Kỳ 157:

Hồi thứ bốn mươi

Chiến tứ long, chàng Lía hiển oai hùm

Đốt kho lương, Thần Thâu vì nghĩa lớn

*

 

Trong khi các tướng sĩ triều đình lo tìm mọi cách để có thể chống lại nghĩa binh Truông Mây thì tại thành Phù Ly, các thủ lĩnh Truông Mây cũng đang họp bàn dự trù các kế hoạch sắp tới. Lía hỏi:

– Binh Quy Nhơn lúc này đã tụ về một chỗ, chúng ta có nên đánh lớn một trận để tiêu diệt chúng không?

Trần Lâm đáp:

– Nguyễn Cửu Thống đã chia quân ra ba nơi là đầm Hải Hạc, Kỳ Sơn và phủ thành Quy Nhơn làm thành thế trường xà, liên minh chống cự với ta. Lực lượng của họ rất lớn, binh đông, tướng mạnh, nếu chúng ta đương trường giao chiến thì đệ e rằng mình sẽ kém thế nên còn đang phân vân chưa quyết. Ý kiến của mọi người thế nào?

Văn Bảo nói:

– Theo tôi, chúng ta nên thừa thắng mà ra quân tổng tấn công một trận lớn. Nếu chần chừ địch sẽ xin Phú Xuân tăng thêm viện binh ở mặt bắc và nam, chừng đó cả hai mặt của địch đều mạnh thì chúng ta sẽ càng gặp khó khăn hơn nữa.

Trương Bàng Châu nói:

– Ý của Văn Bảo rất hợp với ý tôi.

Các thủ lĩnh khác ai nấy cũng đều tỏ ra đồng tình với ý kiến của Văn Bảo. Trần Lâm nói:

– Tất cả đều muốn đánh thì chúng ta sẽ ra quân. Theo thám mã cho biết, hiện ở đầm Hải Hạc có ba ngàn quân do Nguyễn Cửu Thống chỉ huy, tại Kỳ Sơn có hai ngàn quân dưới quyền của Tống Phước Hiệp và tại phủ thành Quy Nhơn có hơn ba ngàn quân do Phan Ngọc Chánh cùng các tướng chia ra hai nơi là thành Đồ Bàn cũ và thành mới Quy Nhơn án giữ. Ai có kế hoạch gì để chống lại ba đạo binh này không?

Lía nói:

– Chúng đóng ba nơi thì chúng ta cũng chia binh ba đạo mà đánh để khiến cho chúng không thể ứng cứu nhau được.

Văn Bảo nói:

– Ý kiến của đại ca cũng hay, nhưng hai hôm nay bọn chúng án binh bất động trong thế phòng thủ, chắc là để chờ viện binh và chờ mặt bắc cử binh để tạo thành thế gọng kìm đánh chúng ta. Tình hình đó, nếu ta kéo quân đến đánh chúng cũng sẽ cố thủ không ra, quân ta ít muốn phá được tuyến phòng thủ của chúng e là sẽ rất khó khăn.

Trần Lâm mỉm cười nói:

– Vậy theo tứ ca thì nên thế nào?

– Chúng ta dồn quân đánh thành Quy Nhơn, tất hai nơi kia sẽ phải kéo quân về giải cứu. Chừng đó ta đón đường chúng mà đánh thì sẽ dễ hơn nhiều. Huống chi chúng ta còn có Bát quái trận, dụ được bọn chúng ra khỏi hang thì ta cứ lập trận đó mà diệt chúng.

Lía vỗ tay đánh “bốp” khen:

– Không ngờ tứ đệ lại có tài dụng binh như thế! Ý kiến đó rất hay, Lâm đệ nghĩ sao?

Trần Lâm nói:

– Đệ cũng nghĩ như tứ ca vậy và đang chờ thám mã báo rõ chi tiết hơn về các toán quân của địch rồi mới ra quân. Nhưng điều làm cho đệ chưa muốn ra quân lúc này là do thời tiết sắp tới.

Chú Nhẫn hỏi:

– Thời tiết sắp tới như thế nào?

– Hôm qua cháu xem thiên văn thấy sao Tiết phạm vào cương vực sao Thái Âm, đó là triệu nay mai sẽ có mưa lớn kéo dài. Năm nay hạn dữ, e rằng những trận mưa này sẽ tạo thành cơn hồng thủy cũng nên. Ra quân giữa mùa mưa lớn như thế thật bất lợi, nhất là nếu sử dụng trận pháp Bát quái.

Lía la lớn:

– Lẽ nào lòng trời có ý chống lại chúng ta sao?

Trần Lâm nói:

– Lòng trời khó đoán, chúng ta hãy nương theo các thiên tượng mà tùy nghi hành sự. Đại ca không nên lo lắng làm gì.

