Kỳ 175:

………

Thân hình Nguyễn Huệ vừa chạm mặt nước, chàng vội lặn sâu xuống bên dưới tàng cây, lùng tìm cô gái nọ. Nước trong vực lạnh như băng, bên dưới lại có một lực hút kỳ lạ nên thân hình cô gái chìm rất nhanh. Nguyễn Huệ cố sức phóng người theo, khi chàng ôm được H’Linh thì cả hai đã bị một dòng xoáy cuốn đi rất nhanh xuống đáy vực. Khí lạnh căm căm cộng vào sức ép rất lớn của đáy vực khiến cả hai ngất đi.

Thời gian không biết bao lâu, khi Nguyễn Huệ tỉnh lại thấy mình đang nằm trên một bãi cát cạnh mép nước, thân hình cô gái đang nằm đè bên trên, từ thân thể cô ta tỏa ra một làn hơi ấm kỳ lạ truyền sang người chàng. Huệ rất ngạc nhiên nhưng thoáng chốc chàng đã biết có lẽ nhờ làn thân nhiệt toát ra từ người cô gái truyền sang giải tỏa bớt khí lạnh trong cơ thể giúp chàng tỉnh lại. Cô gái cũng đã tỉnh dậy. Chung quanh bóng tối dày đặc, cô gái biết mình đang nằm trên người của một ai đó nên hoảng hốt lăn xuống và ngồi ngay dậy, giọng run run:

–  Ngươi là ai? Ta đang ở đâu đây?

Nói đến đây cô nôn thốc ra cả đống nước. Nguyễn Huệ cũng từ từ ngồi dậy, giống như H’Linh, chàng cũng nôn ra thật nhiều nước. Chợt cô nhìn thấy ánh sáng tỏa ra lờ mờ từ đôi mắt của một người, nàng tưởng ma nên càng sợ hơn, la lớn:

–  A! Ma!! Là ma!!!

Giọng Nguyễn Huệ run run vì lạnh:

–  Là ta chứ không phải là ma, cô đừng sợ.

H’Linh nghe tiếng nói của người thì đỡ sợ hơn nhưng vẫn chưa tin:

–  Ngươi là người ư? Sao đôi mắt ngươi có ánh sáng như ma vậy?

–  Đó là điểm đặc biệt của ta. Ui, lạnh quá, cô không sợ lạnh sao? Ta thấy lạnh đến tê cóng cả người.

H’Linh đáp trong bóng tối:

–  Ta không sợ lạnh. Trước kia Lâm ca có cho ta uống tinh hỏa của con Độc Hỏa xà, trong người ta có một luồng nhiệt khí lưu thông nên hàn khí bất xâm.

Nguyễn Huệ hai hàm răng đánh cầm cập vào nhau:

–  Ra là thế. Cô chờ ta một chút nhé, ta phải vận công trục hàn khí trước đã.

Rồi chàng dịch người vào bờ cát, ngồi theo tư thế kiết già nhắm mắt vận công kích thích chân hỏa trong người, đưa chân hỏa từ huyệt Khí Hải lên Đan Điền rồi luân chuyển ra khắp châu thân. Đây là lối hành công theo Tiên Thiên Vô Cực huyền công của thầy Giáo Hiến truyền lại cho chàng. H’Linh cũng ngồi trước mặt Huệ nhắm mắt dưỡng thần. Khá lâu sau, Nguyễn Huệ mở mắt ra thở phào nói:

–  Đỡ rồi. Cô có bị thương tích gì không?

– Không. Ta rớt xuống hồ một lúc thì bị ngươi ôm chặt cứng, sau đó dòng nước cuốn đi đến khi tai ta nhức quá lại bị ngộp nước đến độ ngất đi không biết gì nữa. Giờ thì ta thấy rất bình thường. Ngươi là ai?

–  Ta tên Nguyễn Huệ. Cô là ai? Vì sao tên khốn kia lại chặt cây hại cô?

–  Ta tên H’Linh, người bản Đá Vách. Hắn trộm kiếm thần, bị cha ta bắn trọng thương, hắn thù nên muốn hại ta. Đây là nơi nào? Tối quá ta không thấy gì cả ngoài đôi mắt ngươi.

–  Ta cũng không biết. Giống như một hang động ngầm vậy. Có lẽ dòng xoáy dưới đáy vực quăng chúng ta vào đây. Cô đi theo ta, chúng ta tìm xem có lối nào ra không.

Chàng đứng lên đưa tay cho H’Linh nắm. Gần dòng nước ngầm chảy còn có chút ánh sáng lờ mờ, đi vào trong một đoạn, cảnh vật tối đen như mực. Cả hai lần mò tiến vào lòng động đá, Nguyễn Huệ nhờ đôi mắt có thần quang đặc biệt nên động càng tối, thần quang càng phát sáng hơn. Được một đoạn, chợt H’Linh vấp phải một vật gì dưới chân, nàng reo lên:

–  Chậm đã. Ta vấp phải vật gì như xương người thì phải.

Nàng cầm chặt tay Nguyễn Huệ hơn. Huệ dừng lại mò tìm dưới đất. Chàng mừng rỡ nói:

–  Đúng là một bộ xương người.

H’Linh nghe nói là bộ xương người thì sợ hãi níu chặt tay Nguyễn Huệ, giọng hơi run:

–  Là bộ xương người à? Ngươi đốt lửa lên đi!

–  Đúng vậy. Nhưng chết lâu rồi cô còn sợ gì nữa. Đá lửa của ta bị ướt hết rồi. Để ta xem có gì khác không.

Chàng mò mẫm tìm và reo lên:

–  Có rồi. Đá lửa và… hình như một gói đồ gì đó cạnh bộ xương. Để ta đánh lửa lên thử xem.

Chàng bèn đánh hai viên đá vào nhau, ánh lửa lóe lên. H’Linh mừng rỡ:

–  Thử tìm xem có vật gì cháy được không?

–  Ta có mang theo một cây đèn sáp bằng nhựa thông đây.

