Kỳ 170:

………..

Lía nhìn vợ bằng ánh mắt âu yếm:

– Đó là đã giữ em ở lại nơi này khiến em phải chịu nguy hiểm. Lẽ ra em phải được sống trong cảnh sung sướng và giàu sang ngoài kia.

Đại Hồng mỉm cười nói:

– Anh không cần tự trách. Nếu em muốn xa anh thì hôm trước về thăm cha, em đã ở lại Quy Nhơn rồi.

Lía cầm tay Đại Hồng, giọng cảm động:

– Cảm ơn em. Chỉ bấy nhiêu đó thôi, dù cho có tan xương nát thịt anh cũng mãn nguyện rồi.

Đại Hồng nghe Lía nói, cảm nhận được tấm chân tình của chàng nên trong lòng chợt thấy hổ thẹn. Nàng cúi đầu nói nhỏ:

– Cảm ơn anh. Em thật hổ thẹn với bản thân mình.

Lía nhìn nàng ngạc nhiên hỏi:

– Em có làm gì đâu mà phải hổ thẹn?

– Thật ra khi về Quy Nhơn rồi trở lại đây, lòng em không hoàn toàn chỉ vì anh.

– Thì đã sao? Anh không đòi hỏi ở em điều gì cả. Em không cần nói ra.

– Để em nói. Em quyết định trở lại Truông Mây một phần cũng vì muốn trả thù Lâm đệ. Em định giúp Lý Vân Long hại các anh.

Lía cầm tay vợ cười nhẹ nhàng:

– Em tay yếu chân mềm thế này thì hại ai được mà đòi giúp hắn?

– Anh đừng chê bọn phụ nữ các em. Nhưng bây giờ dù Vân Long có liên lạc để nhờ, em cũng sẽ từ chối.

– Vì sao?

Mặt Đại Hồng ửng đỏ, nàng rút tay ra khỏi bàn tay của Lía, đấm nhẹ vào ngực chàng:

– Anh biết rồi, sao còn hỏi khó người ta?

Vậy đó. Nữ nhân dù cứng rắn đến đâu, trong thẳm sâu của tâm hồn họ cũng còn một điểm nhỏ thuần lương của nữ tính. Điểm nhỏ thuần nữ tính đó sẽ nẩy mầm nhân ái, khiến họ dễ bị cảm hóa trước những tấm chân tình mà người khác dành cho họ. Đại Hồng vốn là một cô gái hết sức cứng rắn, cứng rắn đến độ có thể nhẫn tâm, nhưng sống bên cạnh Lía một thời gian, tấm chân tình và đức độ của chàng đã làm thay đổi cả những suy nghĩ và hành động của nàng. Nàng đã tìm thấy hạnh phúc thật sự, tìm thấy con người thật của nàng.

Tình thương chân thật là một vũ khí hữu hiệu nhất để đánh đổ thù hận. Ngày xưa, bằng một lời dạy ngắn gọn của Đại Bi thiền sư, Lía đã được mẹ chàng dùng tình thương làm mất đi hung tính trong người chàng. Giờ đây, tình yêu của chàng, vô hình trung đã làm thay đổi tính tình khắc nghiệt vốn có từ thuở bé của Đại Hồng.

Hai người đang âu yếm thì có một cô hầu gái của Đại Hồng hớt hải chạy vào báo:

– Thủ lĩnh, phu nhân! Không biết tại sao có rất nhiều anh em cảm thấy tay chân bủn rủn, mất hết sức lực ở ngoài kia.

Lía nghe nói thất kinh, vội vàng chụp lấy thanh đao định chạy ra xem thử. Không ngờ thanh đao bỗng trở nên nặng trịch. Chàng hoảng hốt nói:

– Sao lạ thế này? Tay ta như bị mất hết sức lực, cầm thanh đao không nổi nữa.

Đại Hồng sợ hãi nói:

– Hay là chúng ta bị trúng độc cả rồi?

– Đi mau, chúng ta ra đại sảnh xem sao!

Chàng là người có nội lực thâm hậu nên miễn cưỡng bước ra được đến đại sảnh.

