Kỳ 176:

HỒI THỨ HAI

Giết cọp dữ, Trần Quang Diệu gặp Bùi Thị Xuân

Đánh quan binh, Nguyễn Văn Lộc cưới được vợ hiền.

Tám chiếc vó khỏe mạnh của hai con Bạch mã và Ô Truy phóng thật đều, chở đôi thanh niên nam nữ xuống khỏi đèo Vĩnh Viễn, rẽ qua con đường độc đạo, dọc theo bờ tây sông Côn rồi vào đường thượng đạo ở Vĩnh Thạnh. Qua khỏi địa giới Kim Sơn gần An Lão, H’Linh cho ngựa chậm lại, nàng chỉ tay xuống con suối chảy bên vách núi nói:

–  Chúng ta ghé xuống con suối này nghỉ một lát cho ngựa uống nước.

Nguyễn Huệ tán thành:

–  Được. Hãy theo lối này.

Chàng rẽ ngựa theo một lối mòn xuống suối. Hai người nhảy xuống đất, vục nước suối rửa mặt, thả hai con ngựa tự do uống nước, gặm cỏ. Dòng suối chảy dài xuống một thung lũng bằng phẳng ở dưới xa. Rừng thu vàng úa hai bên bờ khiến cảnh núi rừng trông thật cô liêu, u tịch. H’Linh dõi mắt mơ màng nói:

–  Rừng thu và thung lũng dưới kia thật đẹp, chẳng khác con suối Tử Tuyền ở Thạch Bích sơn của ta.

Nguyễn Huệ nhìn theo ánh mắt H’Linh nói:

–  Ừ, đẹp thật, nhưng buồn qúa. H’Linh có vẻ thích những nơi tịch mịch thế này phải không?

–  Ta từ bé đã quen cảnh núi rừng hồn nhiên, u tịch. Thời gian qua giong ruổi dưới đồng bằng, nhìn thấy biết bao cảnh tang thương, đói khổ, chết chóc, lòng ta thật xót xa, chỉ mong được sớm trở về với bản rừng cho tâm hồn thanh thản. Ngươi thì sao?

–  Thanh nhàn ai cũng thích, nhưng tôi là thân trai trong thời loạn, nghĩa vụ làm trai không cho phép tôi chìu theo sở thích của mình.

–  Suy nghĩ của ngươi thật giống Lâm ca và Tín Nhi. Ngươi đưa ta về đến Đá Vách rồi sẽ đi đâu?

–  Tôi định làm một chuyến giang hồ, lang thang khắp trời Nam này cho biết đất nước và con người của mình.

H’Linh thở dài:

–  Đất nước là một cảnh điêu tàn, con người là những bộ xương gầy còm, ốm đói. Ngươi cứ đi cho biết, nhưng ta sợ rằng sau chuyến đi ngươi sẽ thất vọng. Như tâm tình của ta bây giờ vậy.

Huệ nhìn cô gái của núi rừng thầm nghĩ: “Tôi sẽ thay đổi những điêu tàn và đau thương đó cô bạn gái ạ”.  Chợt H’Linh chỉ tay xuống vùng thung lũng nói:

–  Chúng ta thử xuống vùng thung lũng đó xem. Một nơi đẹp thế này ta nghĩ chắc sẽ có người ở.

–  Nếu H’Linh thích.

Hai người bèn lên ngựa rồi thong thả theo dòng suối xuống thung lũng. Vừa đến nơi, H’Linh đã reo lên:

–  Ngươi thấy không, bên kia có nhà kìa. Chúng ta đến đó đi.

Theo ngón tay H’Linh, Huệ thấy một mái nhà lá khá lớn dựng bên một khúc quanh của con suối. Hai người bèn thả ngựa đến nơi. Khung cảnh im lìm, vắng vẻ. Chợt Huệ thấy một nấm mộ bên cạnh ngôi nhà. Trước mộ, một chàng thanh niên đang quỳ cúi đầu im lặng, bên cạnh mộ có cắm một thanh kim đao sáng rực. Biết có người lạ đến chàng thanh niên vẫn không quay lại. Huệ và H’Linh vội vàng nhảy xuống ngựa, chậm rải đến sau lưng chàng thanh niên, im lặng chắp tay vái trước nấm mồ. Lúc đó chàng thanh niên mới từ từ đứng lên quay lại nhìn. Anh ta tuổi trạc mười chín, hai mươi, mặt vuông với nước da đỏ tía, mắt xếch trông lẫm liệt, phương phi, thoạt nhìn Huệ đã biết ngay là tay kiêu dũng trong đời. Chàng vội chắp tay ôn tồn nói:

–  Tình cờ thấy cảnh đẹp nên chúng tôi lạc vào đây, không ngờ lại quấy quả sự yên tĩnh của anh. Thật xin lỗi.

Người thanh niên từ tốn nói:

–  Không hề gì. Hai vị là ai? Có việc gì đi ngang qua vùng núi thẳm này?

–  Tôi là Nguyễn Huệ ở Kiên Thành, đây là H’Linh ở bản Đá Vách. Dám hỏi danh tánh của anh?

–  Trần Quang Diệu. Hân hạnh biết hai vị.

H’Linh hỏi:

–  Xin hỏi anh, người dưới mộ là ai? Trên mộ cỏ đã xanh, anh quỳ như thế hẳn đã ba bốn tháng rồi phải không?

–  Là thầy tôi. Người tạ thế đúng ba tháng rồi.

Huệ chắp tay nói:

–  Thành thật chia buồn cùng anh. Anh định một mình ở lại nơi vắng vẻ này à?

Quang Diệu nói:

–  Tôi đang định trở về quê thăm gia đình. À, mời hai vị vào nhà nói chuyện cho phải lẽ.

