Kỳ 174:

HỒI THỨ NHẤT

Vực Trầm Hương – Nguyễn Nhạc thu thần kiếm

Hang Tối Trời – Nguyễn Huệ được binh thư

Rừng thu hiu hắt, gió thu dìu dặt.

Chiều Tây Nguyên trầm tịch, tiếng tu hú vang trong bóng lá, tiếng vuợn hú thê lương bên kia gành đá khiến cảnh rừng chiều càng tăng thêm vẻ cô quạnh, tẻ buồn.

Nắng thu chiếu xuyên qua tàng cây trầm hương to lớn trên một đỉnh cao của hòn Cong, tạo thành những tia sáng rọi xuống mặt nước tĩnh lặng như mặt hồ trên dòng sông Ba, ánh lên những tia vàng vọt khiến đám lá vàng trên rừng cây quanh hồ càng thêm héo hắt. Dòng sông Ba cuồn cuộn nước mưa mùa từ thượng nguồn đổ xuống đến chân hòn Cong, nơi có cây trầm hương cổ thụ tỏa hương thơm ngát bốn mùa, bỗng nằm yên lặng tựa mặt hồ ở nơi đây như Già làng Bahnar phủ phục dưới chân Thần Hỏa, tạo thành một vực sâu thăm thẳm, sắc nước lặc lìa. Tương truyền nơi đây, hơn hai mươi năm trước đã có một người hiệp sĩ bị truy sát đến cùng đường, ôm thanh đao bén trầm mình dưới đáy vực sâu này.

Trong cái hiu hắt, cô tịch của rừng chiều, với hương trầm thơm ngát, trên vực nước sông Ba bỗng vang lên tiếng ngâm trong trẻo nhưng âm hưởng buồn đến nao lòng của một cô gái. Giọng ngâm cùng lời thơ chuyên chở một tiết điệu thật bi thương, u uất:

Tìm nhau, sông cạn đá mòn

Biển sâu núi thẳm vẫn còn tìm nhau

Người đi ai biết về đâu

Giọt tương tư rót từng câu thở dài.

Trên một nhánh cây cổ thụ vươn ra thật xa đến giữa vực nước, một cô gái trẻ đang ngồi lặng lẽ, xuất thần, nhìn mặt nước hồ buông tiếng thở dài khi tiếng ngâm vừa dứt. Cạnh bờ hồ, con bạch mã nhẩn nha gặm cỏ dại.

Trên con đường đất dẫn đến bờ hồ, một thanh niên bị tiếng ngâm gây chú ý, tay chống thanh kiếm đỏ, cố lê những bước chân xiêu vẹo vì kiệt sức đến dựa vào gốc cổ thụ. Trên lưng hắn ta một mũi tên còn ghim chặt, vạt lưng áo đỏ thẫm bởi vết máu đã khô cứng. Hắn tựa người vào gốc cổ thụ, nặng nhọc cất tiếng:

–  H’Linh!! Thì ra cô ở đây à?

Cô gái đang ngồi trên nhánh cây nghe tiếng nói giật mình quay lại:

–  A! Anh A Nun. Sao anh lại đến đây? Anh bị thương à? Bản làng có việc gì sao?

A Nun đáp:

–  Bản làng của cô không còn nữa, nó đã bị quân triều đình tàn phá nát bét cả rồi.

H’Linh nghe nói hoảng hốt hỏi nhanh:

–  Trời ơi! Thật vậy ư? Anh nói thật chứ anh A Nun?!! Còn cha mẹ của H’Linh, họ thế nào?

A Nun mệt mỏi nói:

–  Tôi dối cô làm gì? Cha mẹ cô và lính bản, tất cả đều bị chúng giết.

H’Linh biết A Nun đã nói thật, vì lúc nàng nghe tin Truông Mây bị tiêu diệt vội bỏ bản đi tìm Trần Lâm cũng là lúc bản đang chuẩn bị chiến tranh với quân triều đình. Nàng ôm mặt nức nở:

–  Cha mẹ ơi, con gái thật có lỗi với cha mẹ.

Giọng A Nun trở nên hằn học:

–  Cô một lòng bỏ bản, bỏ mẹ cha mình để đi tìm tên khốn kiếp Trần Lâm bao lâu nay, còn khóc nỗi gì?

H’Linh sụt sùi:

–  Ta biết ta có lỗi với cha mẹ nhưng…

–  Nhưng vì ngươi quá mê tên khốn đó nên bỏ mặc tất cả chứ gì? Hắn bị thiêu rụi cùng cái Truông Mây quỷ quái đó rồi, đúng không?