Bèn lấy cây sáp trong người ra rồi đánh lửa lên. Ngọn lửa bùng lên khiến cả hai phải nhắm mắt lại một lúc mới mở ra. Huệ soi cây đèn sáp quanh vùng để tìm cây khô. May mắn cho cả hai, trong lòng động có nhiều cây khô nằm rải rác khắp nơi, có lẽ bị dòng nước trôi dạt vào đây. Họ gom số cây khô lại thành một đống rồi châm lửa. Bây giờ thì hai người có thể nhìn thấy mọi vật trong lòng động. Cả hai đều tròn xoe mắt nhìn đối phương của mình, có lẽ trong thâm tâm mỗi người đều có một ấn tượng rất đẹp về người đối diện. Sau một thoáng bỡ ngỡ, cả hai bật lên cười. H’Linh nói:

–  Nhìn ngươi khá lắm. Ngươi bao nhiêu tuổi?

Huệ nói:

–  Ngươi cũng vậy. À không, phải nói rất đẹp. Ta mười bảy tuổi.

–  Vậy là chúng ta bằng tuổi nhau. Tại sao ngươi cứu ta?

–  Ta không biết. Thấy ngươi bị tên khốn kia hãm hại, ta không đắn đo cứ phóng đại theo. Không ngờ cái vực ma qủi này lạnh đến chết người lại có một lực hút hết sức kỳ lạ.

–  Cảm ơn ngươi.

Huệ cầm gói đồ bên cạnh bộ xương soi vào ánh lửa, gói đồ được gói bằng vải chống thấm nước kỹ lưỡng. H’Linh giục:

–  Mở thử xem bên trong có gì, chúng ta sẽ biết người nằm đây là ai.

Huệ bèn mở gói vải. Bên trong là hai cuốn sách cũ, một cuốn ghi “Ô Long đao pháp bí lục”, cuốn thứ hai đề “Hưng Đạo Vương – Binh Thư Yếu Lược”. Chàng mừng rỡ reo lên:

–  Thì ra đây là Ô Long đao phổ và cuốn binh thư của Đức Thánh Trần Hưng Đạo. Vậy ra người nằm đây chính là Trần Nguyên Hào. Nhưng nếu vậy thì thanh Ô Long đao ở đâu, chẳng lẽ bị bọn cướp lấy mất à?

H’Linh hỏi:

–  Ngươi biết lai lịch người này và hai cuốn sách kia à?

–  Ta có nghe Thầy ta nói về một thanh đao và hai cuốn sách này. Theo chuyện kể thì bộ hài cốt này chính là hiệp sĩ Trần Nguyên Hào. Hơn hai mươi năm trước ông bị một nhóm người Hoa ở Phúc Kiến dưới quyền tên Lý Văn Quang mưu chiếm Cù Lao Phố, tìm đến tàn sát cả Trần gia trang định cướp đoạt thanh đao quý của Đại Việt mình là Ô Long đao, nhưng Nguyên Hào đã chạy thoát. Nghe kể thì khi bị giặc đuổi cùng đường ông ta đã ôm thanh đao nhảy xuống vực này để khỏi bị bọn cướp chiếm đoạt. Nhưng ở đây chỉ thấy người mà không thấy thanh đao.

H’Linh nói:

–  Có thể khi rơi xuống vực, thanh đao rơi khỏi tay ông ta trôi đi mất.

Huệ nói:

–  Chắc là vậy. Thật đáng tiếc, đó là thanh bảo đao truyền quốc, dòng nước xoáy này biết làm sao tìm được. Nhưng thôi, chúng ta hãy cùng nhau lạy ông ta một lạy để tỏ lòng kính ngưỡng.

Nói xong chàng sụp lạy trước bộ hài cốt bốn lạy. H’Linh không hiểu chuyện nhưng thấy Nguyễn Huệ lạy nên nàng cũng quỳ xuống lạy theo. Lạy xong, Nguyễn Huệ giở cuốn Ô Long bí kiếp ra, bên trong có tóm tắt về lai lịch thanh Ô Long đao và những vị anh hùng đã cơ duyên sử dụng nó, còn lại là những hình ảnh và yếu quyết luyện tập đao pháp. H’Linh nói:

–  Chúc mừng ngươi. Ngươi vì tốt bụng muốn cứu ta nên gặp được hai bộ sách qúi này.

–  Tạ ơn anh linh tổ tiên. Cảm ơn H’Linh đã có ý tốt nhường những vật quý giá này cho tôi. Chúng ta hãy chôn cất bộ hài cốt này cho đàng hoàng. Ông ta xứng đáng là một vị anh hùng của dân tộc.

Chàng đào một huyệt sâu, cẩn thận đem bộ cốt đặt xuống, lấp đất thành một nấm mộ cao, sau đó rinh một tảng đá vôi lớn để trước mộ, dùng ngón tay, vận công khắc lên tảng đá hàng chữ “Mộ của hiệp sĩ Trần Nguyên Hào” bên dưới khắc thêm “Nguyễn Huệ và H’Linh đồng kính lập”. Xong, cả hai quỳ lạy trước mộ lần nữa.

H’Linh thấy Nguyễn Huệ dùng ngón tay khắc vào đá thì trợn mắt kinh ngạc hỏi:

–  Ngươi dùng võ công gì mà ghê gớm vậy?

Huệ mỉm cười:

–  Đó là môn Như Lai chỉ của thầy ta truyền cho.

Hai người ngồi bên đống lửa để sưởi ấm. Trong ánh lửa bập bùng, H’Linh như một nàng tiên nhỏ khiến Nguyễn Huệ không khỏi giật mình. Hình bóng thân yêu của Ngọc Lan chợt hiện lên trong trí, chàng thầm nghĩ: “H’Linh trông thánh thiện, ngây thơ như một nàng tiên nơi rừng núi, Ngọc Lan của mình lại dịu dàng, chất phát như một đóa lan bên hàng giậu ở mái trường”.

H’Linh thấy Nguyễn Huệ nhìn sững mình thì mỉm cười hỏi:

–  Ngươi đang nghĩ gì trong đầu mà nhìn ta lâu vậy?

