Kỳ 154:

………….

Nhắc lại Nguyễn Phúc Hương dẫn tàn quân chạy về huyện Mộ Hoa, ông cho quân hạ trại bên ngoài rồi cùng với Trương Kế và hữu đội trưởng Đỗ Thành Nhơn vào trong huyện nha gặp Chu Bách. Chu Bách sau khi hay tin kho lương bị cháy đã lo sợ đứng ngồi không yên, nay thêm tin đại binh của Phúc Hương và Trương Bá Thành thua tan tác càng làm hắn như người tử tội sắp bị đem đi xử trảm. Hắn biết chuyến này cái chức quan huyện béo bở của hắn mất là cái chắc, không chừng còn mất luôn cả cái đầu trên cổ cũng nên. Nghe quân vào báo Nguyễn Phúc Hương đã trở về, hắn lật đật chạy ra tận cổng huyện đường tiếp đón. Thấy bộ dạng ba vị tướng mình đầy những máu, quần áo, đầu tóc xác xơ, hắn liền ra lệnh cho thầy thuốc đến xem xét và điều trị cho họ. Sau đó truyền dọn tiệc để các tướng tắm rửa, ăn uống, nghỉ ngơi dưỡng sức. Nguyễn Phúc Hương bấy giờ mới hoàn hồn nói với Đỗ Thành Nhơn:

– Cảm ơn nhà ngươi đã không tiếc mạng sống của mình để bảo vệ cho ta. Ngươi theo ta lâu nay mà ta không nhìn ra ngươi là một tướng tài. Ta quả thật sơ sót! Từ nay ngươi hãy ở bên cạnh ta, ta sẽ tìm cách nâng đỡ ngươi.

Đỗ Thành Nhơn nhún nhường nói:

– Đó là bổn phận của tiểu tướng, Tiết chế không cần phải bận tâm.

– Trận này nếu không có nhà ngươi thì cả ta và đại quân đều đã bị tiêu diệt rồi. Chúng ta tuy đại bại hao binh nhưng công của nhà ngươi rất lớn. Bọn cướp Truông Mây quả nhiên lợi hại, suốt cuộc đời làm tướng, ta chưa từng gặp loại trận pháp nào như thế bao giờ. Tình hình này cá nhân ta thú thật cũng đành bó tay, không thể nào chống cự lại được. Đành phải báo cáo về Phú Xuân để quan Quốc phó trù tính cách khác vậy.

Chu Bách trong bụng vẫn còn lo ngay ngáy, nghe nói đến chuyện báo cáo về Phú Xuân, hắn vừa run vừa nói:

– Kho lương thảo Long Phượng là kho lớn của phủ Quảng Ngãi, nay đã bị cháy rụi, tội này nếu quan Tiết chế không nói giúp cho vài lời thì cái đầu của hạ quan phen này ắt phải rơi khỏi cổ. Mong Tiết chế giúp cho, hạ quan quyết chẳng bao giờ quên ơn.

– Bản thân ta cũng chưa biết có giữ nổi cái mạng mình hay không đây. Nhưng dù sao ta cũng sẽ kiếm cách nói giúp cho, ông đừng lo.

Chu Bách mừng rỡ nói:

– Nếu Tiết chế chịu đứng ra giúp thì cái mạng già này còn có hi vọng sống sót. Hạ quan xin đội ơn Tiết chế trước.

Đỗ Thành Nhơn nói:

– Mối hận này chúng ta không trả thật không thể nào ăn ngon ngủ yên được.

Trương Kế nói:

– Loại trận pháp biến hóa thần thông như thế chúng ta làm sao phá được mà đòi trả thù?

Thành Nhơn đáp:

– Tôi có một người bạn là dật sĩ đang ở tại Vu Lai. Ngày trước, trong khi đàm đạo tôi có nghe bạn tôi đề cập đến Bát quái trận đồ của Gia Cát Võ Hầu. Anh ta là người tinh thông đạo học, kỳ môn độn giáp, dịch lý âm dương, hi vọng có thể biết cách phá trận của Trần Lâm.

Phúc Hương nghe nói mừng rỡ hỏi:

– Bạn của ngươi là ai?

– Là Ngô Thế Lân ở làng Vu Lai, huyện Quảng Điền, phủ Triệu Phong.

– À, thì ra là người này, ta đã có nghe danh qua. Nhà ngươi có thể mời ông ta ra giúp được chăng?

– Tôi không chắc lắm vì Ngô Thế Lân tuy tài trí hơn người nhưng không chịu đi thi cũng chẳng chịu ra làm quan mà chỉ muốn sống đời ẩn dật vui thú điền viên, thơ ca ngâm vịnh.