Huệ cùng H’Linh theo Diệu vào nhà. Huệ hỏi:

–  Quê anh ở đâu?

Diệu rót nước mời khách rồi đáp:

–  Ở thôn Liên Chiểu gần Long Cốt sơn, Mộ Hoa.

Nguyễn Huệ nghe nói giật mình hỏi:

–  Anh họ Trần ở Liên Chiểu như vậy có liên hệ gì đến họ Trần Nguyên bên Liên Trì bị thảm sát hơn hai mươi năm trước không?

–  Không. Họ Trần Nguyên là họ lớn, họ Trần chúng tôi chỉ là một họ nhỏ trong vùng. Tội nghiệp, cả họ Trần Nguyên năm ấy bị giết hết không còn một ai. Lúc tôi còn nhỏ, nghe kể lại chuyện mà sôi giận trong lòng. Bọn Tàu này thật ác độc.

–  Anh nói đúng, những chuyện như vậy ai nghe cũng phải căm gan. Cũng hay là bọn gian ác đã bị trả thù đích đáng.

Nguyễn Huệ đưa mắt nhìn quanh. Gian nhà rộng, bày biện đơn sơ nhưng thoạt nhìn đã biết ngay chủ nhân là người chuyên về võ nghệ, tuy trên các giá binh khí trống trơn chẳng có món gì. Quang Diệu nói:

–  Anh lấy làm lạ phải không? Tất cả binh khí tôi đã chôn theo thầy tôi, chỉ còn giữ lại cây Huỳnh Long đại đao thầy tôi tặng cho mà thôi.

Huệ mỉm cười ướm lời:

–  Nhìn nghi biểu của anh và thanh đao tôi đoan chắc anh là người tài cao, chí cả. Dự tính tương lai của anh thế nào?

Quang Diệu hớp một hớp nước, đáp:

–  Trước lúc lâm chung, thầy tôi đã căn dặn phải đem sở học làm sở hành, giúp đời, giúp nước. Nhưng gần mười năm nay tôi theo thầy lên núi nên sự thể dưới kia chưa biết thế nào. Tôi định về thăm nhà trước rồi mới tính chuyện tương lai.

Huệ nghe nói trong bụng mừng thầm, nói:

–  Sau khi thăm nhà, nếu anh muốn góp mặt với đời thì nên ghé lại Tây Sơn Hội Quán ở bến Trường Trầu, trên bờ sông Côn, Kiên Mỹ. Anh hùng đời nay đang quy tụ ở đó rất đông.

Diệu háo hức hỏi:

–  Thật vậy ư? Chủ nhân Hội Quán là ai?

–  Nguyễn Nhạc.

–  Được, tôi sẽ ghé thăm nơi đó một chuyến. Tôi có sẽ gặp anh ở đó không?

–  Tôi đang có một ít việc phải làm, anh cứ đến đó, chúng ta sẽ gặp lại nhau sau vài tháng. Bây giờ xin kiếu từ.

Huệ và H’Linh đứng lên, Diệu tiễn hai người ra đến nơi cột ngựa nói:

–  Chúc hai người thượng lộ bình an. Mong gặp lại.

Hai người phóng lên ngựa rồi vẫy tay chào, thúc ngựa trở lên đường thượng đạo về Đá Vách. Quang Diệu nhìn theo lẩm bẩm:

–  Chàng thanh niên Nguyễn Huệ này còn rất trẻ nhưng khí phái bất phàm, nhất là đôi mắt, thần quang nội liễm mà tia nhìn nhiếp phục lòng người, mới gặp mà mình đã thấy bảy phần kính ngưỡng. Con người như thế tất sẽ làm nên đại sự, rất đáng để kết giao. Ta ghé Vĩnh Thạnh hỏi thăm gia đình họ Diệp của thầy theo lời dặn trước, sau đó tiện đường vào Tây Sơn một chuyến xem sao. Việc về thăm nhà hãy tính sau.

Nghĩ đến đó, bầu nhiệt huyết chợt bùng sôi, bèn lạy mộ thầy lần nữa rồi thu xếp hành trang, nghĩ rằng đây chỉ là chuyến giang hồ du ngoạn nên đem thanh Huỳnh Long bảo đao cất kỹ một nơi rồi vác bọc hành lý lên đường.

Trần Quang Diệu vốn con nhà khá giả ở Liên Chiểu, nhưng cha mẹ mất sớm, tuy còn hai người anh nhưng tính Diệu đam mê võ nghệ, thích thân tự lập thân nên sống tự lập từ bé. Ngày nay võ nghệ thành tài, gia đình không mấy vướng bận, lần đầu xuống núi giang hồ thỏa chí nên trong lòng không khỏi có điều cao hứng. Theo lời thầy dặn, chàng ghé về Vĩnh Thạnh hỏi thăm dòng họ Diệp nhưng bà con trong vùng nói từ khi võ sư Diệp Đình Tòng giết quan huyện rồi dẫn vợ con bỏ trốn mấy mươi năm trước thì dòng họ cũng xiêu tán khắp nơi, tránh bị quan binh đàn hạch nay không còn ai ở Vĩnh Thạnh. Diệu bèn rời Vĩnh Thạnh theo đường núi vào Tây Sơn.

Khi ngang qua một vùng núi vắng vẻ, chợt có tiếng gầm rung chuyển cả núi đồi, một con cọp lông trắng, vằn đen to lớn từ trong bụi rậm phóng ra, hai chân trước với những vuốt nhọn vồ lấy chàng. Quang Diệu nghe tiếng gầm vội bước chéo chân né khỏi cú chộp của con cọp, động tác của chàng rất mau lẹ nhưng vì bất ngờ nên vai phải cũng đã bị vuốt cọp cào sước mấy đường, túa máu. Con cọp vồ hụt liền quay lại thật nhanh, nó lại gầm lên một tiếng rồi phóng vào chộp Quang Diệu lần nữa. Quang Diệu từ lúc sống với thầy ở Kim Sơn vẫn thường đánh nhau với cọp nên chàng rất bình tĩnh, đợi con cọp phóng gần đến nơi, chàng né vội sang bên, hai tay tung mạnh hai cú đấm thôi sơn vào bụng nó. Con cọp trúng đòn, nó lồng lên tức giận, quay vội lại tiếp tục phóng tới tấn công địch thủ.