Huệ giật mình nói quanh:

–  Ơ… Ta đang nghĩ vì sao cô lại từ Đá Vách đến ngồi trên vực thẳm để cho tên khốn đó hại suýt mất cả mạng như vậy.

Nét mặt H’Linh trở nên buồn rầu:

–  Ta nghe tin Truông Mây bị quân triều đình tiêu diệt, lại nghe người ta đồn Lâm ca và Chú Lía còn sống nên bỏ bản đi tìm.

–  Lâm ca của cô có phải là Tiểu bạch long Trần Lâm không?

–  Đúng vậy. Ngươi cũng biết Lâm ca à?

–  Biết. Ta có xem anh ta đoạt chức vô địch Anh hùng đại hội ở Quy Nhơn năm xưa. Ta cũng rất hâm mộ anh ta. Đời này chỉ có Lâm ca của cô và Chú Lía là xứng với hai tiếng “hiệp sĩ”. Cô không tìm thấy họ phải không?

–  Không. Ta đã đi khắp bốn phương trời nhưng không gặp. Hôm nay ta định trở về bản Đá Vách thì gặp A Nun mới bị nạn rơi xuống đây, cũng may có ngươi.

Huệ nghĩ thầm: “Không ngờ cô gái trông thánh thiện như tiên thế này lại là một người si tình hết mực”. Chàng đổi cách xưng hô, giọng thân mật:

–  Giờ đã thoát nạn rồi, để tôi tìm đường ra khỏi hang tối trời này rồi đưa H’Linh trở về Đá Vách.

–  Nghe A Nun nói bản đã bị quân triều đình tiêu diệt, cha mẹ ta đã bị giết, ta thật nóng lòng trở về nơi đó xem tình hình thế nào.

–  Tôi nghĩ thế nào cũng có đường ra bên ngoài.  Chúng ta phải ra khỏi nơi tối tăm này đã.  Đói rồi, thử tìm xem có gì để lót dạ không.

Chàng đứng lên cầm một thanh cây đang cháy soi khắp chung quanh nhưng chẳng có thứ gì. Cả hai lần ra mép nước, ngoài phía xa, tiếng dòng nước lạnh căm đang chảy mạnh, ven bờ, nước quận lại nên chảy chậm hơn. Chợt một con cá chép bị thu hút bởi ánh lửa bên trong, búng lên cao khỏi mặt nước rồi bơi ngược dòng lên trên. H’Linh reo lên:

–  Có cá chép đỏ kìa. Nhiều quá!

–  Phải chi có thanh kiếm thì hay quá, ta có thể xiên chúng như xiên thịt vậy.

H’Linh rút thanh nhuyễn kiếm quanh người đưa cho Huệ:

–  Ta có kiếm đây.

Nguyễn Huệ cầm thanh nhuyễn kiếm không khỏi ngạc nhiên. Chàng bèn vận công vào tay, thanh nhuyễn kiếm biến ngay thành thanh kiếm cứng rắn. Chàng phóng kiếm lia liạ xuống nước, khi rút thanh kiếm về, trên lưỡi kiếm đã có năm con cá chép lớn, màu đỏ tươi bị ghim trên đó. H’Linh vỗ tay khen:

–  Ngươi phóng kiếm thật chính xác. Vậy là khỏi sợ đói rồi.

Huệ cười:

–  Tôi bắt gần hết cá trên sông Côn nên rất quen tay. H’Linh không cần khen đâu. Bây giờ H’Linh nướng cá, tôi đi nhặt thêm cây khô để dự trử. Ăn xong chúng ta thử tìm xem cái động này dẫn tới đâu.

Loại cá chép đỏ sống trong vùng nước ngầm lạnh băng quanh năm có hương vị thật đặc biệt, vừa ngọt vừa thơm. Hai người ăn hết năm con cá lớn mà Nguyễn Huệ vẫn còn thấy đói, chàng lại xách kiếm ra đâm tiếp năm con nữa. Ăn hết mười con cá, Nguyễn Huệ lấy làm lạ vì cảm giác lạnh lúc trước chợt biến mất, trong người như có một luồng nhiệt khí lưu chuyển khắp châu thân tạo ra cảm giác rất sảng khoái, dường như trong thịt của loài cá chép đỏ ở nước lạnh có chứa rất nhiều dương tính giúp cơ thể chống lại hàn khí bên ngoài.

Ăn xong, mỗi người cầm trong tay mấy khúc cây dài, họ châm lửa vào một cây, bắt đầu dò đường ra khỏi hang động. Lòng hang có chỗ mở rộng, có chỗ thu hẹp lại chỉ vừa một người len qua, trên trần, thạch nhũ rũ xuống từng chùm tạo thành những hình thù hết sức kỳ thú. H’Linh không ngớt reo lên thích thú vì những hình tượng thiên nhiên muôn vẻ này. Đến một nơi, lòng hang bắt đầu có khe nước chạy dọc theo vách đá, nước trong khe không sâu lắm, có cả cá bơi lượn trong đó. Họ đi miết không biết bao lâu, những thanh gỗ trong tay nối đuôi nhau tàn đã gần hết vẫn chưa tìm thấy lối ra, H’Linh đâm sợ hỏi:

–  Sao đi mãi mà vẫn chưa có lối ra? Hay là hang này dẫn chúng ta xuống âm phủ?

Nói tới đây nàng bỗng rùng mình rồi nắm chặt cánh tay Nguyễn Huệ. Huệ cười:

–  Làm gì có âm phủ mà dẫn xuống. H’Linh đừng sợ, tôi tin là chúng ta sắp ra đến cửa hang rồi. Ráng lên chút nữa thôi.

Họ tiếp tục đi tới trước. Thấy H’Linh có vẻ đã mệt, Nguyễn Huệ đề nghị:

–  Nơi đây bằng phẳng, H’Linh ngồi nghỉ một lúc cho đỡ mệt đã, tôi tìm thêm một ít cây khô nữa để dự trữ. Cái hang động quỷ quái này không biết bao giờ mới là cuối đường hầm đây.