– Dù sao ngươi cũng nên đi thử một chuyến, cố gắng mời ông ta cho bằng được. Hay ít ra thì cũng hỏi cho được cách thức phá trận, nếu không chúng ta đành bó tay thúc thủ hay sao?

Đỗ Thành Nhơn nói:

– Thua trận này lòng tôi vẫn còn ấm ức lắm. Được, tôi sẽ cố gắng thuyết phục ông ta.

– Tốt lắm! Nghỉ ngơi đêm nay, sớm mai ngươi lên đường lo gấp việc đó. Phần ta sẽ về Phú Xuân xin chỉ thị mới và xin thêm binh để báo thù. Xong việc, ngươi trở về Phú Xuân cho ta hay. Phá được trận Bát quái thì ngươi sẽ lãnh công đầu.

– Chúng ta hãy lo việc quốc gia trước, chuyện công trạng sau này hẵng nói, Tiết chế không phải bận lòng.

Chu Bách xen vào:

– Tôi sẽ cho người chuẩn bị mọi thứ để sáng mai hai vị tướng quân lên đường.

***

Sáng hôm sau, Nguyễn Phúc Hương cùng Đỗ Thành Nhơn mỗi người một ngựa vượt đèo Hải Vân. Phúc Hương trở về Phú Xuân gặp quan Quốc phó còn Thành Nhơn tìm đến nơi ẩn cư của Ngô Thế Lân ở làng Vu Lai, huyện Quảng Điền (nay thuộc xã Quảng Thái, huyện Quảng Điền, tỉnh Thừa Thiên). Đó một ngôi làng nhỏ gần phá Tam Giang đã được Ngô Thế Lân mô tả trong bài thơ “Vu Lai ổ” của mình. Bài thơ năm trước có lần ghé thăm, Thành Nhơn đã được đọc qua:

Thác lạc nhân gia lục thụ gian

Duyên khê phân ổ các hồi hoàn

Đông Nam nhất đái hồ liên hải

Tây Bắc tam phần dã tiếp san

Thâm giản hà phì ngư phủ túy

Bình nguyên thảo trưởng mục đồng nhàn

Bạch sa, thúy trúc, hồng trần tĩnh

Nhất nhậm u nhân tự vãng hoàn.

Dịch nghĩa:

Nhà cửa xây cất giữa khoảng cây xanh

Xóm nhỏ ven khe suối xanh, nước chảy quanh

Một dải Đông Nam, hồ liền với biển

Ba phần Tây Bắc, đồng hoang giáp với núi

Nước sâu, cá quyết béo, ngư ông say rượu

Đồng bằng cỏ tốt, mục đồng nhàn rỗi

Cát trắng, trúc xanh, bụi bặm chẳng có

Người chốn u tịch muốn đi về lúc nào cũng được.

Bài thơ miêu tả phong cảnh u tịch của ngôi nhà tranh nhỏ, bốn vách đều được làm bằng trúc dựng ngay cạnh con suối, chung quanh bao bọc bởi giậu chè thấp được cắt tỉa ngay ngắn cùng hàng trúc xanh thon thả vươn cao, trông rất thanh nhã. Lúc Thành Nhơn sắp tới nhà của Ngô Thế Lân trời đã ngả bóng chiều. Ông ta xuống ngựa dẫn bộ vào cổng. Chợt từ phía sau nhà, nơi con suối nhỏ có tiếng đàn kìm (đàn nguyệt) và tiếng ngâm thơ vọng ra. Đỗ Thành Nhơn vội đứng lại lắng tai nghe.

Vu Lai kết ốc nhất niên dư

Cái thế khâm hoài nhật ích sơ

Cựu sự như xuyên trường thệ hải

Tân hoài tự nguyệt dục lăng hư

Vị năng giáng khuyết toàn gia cử

Thả bạng không môn viễn tục cư

Thiên ý nhược phi liên tích ngã

Khẳng giao dung dị ngọa mao lư.

Dịch nghĩa:

Dựng nhà ở Vu Lai đã hơn một năm rồi

Việc đời ngày càng dửng dưng

Chuyện cũ như sông dài, phó mặc cho biển cả

Hoài bão mới như trăng cứ muốn vượt lên

Cả nhà chưa một lần bước tới cửa khuyết

Cửa hư không chốn phàm tục xa xôi

Giả thử ý trời không còn thương ta nữa

Vẫn vui ngơi nghỉ chốn nhà tranh.