Người và cọp cứ thế quần nhau rất lâu, Quang Diệu đầy người bê bết máu, con cọp cũng ngất ngư vì thấm đòn, miệng không ngớt gầm rống vang động cả khu rừng. Nó bước đi chầm chậm chung quanh địch thủ, như để lấy lại hơi sức, chờ cơ hội tấn công một cú tối hậu. Quang Diệu tay không phải đấu với những móng vuốt sắc nhọn của cọp nên đã rã rời, quần áo rách bươm, người bê bết máu, miệng không ngừng thở dốc, ráng trấn định tinh thần chờ đòn tấn công của con ác thú.

Bỗng có tiếng vó ngựa phi tới rất nhanh. Con cọp như biết được mình sắp có thêm địch thủ nên nó gầm lên một tiếng, phóng vút vào Quang Diệu. Vừa lúc đó một con ngựa phóng nhanh đến nơi cùng với tiếng quát trong trẻo vang lên:

–  Nghiệt súc, không được hại người!!

Một bóng vàng tung lên khỏi lưng ngựa phóng nhanh tới, ánh chớp lóe lên, thanh kiếm trong tay lao vút vào mắt cọp như tên bắn. Con cọp bất ngờ nên bị lưỡi kiếm phóng trúng vào mắt trái, nó gầm lên một tiếng đau đớn, vồ hụt người Quang Diệu. Bị đau, nó điên tiết gầm lên một tiếng rung chuyển cả núi rừng, quay lại tấn công kẻ địch mới. Người mới tới là một thiếu nữ trẻ chừng mười tám với bộ y phục màu vàng anh, trên tay vẫn còn một thanh kiếm khác, thấy con cọp phóng tới nàng liền trở bộ né sang bên, thanh kiếm trong tay đâm nhanh một đường thần tốc vào con mắt thứ hai của cọp. Đường kiếm thật nhanh và thật chính xác, con cọp rống lên một tiếng đau đớn, hai con mắt nó đã bị mù. Nó lồng lộn nhảy vồ tứ tung, thiếu nữ mau lẹ lựa thế phóng thêm mấy nhát kiếm nữa vào tai và miệng cọp, nó vùng vẫy một lúc rồi ngã qụy. Quang Diệu đứng bên ngoài nhìn mấy đường kiếm của thiếu nữ áo vàng không khỏi khen thầm: “Cô gái này trông xinh đẹp, mảnh khảnh mà đường kiếm thật xuất qủi nhập thần, chính xác và mau lẹ không tưởng nổi”.

Thiếu nữ hạ xong con cọp lo lắng hỏi:

–  Anh có sao không? Máu ra nhiều qúa.

Giọng nói nghe thanh như tiếng khánh. Quang Diệu chắp tay nói:

–  Tạ ơn cứu mạng, tôi không sao, chỉ là những vết thương ngoài da. Hiệp nữ quý tánh là chi để Trần Quang Diệu tôi ghi khắc vào lòng?

Thiếu nữ nở nụ cười thật đẹp đáp:

–  Tôi tên Bùi Thị Xuân. Ơn nghĩa gì đâu, chỉ là chuyện phải làm mà thôi, anh đừng câu nệ. Tôi có thuốc kim san đây, nên băng những vết thương lại để cầm máu.

Bèn lấy thuốc kim san ra, dùng chiếc khăn trong túi đeo bên lưng ngựa lau sạch những vết máu, sau đó rịt thuốc cho Quang Diệu. Cô thực hiện những động tác băng bó rất mau chóng và thuần thục không một chút e ngại chuyện nam nữ. Thoáng chốc mọi việc đã xong, Bùi thị Xuân mỉm cười nói:

–  Xong rồi. Tạm thời như vậy đi.

Quang Diệu lúng túng nói:

–  Đa tạ. Ơn cứu mạng thật to lớn, tôi thật không biết phải nói gì đây.

Thị Xuân bật cười khanh khách nói:

–  Đã nói đừng câu nệ rồi mà. Anh là người phương nào, sao lại đánh nhau với con ác thú này ở đây?

–  Tôi vừa chân ướt chân ráo hạ sơn, gặp người bạn tên Nguyễn Huệ giới thiệu nên định ghé Tây Sơn Hội Quán để mở rộng tầm mắt. Không ngờ giữa đường lại bị nạn, may mà có hiệp nữ đây nếu không…

Thị Xuân chận lời:

–  Lại định nói tới chuyện cứu mạng nữa phải không? Cái gì mà Hiệp nữ với Nữ hiệp thật khó nghe.

Sắc mặt Quang Diệu đã đỏ giờ còn đỏ hơn nữa, chàng ấp úng:

–  Ơ… tôi…

Bùi Thị Xuân nhìn thấy điệu bộ lúng túng của chàng trai thì cười khanh khách nói:

–  Anh cứ gọi tôi là Cô Xuân được rồi. Dễ nghe hơn.

Quang Diệu ấp úng:

–  Ơ… Tôi sao dám vô lễ như vậy được.

Bùi Thị Xuân vui vẻ nói:

–  Coi anh tướng mạo đường đường mà lại hay mắc cỡ như con gái vậy. Anh muốn đi Tây Sơn Hội Quán à? Anh Nguyễn Nhạc, Quán chủ là chỗ quen của tôi. Tôi sẽ đưa anh đi. Nhưng trước hết phải mang con cọp này cho anh Phi Vân Báo trước đã.

