Kỳ 141:

Hồi thứ ba mươi tám

Tiểu Thâu Nhi ra oai đốt kho lương Long Phượng

Đánh binh triều Trần Lâm bày Bát quái trận đồ

*

Trời đã vào tiết Lập Thu mà nắng vẫn như thiêu như đốt khiến cho ruộng đồng nứt nẻ, cây cỏ héo khô, sông hồ cạn kiệt. Một dải đất từ Thanh Hóa đến Bình Thuận mùa màng mất trắng, chỉ có vùng đồng bằng miền Nam là còn thu hoạch được. Thỉnh thoảng, một vài trận mưa rào đổ xuống bất chợt làm bốc lên mùi đất khô, mùi xú uế khiến những con người ốm yếu càng dễ mắc bệnh hơn. Sự đời thường oái oăm như thế đó. Một khi đã lâm vào cảnh tai ương thì sẽ bị dồn dập, thật đúng với câu “họa vô đơn chí”.

Tuy nhiên, trong tình trạng tồi tệ, con người bao giờ cũng cố sức vùng vẫy để thoát ra. Họ quyết định bỏ cái xứ sở quỉ quái, khắc nghiệt này để tìm đến những nơi tốt hơn mà kiếm sự sống. Và họ lũ lượt ra đi. Dòng người đói khổ lập thành từng nhóm, kéo lê tấm thân tàn cố đến cho được miền Nam xa xôi bằng đường thủy, đường bộ, mong tìm miếng cơm ở nơi trù phú đó. Mười người hết ba, bốn đã bỏ xác dọc đường vì kiệt sức. Những kẻ đồng hành thương tình đào vội cái hố bên đường, lấp tạm cho chim thú khỏi xé thây rồi lại tiếp tục cuộc hành trình thiên lý. Người đói thì thú vật cũng chẳng hơn gì. Những xác chết chôn vội bên đường ấy đã bị chúng đào bới lên để ăn, mùi hôi thối bay xa trong bầu không khí khô khan nóng bức. Đúng là cảnh người chết hai lần.

Thiên tai giáng xuống đầu người dân đói khổ, xác chết rải rác khắp nơi nhưng chẳng thấy triều đình có biện pháp gì cứu giúp. Thật đúng là: “sống chết mặc bay, tiền thấy bỏ túi”. Ngay cả những hiệp sĩ Truông Mây đầy lòng bác ái mà cũng đành phải nuốt lệ ngồi nhìn đồng bào ruột thịt chết dần trong các trại tị nạn dọc hai bờ sông Phù Ly và Lại Dương. Tình cảnh này thì cái câu “kiến nghĩa dũng vi” cũng đành xếp xó mà thôi. Sách vở đạo lý thánh hiền giờ không bằng một hạt gạo hay hạt muối trong tay người nông dân. Đây đúng là cái thời của: “hết gạo chạy rông, nhất nông nhì sĩ” vậy.

Suốt mùa hè, những chuyến tàu lương thực lẻ tẻ từ miền Nam thỉnh thoảng cập vào hai cảng Đề Gi và An Dũ. Lượng lương thực ấy chỉ đủ để cho đám dân tị nạn trong trại ngày hai bữa cháo cầm hơi. Các thủ lĩnh Truông Mây quyết định giữ lại một phần lương thực khả dĩ có thể nuôi quân trong những ngày chinh chiến sắp tới. Nhiều người già yếu trong các trại thấu hiểu nỗi khổ tâm của nghĩa binh nên thà nhịn đói chờ chết chứ không chịu phí lương thực. Họ nói:

– Hãy để dành lương thực cho nghĩa quân có sức đánh giặc. Cầu cho họ chiến thắng để con cháu chúng ta được sung sướng.