Đỗ Thành Nhơn nghe xong bài thơ thì giật mình thầm khen cho tài tiên tri của Thế Lân. Thành Nhơn nghĩ: “Có lẽ ông ta biết mình đến đây cầu ông ta ra giúp nước nên đã ngâm bài thơ này để thể hiện chí nguyện cũng như để thay cho lời từ chối một cách hết sức khéo léo”. Thành Nhơn cột ngựa vào bụi trúc gần đó rồi thong thả đi vào nói lớn:

– Bằng hữu lâu ngày đến thăm, nếu không dọn sẵn mâm rượu làng Chuồn thì chí ít cũng phải bày cuộc trà ướp sen tiếp đón, có đâu lại ngâm khéo một bài thơ đuổi khách. Chẳng lẽ đây là cách tiếp đón người quen của Ái Trúc Trai hay sao?

Tiếng đàn ngưng bặt. Ngô Thế Lân từ phía sau nhà bước lên. Đó là một người tuổi khoảng bốn mươi, tuy ăn mặc rất đơn giản nhưng dáng dấp lại thật phong nhã, thanh thoát, khoáng đạt. Ông vui vẻ nói:

– Ngọn gió lành nào đã đưa rồng đến nhà tôm vậy?

– Nay ông lại đem cả thói châm chích xã hội ra chọc bạn bè nữa hay sao? Tôi đi đầu quân đã hơn mười năm mà chỉ giữ được chức hữu đội trưởng nhỏ bé thì biết chừng nào mới được hóa thành rồng đây?

– Ông là con rồng nhưng lại tự đưa mình vào vũng nước ao tù nhỏ hẹp. Phương Nam trời nước mênh mang một cõi, là nơi cho rồng thiêng vùng vẫy, sao không vào đó mà chờ hội rồng mây?

– Ông định ví mình như Trạng Trình mà cho tôi lời khuyên “Nam phương nhất đái, đoạt hội long vân” đó chăng?

– Có lẽ bây giờ ông không tin tôi. Khi nào ông cảm thấy chán cái cảnh ao tù hiện nay thì hãy nghe lời tôi cũng chưa muộn. Giờ vào trong uống chung rượu làng Chuồn đã.

– Như thế mới phải lẽ tiếp khách chứ.

Phía sau nhà có một gian lều trúc cất cạnh con suối, gió chiều từ phá Tam Giang thổi lên, luồn qua kẽ trúc tạo thành một khúc nhạc đồng quê nghe thật êm dịu. Ngô Thế Lân rót một chung rượu làng Chuồn mời Đỗ Thành Nhơn rồi hỏi:

– Nghe nói đang có chiến tranh ở Quy Nhơn, sao ông lại được rảnh rỗi mà ghé thăm tôi vậy?

Đỗ Thành Nhơn biết tính bạn nên sau khi uống cạn chung rượu xong liền nói ngay vào vấn đề:

– Đại quân của quan Tiết chế vừa thua một trận tan tác ở Quy Nhơn nên tôi mới phải về đây để cầu ông ra sức giúp đỡ cho.

Ngô Thế Lân cũng uống cạn chung rượu của mình rồi nói:

– Chí hướng của tôi từ lâu ông đã biết, sao còn đến đây nhắc những chuyện ấy làm gì?

– Chúng tôi sở dĩ bị thua là vì bọn cướp Truông Mây có người biết bày trận Bát quái của Gia Cát Võ Hầu đã thất truyền năm xưa. Nếu không nhờ cơn mưa dữ dội và sấm sét đánh vào trận thì bốn ngàn tướng sĩ, kể cả tôi trong đó cũng đã bị tiêu diệt sạch rồi. Theo tôi biết, chỉ có ông và Nguyễn Quang Tiền là khả dĩ biết cách phá giải cái thế trận quái ác đó mà thôi. Nguyễn Quang Tiền từ khi bị Chúa Võ bãi chức đã ngán ngẩm sự đời, vả lại tôi không quen ông ta nên chỉ còn biết nhờ đến ông. Ông nỡ để cho bao nhiêu người lại tiếp tục chết thảm nữa hay sao?

Ngô Thế Lân nghe nói thất kinh hỏi:

– Bát quái trận à? Người lập trận là ai vậy?

Thành Nhơn trong bụng mừng thầm đáp:

– Là quân sư của Truông Mây, tên Trần Lâm.

– Ông ta năm nay bao nhiêu tuổi?

– Khoảng hai ba, hai bốn gì đó thôi.

Ngô Thế Lân ngạc nhiên hỏi:

– Còn trẻ thế thôi à? Vậy chắc hẳn anh ta phải có bậc minh sư chỉ dạy. Ông có biết thầy của anh ta là ai không?

– Không. Hình như chưa ai biết sư môn của hắn.

Ngô Thế Lân suy nghĩ mông lung một lúc rồi nói:

– Như vậy là lời tiên đoán đã trở thành sự thật rồi.

– Lời tiên đoán gì? Ai tiên đoán?

– Trạng Trình.

– Ngài ấy tiên đoán điều gì?