–  Phi Vân Báo là ai?

–  Là anh Lý Văn Bưu ở trại huấn luyện ngựa dưới kia. Chúng tôi vẫn thường đi săn cọp với nhau.

–  Thảo nào… Cô… Xuân hạ con ác thú hung dữ này thật dễ dàng.

Đang lúc hai người nói chuyện thì có tiếng vó ngựa vang lên từ xa. Bùi Thị Xuân nói:

–  Hai anh Văn Bưu và Văn Dũng tới đó.

Vừa dứt câu vó ngựa đã đến nơi. Hai chàng kỵ sĩ  phóng xuống ngựa, một người oang oang lên tiếng:

–  Chào vị hiệp sĩ này, anh tay không đã giết con cọp trắng này phải không? Thật là tay kiêu dũng, Lý Văn Bưu này xin bái phục.

Quang Diệu thấy Lý Văn Bưu mặt vuông, tai lớn, hàm râu mép cứng, rậm, đen nhánh trông thật uy hùng, tính lại bộc trực, còn Văn Dũng tướng người tuấn nhã nên có ngay hảo cảm. Chàng chắp tay đáp:

–  Trần Quang Diệu xin chào hai vị hiệp sĩ. Là … cô… Xuân đây giết nó đấy chứ không phải tôi đâu.

Người thanh niên thứ hai lên tiếng:

–  Thì ra là anh Quang Diệu. Võ Văn Dũng ở Phú Phong xin được làm quen.

Ba người hớn hở chào nhau. Bùi Thị Xuân nói:

–  Anh Quang Diệu tay không đánh con cọp nhừ tử rồi, tôi chỉ cần phóng thêm vài nhát kiếm nữa thì nó đi đời. Tặng anh đó anh Bưu.

Lý Văn Bưu cười ha hả nói:

–  Vậy tôi xin cảm ơn hai người. Cho tôi được đền ơn bằng một bữa tiệc mọn ở trang trại nhà được không? Cô Xuân này, tôi sẽ biến bộ da bạch hổ này thành một cái áo choàng cho cô, bảo đảm sẽ rất đẹp. Cô chịu không?

Bùi Thị Xuân vui vẻ nhìn Quang Diệu:

–  Chịu thì nhất định là chịu rồi nhưng còn phải hỏi ý người giết cọp trước đã chứ.

Mặt Quang Diệu đỏ lên hơn nữa, chàng vội vàng nói:

–  Không cần phải hỏi gì tôi đâu, cô Xuân cứ tự nhiên…

Nhìn vẻ bối rối của chàng thanh niên mới quen, cả ba người không khỏi bật lên tiếng cười thích thú. Bốn người tuổi tác ngang nhau nên rất dễ tương đắc. Họ gác xác con cọp trắng lên lưng con ngựa to lớn có sắc lông đỏ chói của Lý Văn Bưu rồi cùng nhau thả bộ về trang trại của Bưu ở làng Đại Khoang, Phù Cát. Quang Diệu nhìn con ngựa khen:

–  Con ngựa này thật kỳ vĩ, tôi chưa từng thấy qua bao giờ.

Văn Bưu cười nói:

–  Người Trung Hoa xưa có câu: “Nhân trung Lữ Bố, mã trung Xích Thố”. Tôi cho rằng con Xích Thố xưa cũng chỉ bằng con Huyết Long này là cùng. Nếu anh thích tôi xin tặng anh làm món quà sơ ngộ.

Quang Diệu vội xua tay:

–  Nghe cô Xuân nói biệt danh của anh là Phi Vân Báo, anh mới xứng với con thần mã này, tôi là kẻ thất phu làm sao dám nhận.

Văn Bưu cười ha hả:

–  Anh khéo nhún nhường. Tôi là kẻ thô lậu nhưng cũng hình dung ra được một khi anh ngồi trên lưng con Huyết Long Câu, tay nắm đại đao thì có thua gì Quan Vân Trường quá ngũ quan trảm lục tướng. Ha…ha… Mà anh thiện dụng binh khí gì?

Quang Diệu nghe Văn Bưu nói quá về mình, lúng túng đáp:

–  Anh đừng nói quá khiến tôi hổ thẹn. Thầy tôi có để lại cho tôi một thanh Huỳnh Long bảo đao, thầy nói có từ đời Trần.

Văn Bưu vỗ tay nói:

–  Anh thấy chưa? Đây không phải là sự tấu xảo bình thường mà là sự sắp đặt tinh vi của trời đất. Anh nhất định phải nhận con vật này mới được. Nó đã tìm đúng chủ rồi đấy.

Quang Diệu vừa định lên tiếng từ chối thì Bùi Thị Xuân đã nói trước:

–  Anh đừng từ chối nữa. Phi Vân Báo một khi đã nói thì dù trời sập cũng không thay đổi được đâu.

Võ Văn Dũng cũng thêm vào:

–  Hắn có cả một trại ngựa quý, anh không cần ái ngại.

Quang Diệu chắp tay:

–  Ba người đã nói thế, Diệu tôi xin đa tạ vậy.

Chợt thấy Bùi Thị Xuân cũng dắt ngựa đi bộ, chàng dè dặt nói:

–  Chúng tôi là bọn thanh niên đi bộ còn được, cô Xuân đâu cần phải giống chúng tôi.

Văn Bưu nghe Quang Diệu nói liền cưới lớn:

–  Anh đừng nhìn tấm thân mảnh mai của cô ấy mà cho là đào tơ liễu yếu. Cô ta thường nói không làm được như Bà Trưng, Bà Triệu nhất định không chịu đó.