Rồi soi đuốc tìm nhưng quanh đây không có một vật gì có thể đốt được. Thấy Huệ tay không trở lại, H’Linh nói:

–  Chúng ta tiếp tục đi tới trước xem sao, nếu không hết cây đốt thì nguy.

Họ lại tiếp tục đi tới và cố đi nhanh hơn trước. Không biết mất bao lâu, ngọn lửa trên thanh gỗ cuối cùng vừa tàn thì ở phía xa xa đã có chút ánh sáng lờ mờ. H’Linh mừng rỡ reo lên:

–  Tới rồi kìa! Phía trước đã có ánh sáng rồi kìa!!

Nguyễn Huệ cũng mừng không kém, chàng thở một hơi dài nhẹ nhõm:

–  Vậy là thoát rồi. Đường hầm này dài ghê gớm thật. Để xem cửa ra là nơi nào.

Hai người nắm tay nhau bước thật nhanh. Họ vạch những dây leo chằng chịt, phủ kín cửa hang bước ra bên ngoài. Ánh sáng chói chang khiến cả hai phải nhắm mắt lại một lúc mới mở ra được. Một cảnh núi non hùng vĩ hiện ra trước mặt dưới ánh nắng ban mai. H’Linh reo lên:

–  Đẹp qúa, chẳng khác gì Thạch Bích Sơn của H’Linh.

Nguyễn Huệ thấy trước cửa hang có một vách đá phẳng và cao vút, bèn hỏi mượn thanh kiếm của H’Linh, dùng mũi kiếm khắc lên mấy chữ lớn: “Mùa thu năm Canh Dần – Nguyễn Quang Bình và H’Linh đã khám phá ra Hang Tối Trời này”.

H’Linh nhìn dòng chữ khắc trên vách đá, ngạc nhiên hỏi:

–  Ngươi không phải tên Huệ sao?

Huệ mỉm cười:

–   Quang Bình là tên chữ của tôi. Để tôi xem thử có nhận ra đây là nơi nào không nhé.

Bèn nhún chân nhảy lên một chỗ cao đưa mắt nhìn quanh quan sát. Một lúc sau chàng reo lớn:

–  H’Linh ơi. Tôi đã nhận ra được rồi. Đây chính là hòn núi nằm phía Bắc gần chân đèo Vĩnh Viễn[1]. Con đường này tôi đã đi qua mấy lần. Hay quá! Vậy là nơi đây không xa khu trại của anh tôi mấy. Đi, chúng ta về trại, sau đó tôi sẽ đưa H’Linh về bản Đá Vách.

H’Linh mừng rỡ, nàng cũng nhún chân phóng người lên đứng cạnh Huệ:

–  Thật ư? Ôi! Lạy đấng thần linh vô thượng! Thật là may mắn biết bao. Núi rừng ở đây hùng vĩ quá. Trại của anh ngươi ở đâu?

–  Trên kia. Lên khỏi đèo là tới rồi. Thân pháp của H’Linh thật cao siêu.

H’Linh quay sang Nguyễn Huệ, giọng đượm chút bùi ngùi:

–  Là Lâm ca dạy cho H’Linh đó, cả thanh nhuyễn kiếm cũng do Lâm ca tặng cùng một bài kiếm để H’Linh phòng thân. Vật còn đây mà người thì bặt vô âm tín.

Nàng thở dài buồn bã tiếp:

–   Đứng trên đỉnh núi này với ngươi làm H’Linh nhớ đến Tín Nhi. H’Linh và Tín Nhi vẫn thường đứng trên đỉnh cao của Thạch Bích Sơn ngắm cảnh, luyện kiếm và trò chuyện.

Huệ hỏi:

–  Tín Nhi nào? Có phải Tiểu Thâu Nhi một kiếm đâm chết Quỷ Kiếm Ma Đao Lương Bát Vạn khi đốt kho lương Long Phượng năm trước không?

–  Đúng rồi. Hắn là một người rất tốt, vui tính, trung can, nghĩa đảm.

–  Lúc Truông Mây gặp nạn, anh ta có thoát được không? Tôi rất tán thưởng tính cách và hành động dũng cảm của anh ta.

–  Có, lúc Truông Mây bị tiêu diệt, Tín Nhi đang ở bản Đá Vách để xin Cha H’Linh chi viện lương thực. Sau đó hắn xuống Mộ Hoa để dò tìm tin tức của Sư phụ, nhờ vậy mà thoát nạn.

–  Bấy nay H’Linh có gặp lại anh ta không?

–  Không. H’Linh rất muốn gặp Tín Nhi, giờ đây H’Linh chỉ còn mình hắn là bạn.

Huệ nhìn H’Linh mỉm cười:

–  Còn tôi thì sao? H’Linh không coi tôi là bạn à?

H’Linh vội chữa:

–  Có chứ, ngươi nữa là hai người.

–  Sau khi về thăm Đá Vách, chúng ta đi tìm Tín Nhi và Lâm ca của H’Linh, đồng ý không?

–  Được như vậy thì còn gì hay bằng. Thôi chúng ta đi, H’Linh nóng ruột lắm rồi.

Hai người nhảy xuống đất. Huệ nói:

–  Phải ghé lại trại của tôi một lúc, trước báo cho anh Cả biết tôi đã thoát nạn nếu không anh ấy sẽ lo, sau đó lấy hai con ngựa để làm chân.

Họ vừa ra khỏi vùng núi đến chân đèo An Khê thì gặp một đoàn người ngựa mấy mươi người đang thồ rất nhiều hàng hóa lên đèo. Gặp những người này, Nguyễn Huệ mừng rỡ reo lên:

–  Kìa, anh Năm Ngạn. Các anh vừa từ mạn dưới lên tới à?