– Thật ra đấy không phải là trận Bát quái của Gia Cát Võ Hầu năm xưa mà là trận pháp cải biên của Bát quái trận do Trạng Trình nghiên cứu lập nên, phòng khi chống giặc ngoại xâm. Khi hoàn thành trận pháp, Trạng Trình biết uy lực của nó rất lớn, có thể giết hại nhiều người, nếu chẳng may lọt vào tay phường gian ác thì sẽ gây hại cho đất nước nên ngài đã nghiên cứu cách phá trận và chép ra thành hai cuốn: cách lập trận chép ở phần thượng, cách phá trận chép ở phần hạ, phòng sau này còn có người biết mà hóa giải trận pháp này.

– Vậy là ông đang giữ cuốn hạ phải không?

– Không. Nhưng tôi có may mắn được một dị nhân chỉ cho cách phá trận.

Đỗ Thành Nhơn sửa lại thế ngồi ngay ngắn rồi thành khẩn nói:

– Vì tính mạng của hàng ngàn tướng sĩ, vì sự nghiệp bao đời của Chúa Nguyễn, mong ông hãy ra sức, xuống núi giúp cho thiên hạ một phen.

Ngô Thế Lân thở dài nói:

– Tôi đã chán ngán sự đời từ lâu và tự hứa sẽ chẳng màng đến thế sự nữa. Ông đừng làm khó tôi.

– Tôi biết chí của ông cao vút tận mây xanh, chỉ vì thế sự ngày nay làm ông chán ngán thôi. Nay ông nói “sẽ”, hẳn ý ông còn chờ đợi một cơ duyên nào đó mới xuất xử chăng?

– Tương lai nước nhà còn mờ mịt thì tương lai của một cá nhân làm sao mà biết được? “Sẽ” có khi cũng là “không bao giờ”.

– Ý ông đã quyết, tôi không dám nài. Có điều ngày xưa Trạng Trình đã chia trận pháp ra làm hai phần là có ý muốn như Hoàng Thừa Ngạn vì đức hiếu sinh mà cứu thoát Lục Tổn cùng đám binh sĩ Đông Ngô. Nay ông là người nắm giữ sinh mệnh của hàng vạn người trong tay, lẽ nào ông lại làm ngơ ý nguyện của tiền nhân, mặc cho đao thương đâm chém hay sao?

Ngô Thế Lân rót đầy hai chung rượu, tự uống cạn ly mình rồi nói:

– Thôi được. Tuy tôi không đi nhưng tôi sẽ giúp cho các ông khỏi phải bị thương vong vì trận pháp đó.

Thành Nhơn ngạc nhiên hỏi:

– Thế thì làm sao? Ông định chỉ cho tôi cách phá giải à?

Thế Lân lắc đầu:

– Không. Muốn phá giải trận này không phải chỉ ra là có thể hiểu được ngay đâu. Giờ tôi sẽ viết một phong thư, ông cứ cho người mang đến trao tận tay Trần Lâm là được. Nhớ là không được xé thư ra xem.

– Như thế nghĩa là sao?

– Nghĩa là sau khi mở phong thư, Trần Lâm sẽ dẹp bỏ việc lập trận Bát quái. Ông cứ tin tôi đi.

Nói xong Thế Lân đứng dậy đi vào nhà trong. Một lúc sau quay ra, tay cầm một phong thư niêm kín trao cho Đỗ Thành Nhơn nói:

– Việc ông nhờ tôi đã làm xong. Giờ chúng ta dẹp chuyện ấy sang một bên để uống rượu cho thỏa. Còn nếu ông gấp việc phải đi thì cứ tùy tiện, đừng ngại.

Đỗ Thành Nhơn đứng dậy, cất kỹ phong thư vào trong người rồi trịnh trọng vái Ngô Thế Lân một lạy nói:

– Tôi xin thay mặt hàng vạn binh sĩ triều đình mà lạy tạ ông đã ra tay cứu mạng. Việc này cần kíp, tôi xin cáo từ, khi nào có dịp tôi sẽ trở lại thăm ông.

Ngô Thế Lân vái đáp trả rồi nói:

– Nếu có trở lại, xin hãy đến như một người bạn.

Đỗ Thành Nhơn đỏ mặt nói:

– Tôi thật có lỗi đã quấy rầy sự thanh nhàn của ông. Xin cáo từ.

Ngô Thế Lân tiễn bạn ra cửa, nhìn theo bóng con tuấn mã chở Đỗ Thành Nhơn khuất dạng trong bóng hoàng hôn mà buông tiếng thở dài lẩm bẩm:

– Nếu Truông Mây có bậc chơn chúa thì ta sẽ không giúp ông đâu. Đáng tiếc! Thật đáng tiếc!

***

………

(xem tiếp vào ngày mai)