Chú Nhẫn chen vào:

– Có việc này chú muốn báo lại để các cháu và Thiên Tường định đoạt.

Lía hỏi:

– Việc gì vậy chú?

– Có một thiếu phụ tên Quỳnh Dao đã đến gặp chú để xin giao trả lại trại gỗ của Thiên Tường mà lúc trước Hoàng Công Đức đã xử cho nàng được quyền thừa hưởng với danh nghĩa là vợ của tên Nguyễn Dao. Chú nghĩ Thiên Tường có quyền nhận lại.

– Người đàn bà này vừa biết điều vừa khôn ngoan đó. Tường đệ cũng nên thu hồi lại cơ ngơi của tổ tiên mình.

Thiên Tường nói:

– Nhận lại thì dĩ nhiên là phải nhận rồi, nhưng chú Nhẫn cứ dùng nó như một cơ sở kinh doanh cho nghĩa binh. Lúc này cháu chưa nghĩ đến việc thu nhận lại tài sản riêng.

Chú Nhẫn nói:

– Nếu vậy chú sẽ đến gặp lại bà ta để làm thủ tục thu hồi. Đang lúc chiến tranh chưa thể hoạt động kinh doanh gì được, tạm thời chú cứ tiếp nhận rồi niêm phong để đó.

Bỗng có tin từ Lại Khánh báo rằng bệnh của cha Hồ đã trở nặng, e khó qua khỏi. Trần Lâm nghe báo vội bảo các đầu lĩnh ai về vị trí nấy rồi cùng Lía và chú Nhẫn lên ngựa phóng sang Lại Khánh. Đến nơi vào thăm thì thấy cha Hồ mặt mày ốm quắt lại, sắc da và mắt vàng tái còn bụng thì trương lớn, hai chân phù to. Trần Lâm bắt mạch xong hỏi:

– Chú thấy trong người thế nào, sao lâu nay chú không cho cháu hay về căn bệnh này?

Cha Hồ cười thảm não nói:

– Chú cũng mới phát hiện ra vùng bụng của mình bỗng cứng lên và đau lâm râm độ chừng hai tháng nay. Tưởng chỉ là đau bụng thường vì khó tiêu hay gì đó, lại thấy cháu bôn ba vất vả đủ chuyện nên không muốn nói ra, sợ cháu lo. Hôm qua nay bụng bỗng trương lớn lên thế này, lại đau thắt từng cơn đến không chịu nổi, hai chân thì mỗi lúc một phù to ra, chắc là bị bệnh cổ trướng trong tứ chứng nan y rồi phải không?

– Phải chi chú nói cho cháu hay sớm thì tốt biết mấy. Bây giờ chú hãy uống mấy viên thuốc này trước đã, nó có công dụng làm giảm các cơn đau rồi cháu sẽ tìm cách chữa trị.

– Cháu không cần giấu chú làm gì. Chú biết tình trạng của mình mà. Đời người sinh tử là chuyện thường, chỉ tiếc là chú không có được diễm phúc nhìn thấy ngày anh em tiêu diệt tên cẩu tặc Quốc phó kia.

Lía nói:

– Chú an tâm, Lâm đệ sẽ có cách chữa trị cho chú mà.

– Không cần đâu, đừng phí công vô ích, hãy để thời gian và công sức mà lo cho đại cuộc.

Chú Nhẫn nắm tay cha Hồ buồn bã nói:

– Anh ráng lên, đừng tuyệt vọng. Cháu Lâm là thần y, chắc thế nào cũng có cách chữa cho anh.

Cha Hồ mỉm cười nói:

– Không cần phí thời gian cho ta làm gì nữa, hãy đưa ta về Truông Mây. Ta muốn được chôn ở đó.

Lía nói:

– Dạ, để cháu đưa chú về đó. Việc ở đây cứ để Phương Tích coi ngó.

Cơn đau bụng lại quặn lên khiến cha Hồ cố bặm môi nhưng cũng không khỏi bật lên tiếng rên, Trần Lâm vội lấy mấy viên thuốc cho ông ta uống, sau đó điểm nhẹ vào thụy huyệt để ông ta ngủ thiếp đi. Lúc ra bên ngoài, Lía hỏi:

– Tình trạng cha Hồ thế nào? Là cổ trướng à?

Trần Lâm thở dài gật đầu:

– Đã quá muộn để chữa căn bệnh nan y này rồi. Không còn lâu nữa đâu, chuẩn bị hậu sự cho chú ấy đi là vừa.

Hai người đang nói chuyện thì có một nghĩa binh vào báo:

– Thưa quân sư, bên ngoài có một tráng sĩ muốn được gặp quân sư.