Quang Diệu vội phân bua:

–  Tôi đâu dám có ý coi thường, chỉ là…

Bùi Thị Xuân nhìn thấy sự lo lắng và vẻ bối rối của Quang Diệu, không hiểu sao tính cứng cỏi, thích tranh cường với nam nhân chợt biến mất, nàng mỉm cười:

–  Thôi được, để tôi cưỡi ngựa cho anh an lòng. Các anh tản bộ nhé.

Nói rồi nhún chân tung người đáp nhẹ nhàng lên lưng con Bạch mã của mình. Văn Bưu vỗ tay:

–  Chuyện lạ xảy ra rồi!! Bỗng dưng hôm nay Nữ tướng lại chịu khó nghe lời bọn nam nhân chúng ta rồi, mà lại nghe lời một kẻ người dưng khác họ nữa chứ. Ha … ha …

Bùi Thị Xuân nghe Văn Bưu ghẹo, hai má chợt đỏ hồng thật đẹp, nàng quất chiếc roi ngựa trong tay thật mạnh nghe đến “vút” vào vai Văn Bưu. Võ Văn Dũng đi cạnh vội đưa tay bắt gọn ngọn roi, mỉm cười nói:

–  Thôi đừng nổi nóng. Tôi thấy cô dịu dàng, e lệ như lúc nãy thật là đẹp, cô nên giữ như vậy để chờ Thi Sách đến rước về chứ.

Bùi Thị Xuân mặt đỏ hơn lên vì thẹn, nàng rút mạnh cây roi về rồi đánh “vút” vào khoảng không một tiếng, thúc ngựa phóng đi:

–  Không thèm đôi co với các anh nữa.

Chỉ thoáng chốc bóng nàng và con Bạch mã mất hút sau khúc quanh. Quang Diệu ái ngại nói:

–  Các anh chọc cô ấy giận rồi.

Văn Bưu cười:

–  Anh đừng lo, chúng tôi rất hiểu nhau, tính cô ấy không hay giận hờn bởi những chuyện đùa vui vớ vẩn đâu. Nhưng mà anh phải nhớ kỹ một điều, đừng bao giờ làm cho cô ấy giận thật đấy nhé. Cả một đàn voi cũng phải cúi rập xuống khi nàng hét lên đấy.

Quang Diệu nghe nói thè lưỡi lắc đầu.

*

Nguyễn Huệ và H’Linh về tới bản Đá Vách lúc mặt trời xế bóng. Quân triều đình đã rút đi, để lại một cảnh tượng tang hoang, đổ nát cho bản làng. Tại khu nhà làng đã bị phá hủy, mấy trăm người dân bản đang tụ tập quanh những xác chết của đồng bào và lính bản tử trận sắc mặt ai cũng buồn hiu, một số người vẫn còn than khóc. H’Linh vốn được dân trong bản rất yêu thương và xem như một Thánh nữ nên khi thấy nàng quay về mọi người đều vây quanh nàng reo lên mừng rỡ:

–  Thánh nữ trở về rồi! Thánh nữ đã trở về với bản rồi!

H’Linh nóng lòng hỏi Già làng:

–  Cha mẹ tôi đâu? Họ thế nào rồi, Già làng?

Già làng lên tiếng đáp:

–  Họ đã bị quân triều đình giết hại rồi. Chúng tôi đặt xác họ ở đầu kia.

H’Linh vội vã chạy đến nơi đặt xác cha mẹ mình, nàng òa lên khóc rồi nhào xuống ôm chầm lấy xác cha mẹ nức nở không cùng. Nguyễn Huệ để cho nàng khóc một lúc lâu mới đến đỡ nàng đứng lên, an ủi:

–  Cha mẹ H’Linh đã được Yàng rước lên trời rồi, H’Linh đừng buồn nữa. Chúng ta hãy lo việc chôn cất những người đã chết. Các xác chết ở đây đã bắt đầu hư rồi.

H’Linh nức nở:

–  Ta thật có lỗi với cha mẹ ta.

–  Việc qua rồi. H’Linh có tự trách mình cũng không hơn được.

Một lúc sau tâm tình bớt xúc động, H’Linh tìm Già làng hỏi:

–  Khi nào thì chúng ta chôn cất cho họ, Già làng?

–  Ngày mai. Dân bản đã đào một huyệt mộ lớn để chôn tất cả chung một nấm mồ. Thánh nữ bấy nay đi đâu? Thánh nữ sẽ ở lại với bản làng chứ?

H’Linh gật đầu đáp:

–  Tôi ở lại đây. Sau chuyện tang ma, Già làng sai người dựng cho tôi một gian nhà bên suối Tử Tuyền nhé. Tôi sẽ ở tại đó.

Già làng nói:

–  Tôi sẽ cho người làm ngay.

Hôm sau cả bản tham dự đám tang tập thể chôn hàng ngàn tử sĩ trong một nấm mồ chung. Nguyễn Huệ hăng hái xắn tay cùng dân bản khiêng những xác chết đến huyệt mộ. Già làng nhìn thấy cách làm việc hăng say của Huệ đến độ mồ hôi, bùn đất trét lấm cả quần áo, mặt mày, ông rất vui, nói với H’Linh:

–  Những người bạn của Thánh nữ ai cũng vui vẻ, nhiệt tình.

H’Linh mỉm cười. Nàng đem một chiếc khăn lớn, vắt nước đến lau mặt cho Nguyễn Huệ, cười nhẹ nói:

–  Sao không để dân bản làm, ngươi đâu cần vất vả đến như vậy.

Huệ mỉm cười:

–  Có sao đâu. Tôi vẫn thích xắn tay làm hơn là khoanh tay đứng nhìn. Quen rồi.

