó là thói quen của Huệ mỗi khi tâm lĩnh được một điều gì quan trọng. Những biểu hiện ấy của hai anh em Nhạc, Huệ không thoát khỏi ánh mắt tinh minh của giáo Hiến. Lại nghe Nhạc hỏi:

– Theo thầy thì Truông Mây đã hội đủ những yếu tố đó chưa?

– Nhìn bề ngoài thì có vẻ đủ, nhưng bên trong hãy còn thiếu.

– Thiếu cái gì thầy?

– Thiên thời chưa hội đủ, địa có lợi nhưng chưa hoàn hảo, nhân có hòa nhưng chưa rộng khắp. Chưa kể sự chính đáng của mục đích đấu tranh.

– Như thế theo thầy, cuộc nổi dậy của các hiệp sĩ Truông Mây là chưa chính đáng à? Thầy đánh giá thế nào về họ?

– Dựa theo nội dung tờ hịch truyền rao trong dân chúng thì Truông Mây chủ trương tiêu diệt tên Quốc phó Trương Phúc Loan và bè đảng, điều đó tuy chính đáng nhưng tôi nghi ngờ về mục tiêu lâu dài, kể cả thành quả của họ.

– Vì sao?

– Họ đã khôn khéo tránh né, không đề cập đến việc họ sẽ làm gì sau khi tiêu diệt Trương Phúc Loan. Điều này chừa cho họ một cánh cửa lớn với dụng ý sau khi diệt được Trương Phúc Loan, họ sẽ đi xa hơn, lật đổ cả phủ Chúa.

Nguyễn Nhạc gục gặc đầu tỏ vẻ đồng ý rồi hỏi:

– Theo thầy thì tại sao họ lại phải giấu giếm mục đích sau cùng của mình?

– Dễ hiểu thôi, bởi nếu ngay bây giờ mà họ lộ ra mục đích cuối cùng, họ sẽ gặp phải sự phản đối của tầng lớp sĩ phu trong nước. Lớp sĩ phu này sẽ buộc tội họ là phản loạn và chống đối họ. Ông Biện nên biết rằng, một cuộc nổi dậy mà chỉ dựa vào đám dân cùng khổ hay những người hiệp sĩ võ biền mà không có đám sĩ phu tiếp tay thì coi như cầm chắc sự thất bại đến sáu bảy phần.

Có vẻ không hài lòng trước ý kiến này, Nguyễn Nhạc biện bác:

– Xin lỗi thầy, tôi nói có khi không phải, nhưng đám sĩ phu trói gà không chặt, suốt ngày chỉ rao giảng đạo đức thánh hiền rặt điều sách vở cũ rích thì so bì thế nào được với lực lượng đông đảo của quần chúng?

– Ông Biện nói đúng nhưng chỉ một phần. Một cuộc cách mạng bao giờ cũng có hai phần: đấu tranh và xây dựng. Sức mạnh của đông đảo quần chúng có thể giúp đưa cuộc đấu tranh đến thắng lợi, nhưng thắng lợi rồi họ sẽ không biết làm thế nào để bảo vệ, xây dựng và phát huy thành quả của thắng lợi đó. Đập phá hoặc thiêu hủy một căn nhà chỉ cần một anh chàng khỏe mạnh với một cái búa hoặc một nùi lửa là xong. Nhưng phá xong muốn xây dựng lại như cũ hoặc đẹp hơn thì phải cần đến bàn tay của người thợ. Trong bối cảnh của một quốc gia, người thợ đó chính là tầng lớp sĩ phu. Những người mà ông Biện vừa cho rằng trói gà không chặt đó. Một cuộc cách mạng toàn diện cần phải có đủ cả hai tầng lớp: quần chúng và kẻ sĩ. Như thế mới thực hiện được cả hai việc: đấu tranh và xây dựng, nếu không đó chỉ là cuộc bạo loạn. Bạo loạn tuy có thể dẫn đến thành công trong đấu tranh nhưng sau đó những người bạo loạn sẽ đưa đất nước đi từ hố sâu này đến một vực thẳm khác.

– Thầy phân tích rất chính xác, tôi đồng ý. Vậy theo thầy cuộc nổi dậy của Truông Mây là cách mạng hay bạo loạn?

– Họ đang làm rất tốt, đúng với tinh thần hiệp sĩ “kiến nghĩa dũng vi”. Họ nhìn thấy đồng bào bị đói khổ, bị áp bức nên xắn tay tương trợ. Họ kêu gọi nhau họp lại, trước làm ăn cướp, đi cướp của nhà giàu phát cho dân nghèo, sau vì người nghèo theo nhiều, lực lượng đủ mạnh, lại thấy cảnh triều đình suy nhược nên tiến thêm bước nữa là hô hào tiêu diệt tên Quốc phó. Cho đến giờ phút này, việc họ đang làm là một cuộc cách mạng.

– Thầy đang nghi ngờ về sức mạnh của họ hay mục đích của họ?