Tình cảnh đó, những câu nói, những tấm lòng thành đó khiến cho người nghe không cầm được nước mắt. Chỉ có bọn quan lại Phú Xuân là lòng trơ như đá, quay mặt làm ngơ, lại còn chuẩn bị binh mã để tiễu trừ đám loạn tặc Truông Mây.

Đầu mùa thu năm đó, Phú Xuân phát động chiến dịch tảo thanh Truông Mây bằng bốn đạo với số quân lên đến hơn một vạn.

Đạo thứ nhất do Nguyên soái Nguyễn Cửu Thống cùng hai phó tướng là Tán lý Trần Hoàng, Tổng nhung Thành đem ba ngàn thủy quân, trên năm mươi chiến thuyền kéo vào tấn công cửa biển Đề Gi.

Đạo thứ hai do Tiết chế Nguyễn Phúc Hương và Tổng nhung Trương Kế đem hai ngàn quân từ Quảng Nam vào hợp cùng hai ngàn quân Quảng Ngãi của Trương Bá Thành đánh phá đèo Thạch Tân.

Đạo thứ ba do Phan Ngọc Chánh cùng Phạm Kiến Tính dùng Trần Trụ làm tiên phong, đem ba ngàn quân từ phủ Quy Nhơn tấn công Phù Ly.

Đạo thứ tư do Tống Phước Hiệp và Nguyễn Văn Hưng dùng Nguyễn Khoa Kiên làm tiên phong, đem ba ngàn quân từ Phú Yên vòng qua núi Dương An vào Vân Canh rồi ngược lên Tây Sơn theo đường Vĩnh Thạnh uy hiếp Truông Mây.

Tin tức các lộ tiến quân của triều đình nhanh chóng bay về đến Truông Mây. Mọi người từ thủ lĩnh, chỉ huy cho đến nghĩa binh đều nức lòng chờ đợi vị quân sư tài ba của họ là Trần Lâm đưa ra kế hoạch tác chiến. Trong khi đó, Trần Lâm đang một mình đứng im lặng trên đỉnh Kim Sơn, hai tay chắp sau lưng, mắt dõi xa xăm như để tìm ra một kế sách vẹn toàn cho cuộc chiến mang tính quyết định này. Ở dưới thành, Lía tìm mãi không thấy Trần Lâm nên biết ngay là chàng đang ở trên này. Lía đem theo Thiên Tường lên đỉnh Kim Sơn rồi hai người đến đứng hai bên Trần Lâm. Lía hỏi:

– Kế hoạch ra quân lần này thế nào?

Trần Lâm vẫn không thu mắt về, đáp:

– Trong bốn đạo quân, đạo của Tống Phước Hiệp tấn công vào Truông Mây là mạnh nhất. Phước Hiệp vốn là danh tướng của nhà Nguyễn, đã cùng đám quân sĩ trải qua bao trận chiến khai mở bờ cõi phương Nam, sang tới tận Cao Miên. Họ rất thiện chiến, lại có kinh nghiệm chiến trường. Truông Mây chúng ta tuy địa thế hiểm trở nhưng quân số quá ít nên việc phòng thủ sẽ rất cam go.

– Có kế sách gì vẹn toàn không?

Trần Lâm mím môi quay lại nhìn Lía, im lặng một lúc rồi đáp:

– Có nhưng rất nguy hiểm.

– Kế sách thế nào?

– Đại ca còn nhớ khi lần đầu đưa đệ từ Trưng Sơn về Truông Mây, lúc qua khỏi đèo Giốc Đót chúng ta có đi qua một vùng mà đệ đã gọi là Tử Cốc không?

– Nhớ chứ, lúc đó đệ nói nếu có thể dụ địch lọt vào đây thì chỉ cần một mồi lửa thôi cũng đủ để tiêu diệt cả đạo quân vài ngàn người.

– Đệ định thực hiện lời giả đoán đó, nhưng Tống Phước Hiệp không phải là vị tướng dễ bị mắc mưu, trừ phi…

– Trừ phi cái gì?