Người đàn ông tên Năm Ngạn, tức Phạm Ngạn, tuổi trạc hai bảy, hai tám, bạn buôn nguồn chung mà cũng là cánh tay phải của Nguyễn Nhạc. Họ đang chở những hàng hoá dưới mạn xuôi lên Tây Sơn thượng đạo để trao đổi hàng với người Thượng. Năm Ngạn thấy Huệ đi chung với một cô gái giữa rừng đèo mà không có ngựa thì ngạc nhiên hỏi:

–  Ừ, toán của anh vừa lên đến đây. Chú Huệ sao lại đi bộ lang thang ở đây? Ngựa đâu?

Huệ cười đáp:

–  Bọn em bị rớt xuống Vực Trầm Hương rồi lạc vào Hang Tối Trời, dò dẫm mãi mới lọt ra giữa chân đèo này. Đang định lên trại cho anh Cả hay, sợ ảnh lo.

Huệ nói xong đưa tay chỉ vào nơi có cửa hang. Năm Ngạn và mấy người thanh niên trong đoàn nghe Huệ nói thì vô cùng ngạc nhiên, ông hỏi vặn:

–  Chú nói hai người vừa té xuống Vực Trầm Hương rồi yên ổn trở về à? Chuyện lạ trước giờ chưa từng xảy ra ở xứ này đó. Thật vậy chứ?

–  Em dối với mấy anh làm gì. Giờ em muốn lên gấp trên trại tìm anh Cả, anh Năm có dư hai con ngựa không?

–  Ngựa không có dư, để anh bảo anh em nhường lại cho chú hai con. Cô nương này là ai vậy?

–  Cô ta là con gái của tù trưởng tộc Đá Vách. Sau này có dịp em kể cho anh nghe. Bọn em đi trước.

Năm Ngạn nghe nói cô gái xinh đẹp này là con tù trưởng Đá Vách thì tỏ vẻ vừa ngạc nhiên:

–  Vậy à?

Rồi quay sang bảo hai người đi trong đoàn nhường hai con ngựa tốt cho Nguyễn Huệ. Hai người chào cả đoàn, lên ngựa phóng nhanh ngược lên đèo.

Họ lên đến trang trại của Nguyễn Nhạc ở Tây Sơn thượng lúc trời ngã bóng chiều. Đây là khu trại cũ của họ Hồ, tổ của anh em Huệ, Nhạc khi mới từ Nghệ An vào lập nghiệp. Về sau, Nguyễn Nhạc mua thêm đất rừng của người Thượng rồi chiêu tập những người dân cùng khổ, số người ăn xin, những dân bị tù đày hay bị triều đình bạc đãi, bất mãn, trốn lên đây phá rừng lập rẫy canh tác. Công việc này Nguyễn Nhạc đã thực hiện từ lúc thay Cha buôn bán trầu nguồn với người Thượng ở Tây Nguyên, tính đến nay đã hơn năm năm, số người ở các trại đã lên đến hàng ngàn. Vùng đất mới này, Nhạc gọi là “vùng đất tình thương”. Người dân lên ở đây chia nhau khai thác một vùng đất rộng lớn hàng ngàn mẫu, dọc theo sông Ba để trồng trầu xanh và lương thực. Thời bấy giờ, tục lệ ăn trầu rất phổ biến trong dân gian, miếng trầu là đầu câu chuyện, bởi vậy buôn trầu một vốn bốn lời. Nhưng trầu trên nguồn mới xanh, mới giòn, hương vị mới đậm đà, cho nên buôn trầu nguồn trở thành mối lợi mà những nậu nguồn ai ai cũng cố tranh đoạt khách mua, nguồn bán. Song song với buôn trầu, cùng những đặc sản ở Cao nguyên về miền xuôi, Nguyễn Nhạc còn tổ chức buôn muối, cá khô, mắm và những vật dụng ở miền xuôi, đưa ngược lên mạn ngược để bán hoặc trao đổi hàng hoá. Vì vậy dân gian có câu:

Ai về nhắn với Nậu nguồn

Măng le gởi xuống, cá chuồn đưa lên.

Hai con ngựa của Nguyễn Huệ và H’Linh vừa lên đến cổng trại chính, nơi có ngôi nhà lớn, tổng hành dinh của Nguyễn Nhạc, đã có mấy người reo to mừng rỡ:

–  Kìa! Chú Tám đã trở về kìa! Chú Tám Thơm đã trở về, ông Cả ơi, chú Tám đã trở về.

Một người chạy vội vào trong nhà lớn gọi Nguyễn Nhạc, số còn lại bao quanh Huệ và H’Linh khi hai người nhảy xuống ngựa. Họ hỏi han lung tung, làm sao có thể sống sót trở về khi đã rớt xuống cái vực chết đó, v. v… Nguyễn Huệ vừa định trả lời thì Nguyễn Nhạc và Nguyễn Lữ đã từ trong nhà lớn đi vội ra. Nhạc thấy Huệ còn sống trở về, ông mừng như chính mình vừa mới chết đi, sống lại. Ông chạy vội đến ôm chầm em, miệng không ngớt lâm râm khẩn tạ ơn trên:

–  Tạ ơn Đấng thần linh vô thượng đã cứu em tôi thoát chết trở về.

Rồi dùng hai tay nắm chặt hai vai của Huệ đẩy ra, mắt rươm rướm lệ nhìn thật kỹ, như thể vẫn chưa tin vào một sự thật vượt quá sức tưởng tượng của mình:

–  Em thoát nạn thật ư? Làm sao có được kỳ tích như vậy? Kể mau đi. Làm sao em có thể an bình trở về từ cái vực chết đó?

Nguyễn Lữ cũng chạy đến nắm tay Huệ nước mắt chảy dài xuống má. Nguyễn Huệ nhìn thấy cả hai anh mình mắt rướm lệ và nỗi vui mừng vô hạn từ những cử chỉ của họ, hai mắt chàng cũng phải rưng rưng. Với Nguyễn Huệ, người anh Cả này vừa là anh vừa thế phụ nuôi nấng chàng. Huệ xúc động nói:

–  Em đã bình an rồi. Anh Cả và anh Bảy đừng lo lắng nữa. Để rồi em kể lại cho hai anh nghe.