Việc chôn cất vừa xong thì có một chàng kỵ sĩ trẻ cưỡi con Huyết Câu đến thăm bản. H’Linh vừa nhìn thấy chàng ta đã vội reo lên:

–  Tín Nhi. Ngươi cũng đến rồi ư? Ta thật nhớ ngươi. Ơ! Nhìn ngươi thật khác hẳn xưa kia.

Người mới đến chính là Tín Nhi, với mái tóc xỏa dài nhuốm bụi đường, quần thô, áo bạc như một phong trần lãng tử. Đặc biệt nét vui tươi yêu đời xưa giờ biến mất, trên khuôn mặt chàng, nay là một khối u buồn nặng trĩu. Tín Nhi nói:

–  Ta cũng nhớ ngươi lắm. Nghe tin bản bị tấn công, ta vội vã vượt ngàn dặm đến đây thăm ngươi. Ngươi vẫn khỏe chứ? Mọi người thế nào?

H’Linh buồn bã đáp:

–  Ta cũng mới trở về bản. Cha mẹ ta chết cả rồi. Ta thật có lỗi với họ.

Tín Nhi ngạc nhiên hỏi:

–  Chia buồn cùng ngươi. Ngươi đi đâu mà mới trở về?

–  Ta bỏ bản đi tìm Lâm ca gần một năm nay rồi. Hôm kia gặp A Nun ta mới biết bản bị tấn công. À để ta giới thiệu với ngươi người bạn mới của ta. Nguyễn Huệ, người đã cứu ta thoát chết ở vực Trầm Hương. Hai người làm bạn với nhau đi.

Nguyễn Huệ chào:

–  Tôi nghe H’Linh nói tốt về anh rất nhiều. Tôi cũng đã từng hâm mộ anh trong chiến dịch đốt kho lương năm xưa. Mong được làm bạn với anh.

Tín Nhi buồn bã nói:

–  Xin đừng nhắc lại những chuyện xưa. Chúng ta là bạn.

Huệ nói:

–  Xin lỗi đã khơi lại nỗi đau.

H’Linh nói:

–  Đi, chúng ta lên đỉnh Thạch Bích nói chuyện. Ta nhớ nơi ấy quá.

Ba người cùng nhau phóng ngựa lên đỉnh núi. Họ đứng bên nhau nhìn quang cảnh điêu tàn của bản làng, trong sắc úa của rừng thu trông càng thê lương, ảm đạm. H’Linh rơi lệ nói:

–  Chiến tranh thật ác độc. Tại sao chúng ta phải chém giết nhau mới được chứ?

Giọng Tín Nhi đầy ắp căm hờn:

–  H’Linh đã ghé lại Truông Mây rồi phải không? Nấm mồ chung ở đó còn lớn hơn ở đây nhiều lần. Hận này làm sao nguôi được.

H’Linh hỏi:

–  Từ ngày rời khỏi nơi đây ngươi đã làm gì?

–  Ta đi tìm sư phụ mới biết người đã bị thiêu chung với kho lương Phú Đăng. Sau đó nghe tin Truông Mây bị Chú Nhẫn phản bội, đầu độc anh em đến phải tan tành, ta đã đi khắp nơi tìm hắn.

Nguyễn Huệ hỏi:

–  Ngươi có tìm được hắn không?

Giọng Tín Nhi chắc nịch:

–  Chưa. Nhưng ngày nào còn sống ta nhất quyết phải tìm cho ra, đem tim hắn về tế trước nấm mồ chung của Truông Mây.

Huệ hỏi:

–  Trời đất mênh mông, nhưng lưới trời tuy thưa mà khó lọt. Ta tin ngươi sẽ tìm gặp hắn. Ngươi đã đi những đâu?

Tín Nhi đáp:

–  Nghe nói hắn được bổ một chức Tri huyện. Ta đã bắt đầu lùng tìm từ Quảng Ngãi ra đến sông Gianh. Ta sẽ tiếp tục đi từng huyện một, lật tung cả nước lên để tìm hắn cho bằng được.

H’Linh nói:

–  Ngươi có giết hắn ta, mọi chuyện cũng đã lỡ rồi, Truông Mây và nghĩa sĩ đều đã chết. Ngươi tự hành hạ mình như thế để làm gì. Coi ngươi bây giờ đâu còn là Tín Nhi vui vẻ yêu đời như lúc xưa.

Tín Nhi nhìn bạn:

–  Ngươi là Thánh nữ nơi bản rừng, ngươi không biết được lý lẽ của con người chúng ta dưới kia đâu. Xin lỗi, việc này ta không thể nghe lời ngươi được. Ngươi có chút tin tức gì về Lâm ca và đại ca Lía không?

H’Linh thở dài:

–  Không. Đi đâu cũng nghe người ta nói rằng hai người đã chết nhưng không ai biết họ chết ở đâu cả. Ta thật không tin họ đã chết. Một người tốt như Lâm ca phải được thần linh che chở, không thể chết oan uổng như vậy được.

–  Ngươi sẽ ở lại bản rừng chứ?

–  Ừ. Ngày mai Già làng sẽ dựng cho ta một căn nhà bên suối Tử Tuyền, ta sẽ ở đó cho đến trọn đời. Hai ngươi thỉnh thoảng ghé thăm ta nhé.

Nàng nhìn Tín Nhi và Nguyễn Huệ, ánh mắt đượm buồn. Cả hai chàng thanh niên đồng thanh nói:

–  Chúng tôi sẽ ghé thăm H’Linh.

H’Linh tháo thanh nhuyễn kiếm quấn nơi lưng ra đưa cho Tín Nhi nói:

–  Ngươi giữ vật này đi, của Lâm ca đó. Ta muốn quên tất cả những việc đã qua.

Tín Nhi nhận thanh kiếm, nhìn bạn bằng ánh mắt thông cảm:

–  Cũng được. Chúc ngươi an bình suốt đời. Ta sẽ ghé thăm.