H’Linh nói nhỏ, giọng nghẹn ngào như cố an ủi mình:

–  Ta không tin anh ấy đã chết…

A Nun thở phì một cái, hậm hực vung thanh kiếm đỏ trong tay chặt nhẹ vào gốc cây:

–  Hừ! Ngươi đã đi tìm cả năm nay không thấy, còn chưa đủ chứng minh hắn chết mất xác rồi ư? Ngươi tỉnh mộng đi.

H’Linh nhìn thấy thanh kiếm vội hỏi:

–  Thanh kiếm thần của bản sao lại ở trong tay anh vậy?

–  Ta đã trộm nó trước khi bản bị tiêu diệt.

H’Linh tròn xoe đôi mắt kinh ngạc:

–  Sao anh lại làm vậy. Cha ta không có kiếm thần trong tay làm sao chiến thắng quân triều được?

–  Thanh kiếm này là của Vua Hỏa tộc Êđê ta. Ta biết tình thế đã trở nên tuyệt vọng nên muốn đem thanh kiếm này trở về với tộc Êđê của ta ở Kon Tum.

–  Lúc trước cha ta có ý nghi ngờ ngươi nhưng ta không tin. Ngươi thật tệ!

A Num đưa tay ôm ngực ho sù sụ một lúc lâu. Giọng hắn yếu ớt nhưng đầy căm phẫn:

–  Ta cũng biết cha ngươi đã nghi ngờ ta. Cũng tại ngươi vô tình mới đẩy ta tới nông nổi này. Ta hận ngươi, ta hận cha ngươi, ta hận tên Trần Lâm phá bỉnh kia. Hặc… hặc…

Hắn lại gập người ho liên tục, sau cơn ho hắn thở dốc không ngừng. Máu nơi mũi tên cắm sau lưng lại trào ra. H’Linh nhìn hắn lo lắng hỏi:

–  Ngươi bị thương nặng quá. Là binh triều đình bắn ngươi à?

A Nun trừng đôi mắt trắng dã nhìn H’Linh, giận dữ:

–  Mũi tên này là của cha ngươi tặng ta đó.

H’Linh cãi:

–  Sao lại như vậy được?

–  Lúc quân triều đình bao vây tấn công vào bản, ta trộm thanh kiếm bỏ chạy, cha ngươi đã bắn theo trúng lưng ta. Ta cố chết chạy trốn vào rừng, sau khi thấy lính bản đã bị tiêu diệt hết ta mới tìm đường chạy vào đến đây.

H’Linh buồn bã nói:

–  Ta phải trở về bản ngay bây giờ. Ngươi bị thương như thế biết làm thế nào đây?

H’Linh là một cô gái có tâm hồn trong sáng không chứa chút hận thù. Cô đã không trách A Nun còn lo lắng cho hắn. Nói xong cô vin cành cây đứng lên định trở vào bờ. A Nun hai mắt đã mệt mỏi đến thất thần, hắn mỉm cười âm độc, đưa tay ra dấu cản lại, thều thào:

–  Bản đã bị phá, cha mẹ cô đã chết, cô về đó làm gì. Ta sắp chết, ta muốn cô cùng chết theo ta, nơi suối vàng ta sẽ cưới cô làm vợ. Ha… ha…

Tiếng cười của hắn bị cắt đứt vì tiếng vó ngựa đang từ xa tiến đến gần vực. A Nun giật mình, hắn thu hết tàn lực vung thanh kiếm thần chặt mạnh vào gốc cây. Thanh thần kiếm rất bén, chỉ một cú chém, cả thân cây đã bị tiện lìa rơi ào xuống vực, thân hình của H’Linh bị những nhánh cây phủ trùm rơi theo xuống nước. Nàng la lên thất thanh:

–  Á!!

Ùm!

Nước bắn lên tung tóe. Hòa với tiếng rơi của thân cây là một tiếng thét to từ xa vọng đến kèm theo tiếng vó ngựa dừng lại đột ngột:

–  Dừng tay!!

Một con ngựa vừa dừng gấp bên bờ vực, một chàng thanh niên phóng nhanh khỏi lưng ngựa chạy đến bên vực nhìn theo thân cây và cô gái vừa bị rơi xuống nước. Cây cổ thụ và cô gái đã chìm dần. Chàng ta quay mặt nhìn A Nun thật nhanh, ánh mắt ngời lên như điện:

–  Ngươi thật ác độc, đang tâm hãm hại một cô gái. Nếu cô gái kia có mệnh hệ nào thì ngươi sẽ biết tay ta.