Trần Lâm và Lía lấy làm lạ bèn cùng nhau ra xem. Vừa nhìn thấy người ấy, Trần Lâm vô cùng kinh ngạc nhưng chàng vẫn ôn tồn hỏi:

– Có phải là Đỗ Thành Nhơn tướng quân không? Tướng quân vẫn khỏe chứ?

Thành Nhơn hơi cúi đầu chào:

– Đỗ Thành Nhơn xin ra mắt quân sư và thủ lĩnh Lía của Truông Mây.

Lía ngạc nhiên hỏi:

– Tướng quân biết ta à? Nghe Lâm đệ kể lại sự can trường và tài ba của tướng quân, ta thật hâm mộ.

Thành Nhơn chắp tay nói:

– Cảm ơn. Uy danh và nhân nghĩa của chú Lía Truông Mây còn ai chẳng biết. Vừa nhìn khí thế của ngài, tôi đã nhận ra ngay.

Trần Lâm nói:

– Hai bên đang giao chiến, tướng quân lại đơn thân độc mã đến tìm chúng tôi chắc là có việc trọng đại. Xin mời tướng quân sang khách sảnh, chúng ta nói chuyện cho phải lẽ chủ khách.

Chàng đưa tay ra dấu mời rồi cùng Lía đi hai bên Thành Nhơn. Thành Nhơn thản nhiên bước giữa hai người, dù là đang ở nơi đất địch, giữa hai thủ lĩnh của Truông Mây nhưng ông ta vẫn ung dung, chẳng có chút sợ sệt. Khi vào khách sảnh của huyện thành, cả ba yên vị xong, Trần Lâm rót rượu mời. Sau khi cùng cạn chung, Trần Lâm hỏi:

– Chẳng hay tướng quân đến gặp chúng tôi có việc gì không?

Thành Nhơn đáp:

– Có người nhờ tôi trao tận tay quân sư một phong thư nên tôi mới bạo gan đến đây.

Nói xong, ông lấy phong thư ra trao sang cho Trần Lâm. Trần Lâm đón lấy, thấy bức thư niêm phong kín, ngoài bì thư có dòng chữ: “Gửi quân sư Truông Mây Trần Lâm”, chàng liền hỏi:

– Tôi có thể biết ai đã gởi phong thư này không?

Thành Nhơn đáp:

– Trong thư có tên của người gởi. Lát nữa quân sư đọc sẽ rõ ngay.

– Có cần tôi đọc ngay để phúc đáp không?

– Không cần. Người gởi thư nói chỉ cần trao nó tận tay quân sư là đủ rồi. Việc đã xong, tôi xin cáo từ. Đa tạ lòng nghĩa khí của các hiệp sĩ Truông Mây đã mở đường cho tôi vào đến nơi đây, lại còn ân cần tiếp đón thế này nữa.

– Hai nước giao tranh không chém sứ giả. Huống chi tướng quân lại là một anh hùng bậc nhất trong thiên hạ đời nay, là rường cột của phủ Chúa, chúng tôi đâu dám không xem trọng.

Thành Nhơn mỉm cười:

– Quân sư mới đúng là thần nhân trong thiên hạ, tôi chỉ là một tên hữu đội trưởng nhỏ nhoi, sao còn mở lời mỉa mai làm gì?

Trần Lâm chặc lưỡi than:

– Tướng quân tài trùm thiên hạ mà chỉ giữ chức hữu đội trưởng thì quả thật phủ Chúa có mắt không ngươi.

– Đa tạ quân sư quá khen. Chỉ là vấn đề số mạng và thời cơ.

– Số mạng của anh hùng đều do tự tay họ nắm giữ, thỏa chí vẫy vùng để tạo lấy thời cơ cho bản thân mình. Tướng quân sao lại chịu khuất thân cho uổng đời làm vậy?

Thành Nhơn đứng lên nói:

– Ai có chí nấy. Cáo từ! Nghĩa cử này tuy lớn nhưng mai sau giữa chiến trường thật khó mà trả lễ, xin đừng trách.

Trần Lâm và Lía cũng đứng dậy tiễn khách. Lía nói:

– Tướng quân thật là người nghĩa đảm, dám vì Chúa một mình vào hang cọp. Lía tôi rất hâm mộ. Hậu hội còn dài. Thượng lộ bình an.

Đỗ Thành Nhơn ôm quyền chào hai người lần nữa rồi ra nơi cột ngựa, tung mình lên lưng ngựa ung dung rời khỏi huyện thành. Trần Lâm nhìn theo nói:

– Giết hắn thì tiếc, mà để hắn đi là di đại họa cho Truông Mây về sau.

Lía nói:

– Hắn đã dám ngang nhiên một mình đến đây chẳng lẽ chúng ta lại không dám thả hắn về hay sao? Muốn giết hắn thì chờ ra nơi chiến trận cũng chưa muộn.

……….

(xem tiếp vào ngày mai)