Chàng quay sang H’Linh, giới thiệu với hai anh:

–  Đây là H’Linh, con gái của tộc trưởng Đá Vách, người mà em lao xuống vực cứu.

 Nguyễn Nhạc vui mừng nói:

–  Thì ra là Tiểu thơ của bản Đá Vách. Hai người thật phúc lớn bằng trời mới có thể thoát được tai kiếp này. Vào nhà nghỉ ngơi trước đã, sau đó kể lại anh nghe tao ngộ thế nào. Phải cúng tạ ơn thần linh đã phù hộ, mang lại kỳ tích này.

Nguyễn Huệ ra dấu mời H’Linh theo chân hai anh vào nhà. Vừa đến cửa, người vợ thứ của Nguyễn Nhạc cũng đã chạy ra mừng. Bà là con gái của vị tù trưởng tộc Bahnar hùng mạnh ở rừng Mộ Điểu, Nguyễn Nhạc cưới về hai năm trước. Tên của bà là Ja Dok nhưng bà con ở trại gọi bà là Cô Hầu. Cô Hầu và H’Linh cùng là người thiểu số nên dễ thân nhau. Bà nói:

–  Em vào đây với ta. Xem kìa, quần áo tóc tai đều dơ bẩn cả rồi. Cứ để anh em họ nói chuyện với nhau.

Rồi kéo H’Linh ra phía sau. Ba anh em Nguyễn Nhạc vào trong nhà, Nguyễn Huệ biết hai anh nóng lòng muốn biết sự thể câu chuyện nên kể lại đầu đuôi cho họ nghe. Chàng lấy bộ binh thư của Trần Nguyên Hào để lại đưa cho hai anh xem. Nhạc lướt qua một lượt, sau đó ông vào bên trong mang thanh kiếm thần ra. Vừa mở lần vải bọc kín thanh kiếm, ông vừa nói với hai em, không kiềm hãm được sự kích động:

–  Cơ trời dun rủi. Anh cũng vừa lấy được thanh thần kiếm của Vua Hỏa. Chỉ trong một ngày mà những báu vật truyền quốc của tổ tiên cùng quy về một chỗ, sự tấu xảo này không phải là ý trời muốn giúp anh em ta sao. Thiên thời đã ở trong tay của mình rồi đó, hai chú có thấy như vậy không?

Nguyễn Lữ vung thanh kiếm lên, háo hức nói:

–  Anh Cả nói đúng. Đã đến lúc chúng ta khởi sự rồi.

Huệ nói:

–  Thiên thời, địa lợi đã có, còn lại là vấn đề nhân hòa. Anh Cả nên bàn bạc với thầy xem ý của thầy thế nào.

Nhạc gói kín thanh kiếm lại nói:

–  Chú nói phải. Mai anh và chú về An Thái gặp thầy giáo.

Huệ vội nói:

–  Em có hứa với H’Linh là sẽ đưa cô ấy về Đá Vách để tìm tin tức cha mẹ của cô ta. Anh Cả để em đi xong chuyến này đã.

– Cũng hay. Đá Vách là một tộc hùng mạnh, luôn chống đối triều đình, chú đi chuyến này cố gắng kết thân với họ, cái lợi về sau không nhỏ đâu.

Ngẫm nghĩ một lát, Nhạc nói tiếp:

–  Thế này vậy. Chú vừa nhắc đến chuyện nhân hòa, chú còn nhớ những người từng tham gia Đại hội anh hùng ở Quy Nhơn lúc trước không?

–  Dạ nhớ.

–  Chú đi Đá Vách xong, đánh một vòng, tìm gặp những người đó, tùy cơ mà ứng biến, thuyết phục họ lên Tây Sơn tụ nghĩa. Chú phải nhớ là anh hùng trong thiên hạ, mỗi người một tính cách, muốn thu phục họ phải biết đánh vào điểm tâm lý chính yếu của họ mới mong họ khẩu phục tâm phục. Chú làm được không?

Đôi mắt Nguyễn Huệ lóe sáng lên, chàng đáp một cách tự tin:

–  Được. Anh Cả an tâm.

Nhạc lại hỏi:

–  Bấy nay, việc học của chú tiến triển thế nào rồi? Cả văn lẫn võ?

Nguyễn Huệ mỉm cười:

–  Văn tàm tạm, còn võ, em chưa từng đấu qua với ai nên không biết đã tiến đến đâu, chỉ nghe thầy nói, cả thầy bây giờ cũng không phải là đối thủ của em. Có lẽ thầy khích lệ em mà thôi.

Nhạc cười, ông cũng đã từng nghe Giáo Hiến tâm sự như thế với ông:

–  Tốt lắm, nay chú lại được thêm bí kíp Ô Long đao pháp này nữa thì anh vững tin rồi. Việc thu phục anh hùng, hiệp sĩ trong thiên hạ dưới đồng bằng giao chú lo. Còn chú Lữ, cái nghề phù phép của chú học ở lão thầy Tàu người Minh Hương rất có tác dụng đối với việc thu phục các bản dân tộc Tây Nguyên, họ là một lực lượng rất lớn, có họ giúp sức, ta sẽ mạnh hơn rất nhiều lần. Việc dưới kia giao cho Huệ, ở trên này giao cho chú cả đấy.

Nguyễn Lữ nói:

–  Các bản ở toàn vùng An Khê và Plei – Ku em đã chiêu dụ được cả rồi, chỉ còn bản Xà Đàng (Sêđăng) là không chịu phục. Tên chúa tộc này là Bok Kiơm rất kiêu dũng, hắn chỉ tin vào trời và thần linh nên nhất định không nghe. Em nghĩ phải có cách gì đó khiến bọn chúng tin anh Cả là người Trời thật sự thì chúng mới toàn tâm qui phục.

Nhạc mỉm cười nói:

–  Anh có nghe nói về sự kiêu dũng của bọn Xà Đàng. Huệ còn nhớ tên Tây Nguyên đệ nhất cao thủ A Phàm trong kỳ tỷ võ ở Quy Nhơn không? Hắn là trụ cột của bọn Xà Đàng. Bọn này trai tráng đều giỏi võ, thu phục được chúng sẽ rất có lợi.