Rồi lao người phóng xuống vực. Từ xa một con ngựa khác đang phóng tới, người ngồi trên lưng ngựa la lớn:

–  Không được nhảy xuống vực đó. Huệ! Không được…

Nhưng đã trễ. Chàng thanh niên tên Huệ đã phóng mình xuống nước, lặn nhanh theo tìm cô gái. Người đàn ông vừa đến phóng nhanh xuống ngựa chạy lại bên bờ vực nhìn theo rồi dậm chân than:

– Chết rồi. Cái vực này là vực chết, đã có biết bao người rơi xuống đây, chưa ai sống sót trở về. Ôi! Nguyễn Huệ, đứa em yêu quý của ta!!!

Ông nóng nảy quay tới quay lui nhưng thật vô kế khả thi. Trong khi đó A Nun như người mất hết tri giác, đôi mắt thất thần nhìn người mới đến, hắn nở nụ cười ma quái và mãn nguyện, miệng lẩm bẩm:

–  H’Linh, cô chờ ta với. Ta sẽ theo cô xuống suối vàng. Ta sẽ cưới cô làm… vợ…

Vừa nói hắn vừa nâng thanh kiếm lên, dùng hết tàn lực đâm mạnh vào bụng mình. Người đàn ông đến sau không ai khác hơn là Nguyễn Nhạc. Nhạc đang lo lắng nhìn xuống vực nước, chợt thấy người thanh niên đưa kiếm lên tự vận vội la lớn:

–  Không nên!

Rồi phóng nhanh đến định cứu anh ta. Nhưng đã trễ. Thanh kiếm đã đâm xuyên ra sau lưng, chàng thanh niên ngã nhào tựa người lên gốc cây vừa mới bị chặt, miệng vẫn còn nở nụ cười. Nguyễn Nhạc vội rút thanh kiếm ra và đặt A Nun nằm xuống đất. Chợt chú ý đến thanh kiếm đỏ, cũ kỹ, còn dính máu, ông đưa lên quan sát. Mấy chữ khắc trên thanh kiếm và màu sắc của nó làm đôi mắt Nguyễn Nhạc sáng rực lên, ông lẩm bẩm:

–  Đây không phải là thanh kiếm thần của Vua Hỏa trong truyền thuyết hay sao?!! Ôi, thật là cơ trời dun rủi. Trời đã giúp ta thu phục các buôn làng ở Tây nguyên. Ôi!! Lạy đấng thần linh vô thượng!!

Ông quỳ xuống, đặt thanh kiếm đỏ trước mặt rồi lạy tạ vị Thần Hỏa. Nguyễn Nhạc giao thiệp buôn bán với các tộc người thiểu số Tây nguyên lâu năm nên biết rất rõ việc thanh kiếm thần của Vua Hỏa đã tái xuất hiện và đang ở trong tay tộc trưởng bản Đá Vách, không ngờ nay lại lọt vào tay mình. Sự vui mừng trào dâng trong lòng ông đến nôn nao khó tả. Sực nhớ đến Nguyễn Huệ, ông buồn bã khấn:

–  Mong thần linh hãy phù trì cho đứa em của con được sống sót, nếu không, dù đại nghiệp có thành cũng không bù đắp được mất mát này.

Nguyễn Nhạc khấn xong đứng lên nhìn xác A Nun, chợt động tâm nghĩ:

–  Chàng thanh niên này đòi chết theo cô gái để xuống âm phủ cưới nàng làm vợ, âu thì ta đưa chàng ta đi theo để hoàn thành tâm nguyện cho hắn coi như tạ ơn lưu lại thanh kiếm thần này vậy.

Ông bèn đem xác A Nun thả xuống vực. Thoáng chốc, thây A Nun đã chìm mất hút, trả lại sự phẳng lặng cho mặt nước. Nhìn mặt vực, lại thấy thương cho đứa em, ông nói nhỏ: “Dù sao cũng phải về tìm người lặn xuống vực cho biết thực hư, chí ít cũng phải đem được xác của thằng Huệ về”.

Bèn vội vã lên ngựa phóng nhanh về trại của ông ở An Khê.

                                       *

………..

Xem tiếp vào thứ bảy 19-9-2015.