***

Trong khi H’Linh, Tín Nhi và bao nhiêu người khác tìm kiếm mà không thấy tung tích hai vị thủ lĩnh Truông Mây thì trong gian nhà trúc, trên một sườn đồi cuối dãy núi Bà gần cửa Cách Thử, Trần Lâm cũng bắt đầu phục hồi lại trí nhớ của mình. Từ lúc được Lía cõng chạy trốn may gặp được ông cháu Vũ Đức và Đoan Trang cứu chữa, tuy họ đã hết lòng chăm sóc để đáp ứng lời hứa trước xác chết của Chú Lía, nhưng vết thương sau não bộ đã khiến chàng hôn mê đến năm sáu ngày liền. Vũ Đức không ngừng dùng kim châm kích huyệt để kích thích hệ thần kinh, nhờ vậy, tuy tình trạng hôn mê kéo dài, hệ thần kinh não bộ của Trần Lâm may mắn không bị tê liệt, nhưng dù sao cũng không tránh khỏi thiệt hại về trí nhớ. Lúc vừa tỉnh lại, Lâm như một người mất hết thần trí. Chàng quên hết mọi chuyện, ngay cả mình là ai, tên gì cũng không nhớ nổi.

Sau một tháng, các vết thương đã lành. Ba tháng sau, nhờ sự tận tình, kiên nhẫn và khéo léo của Đoan Trang, trí nhớ chủa chàng dần dà hồi phục, và phải mất một thời gian khá lâu sau đó chàng mới có thể trở lại bình thường. Trong suốt thời gian đó, Đoan Trang vì ở vào thế bắt buộc nên phải chăm sóc người bệnh, bỏ qua cả sự tỵ hiềm nam nữ, trong khi Vũ Đức thấy cô cháu ngoan của mình nay đã gặp được người xứng đáng nên trong bụng cũng mừng thầm, do đó mọi việc ông cứ đẩy mặc cho Đoan Trang lo liệu.

Với Đoan Trang, từ sự lo lắng và chăm sóc cho người bệnh, theo thời gian tình cảm cũng đã âm thầm nẩy nở trong tim. Huống chi, sự giao tiếp nam nữ bấy lâu đã khiến tấm thân xử nữ không còn trong trắng nữa, vì vậy tự trong thâm tâm, nàng coi kiếp này của mình đã thuộc về chàng trai mỹ mạo, anh hùng kia. Nhưng tình cảm càng nẩy nở trong tim, sự lo âu trong lòng nàng càng thêm lớn. Nàng sợ rằng niềm hạnh phúc đến bất chợt lần này rồi cũng sẽ như bao lần trước trong đời nàng lại bất chợt ra đi. Ai biết được cánh chim bằng kia rồi sẽ nhớ đến khung trời rộng mà tung cánh bay đi? Gẫm nhìn lại đời mình nàng càng thêm lo sợ trước bao nhiêu lần được, mất qua tay. Cho nên nàng thật muốn quên đi cái dĩ vãng đau thương và đen đủi, để những niềm bất hạnh kia không còn đeo đuổi cuộc đời mình nữa. Nàng âm thầm khấn nguyện trời cao xin đừng lấy đi niềm hạnh phúc nàng đang có trong tay như đã từng cướp đi của nàng suốt quảng đời thơ dại. Cho nên, trong vài lần ít ỏi hai người có dịp tâm sự với nhau, nàng không bao giờ nhắc đến quá khứ của mình.

Tâm tình của Trần Lâm cũng chẳng hơn gì Đoan Trang. Khi trí nhớ được phục hồi, hình ảnh nàng tiên dịu dàng, trầm lặng, đã in sâu vào tâm khảm, vào trái tim từ lâu vẫn thờ ơ với người khác phái của chàng. Sự chăm sóc ân cần, hơi ấm từ làn da mềm mại, những ngón tay êm ái, mùi hương tóc… tất cả những thứ đó kết thành một thứ thuốc tương tư đầy ma lực bất khả kháng cự, nó đã dằn vặt khiến chàng thao thức từng đêm. Nhưng sự im lặng, kín đáo của Đoan Trang khiến cho chàng đã bao lần muốn thổ lộ cũng phải ngại ngần, câm nín.

Từ lúc nghe kể lại người đại ca thân yêu của mình cắt đầu tự vận, thêm vào hình ảnh thê lương của bao nhiêu anh em nghĩa binh ngã xuống đã khiến cho cõi lòng Trần Lâm nguội lạnh như tro tàn. Bao nhiêu hào khí bồng bột ngày xưa giờ bỗng tiêu tan như mây khói. Chàng quyết định gạt bỏ quá khứ, lánh khỏi cuộc đời, gạt bỏ ngoài tai chuyện thế sự. Điều mà chàng hướng tới và mong mỏi bây giờ là một tình yêu, một mái ấm hạnh phúc của một gia đình. Những thứ đó chỉ có thể tìm được tại ngôi nhà trúc xinh xắn nhưng ấm áp đầy tình thương này. Hạnh phúc đó đối với chàng lúc này lớn lao biết bao. Lớn đến độ chàng cảm giác nó thật gần trong tầm tay, nhưng lại lo sợ không dám với tới, bởi vì chàng cho rằng mình không đủ diễm phúc để được hưởng. Từ đó mà ngại ngần, mà thầm lặng. Người ta như tiên nữ, mình chỉ lả kẻ phàm phu, mở lời sao đây!