Chiều hôm ấy, Trần Lâm và Thiên Tường thả ngựa quanh thành để quan sát tình hình bố phòng. Hai chàng dừng ngựa trên một đồi đất cao, dõi mắt nhìn ra xa. Bên kia bờ hai nhánh sông Kim Sơn và An Lão, binh triều đóng trại dàn hàng, cờ xí rợp trời, mặt sau thành ở phía nam là đại quân của Nguyễn Cửu Thống. Thiên Tường lên tiếng hỏi:

– Lâm ca đã có kế hoạch gì chưa? Không lẽ chúng ta cứ tử thủ ở đây chờ chết?

Trần Lâm nói:

– Hai hôm trước Tín Nhi đã bí mật vượt núi ra bản Đá Vách để xin viện trợ lương thực rồi. Việc nếu thành chúng ta cũng đỡ lo một phần.

– Quân triều bao vây khắp nơi, không biết Tín Nhi có tránh khỏi tai mắt của chúng không? Việc này thật nguy hiểm!

– Ta cũng biết vậy nhưng với bản lãnh của Tín Nhi bây giờ chắc không sao. Hơn nữa hắn muốn xong việc ở đó sẽ tìm cách xuống kho lương Phú Đăng để nghe ngóng tin tức của sư phụ mình.

– Mong cho Tín Nhi được an toàn. Trường hợp bản Đá Vách không giúp được, chúng ta phải làm sao?

– Khi nào hết lối, đành phải bỏ Truông Mây, mở con đường máu chạy lên Tây Nguyên, làm lại từ đầu.

Thiên Tường thở dài, đưa mắt nhìn lên trời. Chiều nay chim én không biết từ đâu tụ về đây đông hơn mọi bữa. Chúng bay, chúng liệng và ríu rít kêu vang khắp cả một vùng núi rừng Truông Mây. Thiên Tường lấy làm lạ lên tiếng hỏi:

– Lâm ca nhìn kìa! Chiều nay sao có nhiều chim én tụ về bay lượn đầy trời Truông Mây của chúng ta vậy? Có điềm gì chăng?

Trần Lâm ngước lên nhìn, chàng cũng lấy làm lạ nhưng trấn an Thiên Tường:

– Mùa xuân chim én bay lượn là chuyện thường, đâu có gì lạ. Nếu có thì cũng chỉ là điềm cát tường như dân gian vẫn truyền tụng thôi.

Bóng chiều đã ngả, đàn én vẫn bay lượn và ríu rít kêu vang không ngừng trên đầu. Tiếng kêu của đàn én hôm nay nghe thật lạ, không vui tươi như thường lệ mà trong âm hưởng dường có chút hoảng sợ, bi thương. Thiên Tường thấy bực bội trong lòng bèn nhảy xuống ngựa, nhặt một viên sỏi ném mạnh vào đàn én. Viên sỏi bay lên được một đoạn ngắn thì rơi ngay xuống. Thiên Tường giật mình la lớn:

– Lâm ca, sao cánh tay của đệ bỗng như vô lực thế này?

Chàng lại nhặt một viên sỏi khác ném lên, viên sỏi này bay một đoạn ngắn hơn viên trước. Trần Lâm mặt biến sắc, vội nhảy xuống nắm tay Thiên Tường bắt mạch và nhìn vào mắt xem xét. Chàng nói nhanh:

– Đệ bị trúng độc rồi. Mau lên, chúng ta trở về trại ngay!

Chàng vội vàng lấy viện tỵ độc châu nhét vào miệng Thiên Tường, ôm Thiên Tường đặt lên lưng ngựa rồi phóng lên giục ngựa chạy như bay trở về trung quân. Chàng lớn tiếng nói:

– Đệ ráng vận công điều hòa kinh mạch, hi vọng viên tỵ độc châu có thể khử được chất độc này. E rằng đại ca cũng bị như đệ thì nguy.

Thiên Tường hỏi:

– Lâm ca không bị trúng độc sao?

– Ta may mắn nên bách độc bất xâm. Hãy lo vận công lưu thông máu huyết đi.

Con ngựa đang phóng xuống đồi thì bỗng từ phía nam có một viên pháo hiệu bắn lên trời cao. Trần Lâm thất kinh nói lớn:

– Chúng ta bị hạ độc cả rồi. Trong anh em đã có người phản bội.