Huệ hỏi:

–  Anh Cả có muốn em thu thập tên A Phàm đó để làm nhụt nhuệ khí của chúng không?

–  Chưa cần. Đối với tên chúa bản, phải cho hắn tin mình là người cõi trên thì hắn mới tâm phục. Việc động võ nếu cần thiết thì làm sau.

Lữ hỏi:

–  Anh Cả định làm thế nào? Hôm trước hắn nói với em nếu Ông Cả có thể thu phục được bầy ngựa hoang hung dữ trong núi Hiển Hách thì mới thật là thần nhân.

– Chú sai người dùng giấy bổi, quét dầu trong, rồi phất bên trong một đôi bội. Cạnh bản Xà Đàng có con suối, anh sẽ dùng đôi bội đó gánh nước suối. Bọn Xà Đàng nhìn thấy nước không chảy ra lỗ bội mà không quỳ xuống lạy dài thì thôi.

Nói xong ông cười ha hả. Lữ và Huệ cũng cười ầm lên trước sáng kiến lạ lùng này của anh Cả. Nhạc ngẫm nghĩ một lúc nói tiếp:

–  Còn việc thu phục bầy ngựa hoang ở núi Hiển Hách thì chú tìm cho anh một bầy ngựa cái non, hiền lành đem về đây. Chỉ cần thuần phục được những con ngựa cái này theo ý muốn của mình, sau đó đem nó ra dụ đàn ngựa hoang kia có khó gì.

Lữ nghe nói lại toét miệng cười:

–  Hay quá. Kỳ này bọn Xà Đàng chắc chắn sẽ quỳ xuống vái Đức Thầy Cả rồi xếp giáo chạy  theo.

Chợt Nhạc ngưng trọng nét mặt hỏi:

–  Hai chú có nhớ chuyện Lê Thái Tổ lấy được thanh Thuận Thiên bảo kiếm rồi Nguyễn Trãi vẽ ra cái trò “Lê Lợi Vi Quân, Nguyễn Trãi Vi Thần” không?

Lữ và Huệ cùng đáp:

–  Dạ nhớ.

–  Chúng ta cũng sẽ làm như vậy. Cho nên thanh thần kiếm này phải giữ hoàn toàn bí mật, đợi đến khi khởi sự hãy tung ra để thu phục lòng người. Việc này, sau sẽ nhờ đến thầy Giáo sắp xếp.

Nguyễn Lữ hớn hở khen:

–  Anh Cả thật nhiều chước qủi mưu thần.

Nhạc mỉm cười ra chiều đắc ý nói tiếp:

–  Hôm trước ông Giáo nói tới năm cái gì…gì… nhất vận nhì cái gì…

Huệ nói nhanh:

–  Nhất vận, nhì thời, tam phong thủy, tứ âm công, ngũ độc thư.

Nhạc cười:

–  Đúng rồi. Chúng ta hiện đã có nhất, tam, tứ và ngũ. Còn nhì thời thì phải chờ xem ông Giáo phân tích thêm. Năm ngoái lúc sao chổi mọc, ông Giáo nói cơ trời đã báo một cuộc đại loạn mới sắp xảy ra càn quét cả nước Nam mình. Ông Giáo còn nói Thạc đức hầu Nguyễn Quang Tiền vừa được Định vương phục chức cho mà khi thấy sao chổi xuất hiện cũng phải than với mọi người: “Không ngoài năm năm nữa, Quảng Nam sẽ có họa binh đao lớn. Kinh đô ở hướng Đông Bắc, cầm cán chổi để quét phương Tây Nam. Khí số nhà Nguyễn hết rồi!”[2]. Ông Giáo còn khuyên anh  cho người loan truyền câu sấm ngôn “Tây khởi nghĩa, Bắc thu công” rộng rãi trong dân chúng.

Lữ hỏi:

–  Chúng ta được bốn thứ đó là sao, anh Cả giải thích em nghe thử?

Nhạc nghiêm mặt đáp:

–  Chúng ta được nhất vận nên thần kiếm, binh thư, bảo đao bí kiếp mới quy về một mối. Tam phong thủy là địa thế Tây Sơn chúng ta đây ứng với câu sấm ngôn mà ông Giáo thường nhắc tới. Tứ âm công là mộ của cha được táng trong Hoành Sơn, đúng nơi long huyệt của vùng địa linh này. Ngũ độc thư là có hai chú và thầy trò ông Giáo. Anh còn có mấy người bạn thân là Cao Tắc Tựu, Võ Xuân Hoài, Trương Mỹ Ngọc ở Bình Khê và An Nhơn, tài học của họ chẳng kém gì ông Giáo.

Cả Lữ và Huệ nghe nói mộ của cha được cải táng trong Hoành Sơn đều ngạc nhiên hỏi:

–  Không phải mả của cha được táng trong khu gò mả ở Phú Lạc sao?

Nhạc cười bí hiểm:

–  Nay cũng đã đến lúc cho hai chú biết bí mật này. Lữ còn nhớ ông thầy Minh Hương của chú không? Hắn ta là một thầy địa lý rất giỏi của Tàu, hắn biết vùng Tây Sơn là nơi có long mạch của đế vương nên tìm đến để chôn hài cốt của ông bà mình. Nhưng hắn qua mặt anh làm sao được, bởi vậy cái long mạch mà hắn tìm ra trong Hoành Sơn đã bị anh bí mật thay đổi, hắn thất vọng bỏ đi. Vậy là anh âm thầm bốc mộ cha mình đem hài cốt táng vào nơi đó.

Huệ hỏi:

–  Anh Cả đã nhìn thấy tác dụng của tứ âm công trong việc này hay sao?