– Trừ phi hắn có hi vọng bắt được vị thủ lĩnh đầu não của Truông Mây là đại ca.

Lía hiểu ra liền cười hỏi:

– Đệ định đem tính mạng của ta ra làm miếng mồi ngon dụ Tống Phước Hiệp phải không?

Trần Lâm gật đầu:

– Lọt vào cửa Tử Cốc là đã vào trong lòng của bán tử hồ lô. Đệ gọi thế là vì vùng đất trống được bao bọc bởi những vách núi đứng sững này tạo thành hình một cái hồ lô, phía trong sâu lại có một vực thẳm chạy dài cắt ngang bụng của nó. Khoảng cách từ bên này sang bên kia bờ vực thẳm, chỗ hẹp nhất cũng phải hơn mười lăm trượng (60m). Nhảy qua được bên kia vực thì thoát nạn. Số quân địch lọt vào bên trong, mùa khô này chỉ cần bịt miệng Tử Cốc lại và dùng vài mũi tên lửa là xong, vì trong bụng hồ lô mọc toàn lau sậy và cây dầu. Đại ca có thể nhảy sang bên kia bờ vực với độ rộng hơn mười lăm trượng không?

– Nhảy không thì không được, nhưng nếu bên kia có cây cối thì ta có thể quăng dây cột vào để mượn thêm sức. Như vậy sẽ an toàn.

– Đệ cũng đã suy nghĩ như thế. Vì vậy đại ca cần phải chuẩn bị một sợi dây đủ dài để sử dụng.

– Còn những anh em theo ta thì sao? Cả con ngựa bạch khởi của ta nữa?

– Trận này đại ca nên tìm một con ngựa tốt khác mà sử dụng. Về các nghĩa binh đi theo với đại ca thì chúng ta sẽ tuyển ra khoảng năm mươi người có khinh công cao nhất, ra đi với tinh thần quyết tử. Bởi vì trước khi bỏ chạy, đại ca cùng bọn họ phải đánh một trận sống chết với quân địch, chỉ khi nào hết chiến đấu nổi mới mở đường máu mà thoát ra. Như vậy Tống Phước Hiệp mới mắc bẫy được. Khi vào trong bán tử hồ lô rồi, ai không thể nhảy sang bên kia thì đành phải hi sinh cùng với địch quân vậy.

– Để có thể phá tan cánh quân Tống Phước Hiệp đành phải mạo hiểm. Ta tin rằng anh em sẽ không oán trách gì đâu.

Thiên Tường hỏi:

– Đệ có thể đi theo đại ca trận này không?

Trần Lâm quay nhìn Thiên Tường đáp:

– Đệ là chỉ huy trưởng của đội thiết kỵ, đâu có thể tham dự bên này được.

Quay sang Lía, Trần Lâm nói:

– Để bảo đảm an toàn, đại ca nên đưa anh em đến đó thực tập cách nhảy sang bờ vực trước. Nếu không có cây cối mọc sẵn thì ta phải trồng trụ ở những vị trí thích hợp. Nhớ là phải bí mật và đừng để lại dấu vết gì khả nghi cả. Khi binh Tống Phước Hiệp vào Vĩnh Thạnh, hắn sẽ chia chính binh theo ngả đèo Màn Lăng mà vào Thạch Khê vì hắn nghĩ ta sẽ đổ quân phòng bị mặt này, còn cánh kỳ binh do hắn chỉ huy sẽ đi đường đèo Giốc Đót để tiến thẳng xuống Truông Mây. Trường hợp xảy ra đúng như ta dự kiến thì đại ca cùng tam ca cứ làm như vầy… như vầy… là được.

Lía vui vẻ nói:

– Được, để xem trước khi bỏ chạy cây Đoạn Hồn đao của ta sẽ đoạn được bao nhiêu âm hồn của giặc. Hà hà…

…………

(xem tiếp vào ngày mai)