Về tới sân diễn võ, Trần Lâm kinh hãi đến rụng rời. Trước thềm đại sảnh, rất đông anh em, trong đó có cả Lía và Đại Hồng đang ngồi với nhau, nét mặt mọi người trông hết sức thảm não, lo âu. Chàng vội nhảy xuống ngựa. Thiên Tường cũng nhảy xuống theo, nhả viên tỵ độc châu ra trả lại cho Trần Lâm, giọng chàng mừng rỡ:

– Lâm ca, đệ thấy khỏe lại như xưa rồi.

Trần Lâm vội vàng chạy lại chỗ Lía ngồi nói nhanh:

– Đại ca mau ngậm vào đi rồi vận công điều tức. Tất cả chúng ta đã bị kẻ phản bội nào đó bỏ độc ám toán rồi. Tường đệ hãy ở lại đây bảo vệ cho đại ca và đại tẩu, ta phải đi xem anh em các nơi thế nào đã.

Lía vội vàng bỏ viên tỵ độc châu vào miệng rồi vận công điều tức. Từ xa, ở cả ba mặt đã nghe thấy tiếng hò hét của quân lính triều đình. Chúng đang xông vào tấn công thành. Trần Lâm huýt gió, lập tức đã thấy hai mươi bốn vệ sĩ của Đại Hồng xuất hiện. Trần Lâm nói nhanh:

– Anh em ráng bảo vệ mọi người ở đây, viên tỵ độc châu có thể giải trừ chất độc, hãy chuyền cho nhau.

Rồi phóng lên ngựa chạy đi. Đại Hồng lo lắng nói với theo:

– Lâm đệ hãy cẩn thận!

– Cảm ơn đại tẩu!

Bóng chàng mất hút sau câu nói. Đại Hồng hỏi hai mươi bốn vệ sĩ:

– Các anh em không bị trúng độc sao?

Một người trong bọn đáp:

– Dạ không. Có lẽ vì lúc trưa chúng tôi không tham dự lễ tế mộ.

Thiên Tường nóng nảy hỏi:

– Ai đã bỏ độc vào rượu lễ? Chú Nhẫn đâu? Tam ca đâu?

Một nghĩa binh nói:

– Không thấy chú Nhẫn đâu cả, còn tam đầu lĩnh đang ở tuyến phòng thủ phía bắc.

Tiếng quân reo hò mỗi lúc một gần hơn. Lía ngồi điều tức một lúc đã thấy khỏe lại, chàng vội vàng chộp lấy cây đao đứng lên và nhả viên tỵ độc châu đưa cho một nghĩa binh gần đó. Chàng nói:

– Tất cả ở đây chờ, ta phải ra ngoài xem sao.

Lía vừa định phóng người đi thì Trần Lâm đã dẫn một toán nghĩa binh chạy về. Trên lưng ngựa của chàng là Lam Tiểu Muội. Trần Lâm vội hỏi lớn:

– Viên tỵ độc châu đâu?

Một tên nghĩa binh nghe hỏi liền nhả ra nói:

– Ở đây, quân sư.

Trần Lâm vội bế Lam Tiểu Muội nhảy xuống ngựa, chạy lại đặt ngồi bên cạnh tên nghĩa binh. Chàng nhận viên tỵ độc châu, nhét vào miệng Lam Tiểu Muội xong hỏi:

– Anh em đã giải độc được chưa?

Tên nghĩa binh đáp:

– Dạ rồi.

Lía hỏi:

– Tình hình bên ngoài thế nào rồi Lâm đệ?

Trần Lâm lắc đầu đáp:

– Tất cả anh em dự lễ lúc trưa đều bị trúng độc mất hết khí lực, chú Lê Trung đã tử trận, số còn lại quá ít không ngăn được các cuộc tấn công của địch. Họ liều chết không chịu lui, đệ phải ra lệnh rút lui họ mới theo đệ chạy về đây. Riêng trại bắc của tam ca ở xa nên đệ không biết thế nào. Tình hình trại nam của Bàng Châu e cũng chẳng khá hơn gì.

Vừa nói đến đây thì đã thấy có một nghĩa binh người đầy máu me chạy vào, giọng đứt quãng:

– Tam trại chủ và hầu hết các anh em ở trại bắc đều bị tử nạn, tôi phải liều mạng chạy về đây báo cáo.

……….

(xem tiếp vào ngày mai)