– Cả hai.

– Xin thầy nói rõ lý do.

Giáo Hiến chậm rãi giải thích:

– Làm hiệp sĩ khác với làm chiến sĩ cách mạng. Làm chiến sĩ cách mạng thì thắng lợi là trên hết, đôi khi phải đạp lên mọi thứ để đi tới đích. Còn hiệp sĩ thì thấy việc nghĩa dẫu chết không từ. Chính cái tinh thần ấy đã đẩy Truông Mây vào thế kẹt hiện nay là phải vừa chuẩn bị đánh giặc vừa nuôi một đàn con đông, trong khi nhà lại chật và nghèo. Họ vì lòng nghĩa hiệp mà đứng ra gánh vác miếng ăn cho hàng vạn người nghèo sắp chết đói, đây là một nghĩa cử cao đẹp nhưng cũng chính nghĩa cử ấy sẽ đẩy họ vào chỗ chết. Khi phát động cuộc chiến trở lại, chẳng những họ sẽ không có đủ lương thực để cứu đói mà chính họ cũng chết đói theo đám người nghèo kia. Nói đúng hơn, vì thiếu lương thực cho nên nghĩa binh không thể tác chiến, mà điều đó đồng nghĩa với thất bại.

– Trường hợp là thầy, thầy sẽ xử sự thế nào khi đám dân nghèo đói cứ kéo đến địa bàn của thầy nằm thoi thóp cầu cứu.

– Tôi sẽ giúp họ, nhưng giúp họ mà biết chắc rằng sau đó mình sẽ cùng chết với họ trong khi tôi còn việc lớn chưa hoàn thành thì trước tiên tôi sẽ tìm mọi cách từ chối hoặc tránh né. Lía xuất thân là một người nghèo khổ, ông ta đã từng chứng kiến cảnh mẹ mình chết vì nghèo, vì đói cho nên có sự tương lân mà ra tay giúp đỡ. Nghĩa cử ấy rất cao đẹp, nhưng ông ta quên rằng mình đang làm cách mạng, đang nắm trong tay hàng ngàn sinh mạng của nghĩa binh. Nếu thất bại trong cuộc chiến sắp tới, bao nhiêu ngàn nghĩa binh sẽ vì lòng nhân từ của ông ta mà phải hi sinh. Đã thế, công sức cùng lý tưởng cách mạng cũng bị xóa bỏ.

– Lía có thể vì lòng lân tuất mà ra tay giúp đỡ dân nghèo nhưng tôi tin Trần Lâm, người phụ tá của ông ta sẽ nhìn ra điều nguy hiểm này. Hi vọng họ có thế để gỡ. Hơn nữa, bây giờ lòng nhân nghĩa của Truông Mây đã tiếng lành đồn xa, khắp Nam hà người người kính phục, nhân dân hai huyện Phù Ly và Hoài Nhơn lại một lòng quyết chết để bảo vệ đến cùng cái vùng đất đầy tình thương của họ. Yếu tố nhân hòa mà họ đạt được cũng là thế mạnh giúp họ đứng vững trong cuộc chiến sắp tới. Thêm vào đó, họ còn có mối quan hệ rất tốt với các bản dân tộc cao nguyên, đặc biệt là bản Đá Vách. Đó là một hậu thuẫn khá vững vàng.

– Tôi cũng nghĩ và cũng hi vọng như vậy. Lực lượng người dân tộc là một sức mạnh đáng kể, nếu sự liên kết đó chặt chẽ thì Truông Mây sẽ rất vững chắc. Đáng tiếc lúc đầu họ đã vô tình mắc phải một lỗi lầm nhỏ nên mới tạo ra tình trạng nguy hiểm như hôm nay.

– Như thế tại sao chúng ta không tìm cách giúp họ? Nhất là những kẻ sĩ ưu tú như thầy, bang chủ bang Hành Khất Trần Đại Bằng, sư huynh của thầy?

– Cảm ơn ông Biện đã đề cao. Bang Hành Khất trong thời gian gần đây đã bắt tay chặt chẽ với Truông Mây trong việc giúp đỡ người nghèo đói. Họ đã đóng góp lương thực, nhân lực để phụ với Truông Mây, nhất là trong việc di chuyển đồng bào vào Nam.

– Có nghĩa là sự liên kết ấy cũng chỉ trên căn bản tinh thần nhân đạo cứu người nghèo đói chứ không liên hệ gì đến công cuộc đấu tranh cả?

– Đúng vậy. Cho đến lúc này.

– Còn về sau?

Giáo Hiến trầm ngâm một lúc rồi trả lời:

– Mọi việc trên thế gian này đều kết nối bởi một chữ “duyên”. Có duyên thì tụ, hết duyên thì tan, còn đã vô duyên thì không thể tụ. Huống chi lòng không đủ thành thì duyên càng khó đến.

………..

(xem tiếp vào ngày mai)