–  Từ khi cải táng mộ của cha vào nơi long huyệt, anh lưu ý mọi việc đến với ba anh em chúng ta rất thuận lợi, từng bước, từng bước một. Từ việc đẩy đưa ông Giáo về An Thái để hai em được học cả văn lẫn võ, cho đến việc khai thác vùng đất này, cả việc mọi người đều tin cẩn vào lời nói của mình, vân … vân… Anh tin những thứ đó phần lớn là nhờ vào sự phát tích của âm đức từ mộ cha mình mang lại.

Lữ hưởng ứng:

–  Anh Cả nói đúng. Em cũng tin như vậy. Mọi việc em làm nơi đây đều thuận lợi một cách không ngờ.

Nguyễn Huệ vốn là người thực tế và tự tin vào khả năng của bản thân mình nên chỉ gật gù chứ không thật tin hẳn chuyện tứ âm công. Nhạc lại nói:

–  Chú Lữ một mặt dùng các phù phép của đạo Ma Ní để hù dọa bọn người Thượng, một mặt cứ rao ầm lên Ông Cả vốn là con trời, có chân mạng đế vương, trời sai “Đức Thầy Cả” xuống để đánh đổ bọn vua quan tàn bạo, cứu lấy đám dân nghèo, đem muối gạo đến cho dân bản. Chú còn phải lo cai quản anh em, bà con ở đây cho tốt. Khuyến khích họ canh tác. Lương thực quyết định vận mệnh của chúng ta, chú ráng mà lo liệu.

–  Dạ. Với cánh đồng bát ngát của chị Ja Dok ở rừng Mộ Điểu và hàng ngàn mẫu đất của chúng ta dọc sông Ba này, em tin có thể đủ lương thực để cung cấp cho một đạo quân ba ngàn người trong vòng sáu tháng. Nếu chúng ta có thể cho anh em luân phiên kẻ canh tác, người đánh giặc thì thời gian sẽ còn lâu hơn nữa.

Nhạc nói:

–  Sau cuộc chiến Truông Mây, bà con nghèo đói bỏ xứ lên đây ngày càng đông. Phải có kế hoạch tiếp nhận và phân phó cho tốt để tận dụng hết năng lực canh tác của họ ở vùng rừng núi bao la này.

Lữ hăng hái:

–  Anh Cả an tâm. Những việc đó là sở trường của em mà. Có điều đám dân xiêu tán lên đây  toàn dân bạt mạng, cai quản bọn này thật khổ tâm vô cùng. Chưa kể còn phải dàn xếp những vụ đụng chạm giữa bọn chúng với các người Thượng ở đây.

–  Những tên bạt mạng chú gom lại một nơi, giao cho Nguyễn Văn Tuyết quản lý. Tên nào làm loạn, bảo Tuyết cứ thẳng tay trừng trị. Văn Tuyết lúc nhỏ đã có tài cai trị bọn côn đồ ở chợ Gò Chàm, việc cai quản đám bạt mạng ở đây chắc không khó đâu. Chú và Tuyết, một cương một nhu, uyển chuyển mà trị bọn họ. Thằng Trần Lập làm việc được không?

Lữ đáp:

–  Hồi còn học trong lớp nó không giỏi lắm, nhưng khi làm việc lại lanh lợi và tháo vác vô cùng. Rất được việc. Em giao nó phụ trách quản lý việc sổ sách chi thu lương thực.

–  Ai cũng có sở trường riêng của họ, giỏi dùng người thì công việc sẽ tốt hơn.

Huệ góp ý:

–  Còn đám người vong mạng kia, nếu biết cách tổ chức, huấn luyện kỹ thì sẽ thành một đạo quân mạnh, bằng không sẽ trở thành một đám cướp hung dữ, bất trị.

Nhạc nói:

–  Nghe nói cuốn Binh Thư Yếu Lược của Hưng Đạo Vương hướng dẫn đầy đủ cách tuyển tướng, luyện quân. Chú lãnh nhiệm vụ này cho phong trào.

 Huệ nhìn anh, giọng tự tin:

–  Được, anh Cả cứ giao việc này cho em. Việc hợp tác giữa anh Cả và nhóm Nguyễn Thung, Huyền Khê thế nào?

Nhạc mím môi, một lúc sau mới đáp:

–  Nguyễn Thung là người tốt, nhưng vì giàu có, lại có tài nên nhiều tham vọng. Lực lượng của hắn rất mạnh, không khéo thuyết phục, hắn sẽ là mối lo tâm phúc của ta. Hiện tại hắn và Huyền Khê nắm hết nguồn muối Hà Ra và Trà Ô. Mới đây hắn còn chiêu dụ được bọn cướp biển Lý Tài và Tập Đình ở Cù Lao Ré về nhập bọn. Anh đang tính kế để lôi kéo cả bọn họ về với chúng ta. Còn phải lo thuyết phục cả bọn Châu Văn Tiếp cũng như vị Nữ chúa Thị Hỏa của bộ tộc Chàm ở Phú Yên nữa để chúng đỡ ta mặt Nam. Thu phục được hết đám này, cộng thêm lực lượng chúng ta có sẵn ở đây, ngày khởi sự sẽ không còn xa nữa đâu. Thu phục bọn Xà Đàng xong anh sẽ trở về Kiên Thành để lo những việc đó, chú Huệ đi chừng nào xong việc thì về dưới đó gặp anh. Chúng ta bắt đầu loan truyền và kêu gọi anh hùng, hiệp sĩ về Tây Sơn tụ nghĩa được rồi.

*****

[1] Đèo Vĩnh Viễn là tên gọi thời bấy giờ. Đến thời thuộc Pháp mới sửa tuyến đi và đổi tên lại là đèo An Khê. Hiện nay ở phía tây đèo có một ấp lấy tên Vĩnh Viễn – Theo Quách Tấn trong Nước Non Bình Định.

[2] Phủ Biên Tạp Lục – Lê Qúy Đôn. Bản dịch Nguyễn Khắc Thuần.

*****

(Xem tiếp hồi thứ hai vào 26-9-2015)

HỒI THỨ HAI

Giết cọp dữ, Trần Quang Diệu gặp Bùi Thị Xuân

Đánh quan binh, Nguyễn Văn Lộc cưới được vợ hiền.

***