Nhưng thời gian đã giúp cả hai. Cho đến khi họ cảm được và chấp nhận tình yêu của đối phương dành cho mình thì cũng là lúc Vũ Đức bắt đầu lâm trọng bệnh. Con tạo thật trớ trêu nên khiến xui cho cả ba người suốt một thời gian dài không một ai nhắc đến chuyện quá khứ của mình. Họ một lòng nghĩ đến tương lai, cũng chỉ vì quá khứ của cả ba đều là một chuỗi dài bất hạnh. Phải chi!!. Nếu!! Một trong ba người chịu nói!!… Oái oăm thay không ai trong ba người họ chịu nói ra. Thế gian này là vậy, bởi con tạo thật oái oăm. Sự oái oăm đó đã kết thành một mối tình oan nghiệt, đong thêm vào bể trầm luân của cõi hồng trần những suối lệ oan khiên, một thiên tình sử vừa bi thương vừa diễm tuyệt.

Một hôm chỉ có một mình Trần Lâm bên giường bệnh, Vũ Đức hỏi:

–  Ngoại nay đã tuổi đã cao, sắp đến lúc phải ra đi. Đời ngoại chỉ có mình Đoan Trang là thân thích nên muốn ký thác lại nhờ cháu chăm sóc. Ý cháu thế nào?

Trần Lâm vội nói:

–  Ngoại còn khỏe, sao lại nói chi những lời trăn trối ấy.

–  Ngoại biết rõ sức khỏe của mình. Cháu trả lời đi.

–  Dạ. Ngoại không cần nói lời ký thác, đó là bổn phận của cháu phải làm mà.

–  Ngoại không muốn nói đến chuyện bổn phận, ngoại muốn nói đến chuyện tình cảm của hai đứa.

–  Ý ngoại thế nào, con xin vâng theo.

–  Ngoại muốn trước khi nhắm mắt được chứng kiến hỷ sự của hai con.

–  Con xin vâng lời ngoại, chỉ sợ Đoan Trang..

–  Ngoại đã hỏi ý nó rồi. Tụi con chuẩn bị đi, năm hôm nữa đến rằm tháng tám, chúng ta cử hành hôn lễ.

–  Chỉ có ba người nhà mình thôi hả ngoại?

–  Chỉ có vậy. Bên ngoài họ còn treo giải thưởng ngàn vàng cho chiếc đầu của con, không nên lộ diện.

Đêm rằm tháng tám năm đó, một đám cưới nhỏ chỉ có ba người đã diễn ra. Vũ Đức làm chủ hôn thay mặt cho cả hai họ đàng trai và gái. Ông hết sức vui mừng cho sự kết hợp toàn mỹ của đôi trai tài gái sắc này. Cũng có lẽ vì sự vui mừng quá lớn đó, không lâu sau khi làm đám cưới, bệnh ông đã trở nặng hơn và qua đời. Đoan Trang than khóc khôn cùng, Trần Lâm phải an ủi mãi nàng mới nguôi ngoai. Thời gian thấm thoát, sự đau xót qua đi, niềm hạnh phúc lứa đôi kéo về tràn ngập. Từ đó họ sống êm ấm và thầm lặng bên nhau dưới mái gian nhà trúc đầy thơ mộng, tách rời hẳn thế giới loạn lạc, đầy đau khổ bên ngoài.

Khung cảnh và cuộc sống thần tiên đó còn được tô điểm thêm bởi tiếng hồng chung bên chùa Ông Núi và tiếng sáo từ làng Phương Phi mỗi chiều về vang vọng khắp không gian. Chẳng thế mà dân chúng quanh vùng Cửa Thử vẫn truyền tụng hai câu ca dao:

Chiều chiều vượn hú trên ngàn

Hồng chung Ông Núi, sáo làng Phương Phi.

***

Sau khi giúp H’Linh dựng xong gian nhà ở suối Tử Tuyền, Nguyễn Huệ và Tín Nhi từ giã nàng ra đi. Đến đường thượng đạo dọc theo bờ lũy, Nguyễn Huệ hỏi:

–  Ngươi đi đâu?

Tín Nhi đáp:

–  Xuân thu nhị kỳ ta đều ghé về Truông Mây nhang khói. Ta trở lại đó. Ngươi đi cùng ta không?

–  Đi. Ta cũng muốn ghé thăm và lạy trước nấm mồ của những trang nghĩa sĩ một lần.

Tín Nhi bèn dẫn Nguyễn Huệ đi theo con đường tắt mà chàng thường dùng lúc xưa mỗi bận lên Đác Vách. Sau hơn một năm, căn cứ địa của cuộc kháng chiến đã trở thành một khu rừng hoang dại, thành quách tan hoang, cỏ dại phong rêu, không một bước chân người. Dân địa phương dù thương tiếc những chàng nghĩa sĩ đã hy sinh cho họ, nhưng ít có ai dám ghé lên thăm vì họ đồn rằng, đêm đêm, nơi thành cũ có nhiều tiếng than khóc của những oan hồn. Tín Nhi thắp nén nhang, rưới rượu xuống đất rồi cả hai chàng thanh niên quỳ lạy trước nấm mộ khổng lồ trước kia dân địa phương đã chôn chung mấy ngàn xác chết. Ngồi trước mộ, Tín Nhi cầm bình rượu tu một hơi rồi đưa sang cho Nguyễn Huệ, giọng ngậm ngùi:

–  Người dân quanh vùng nói, đêm đêm ở đây văng vẳng tiếng khóc than của những oan hồn chưa tiêu tán. Có lẽ anh em muốn nhắc ta phải tìm cho được tên phản bội đem về tế họ, họ mới siêu thoát được.

Huệ tu một hơi rượu, trao bình lại cho Tín Nhi:

–  Ngươi một mình lặn lội, trời cao đất rộng biết ngày nào mới tìm thấy hắn. Sao không nhờ bang Hành Khất giúp một tay.

–  Có chứ. Hôm đám tang lão bang chủ Trần Kim Bằng ta có nhờ anh Tiểu Phi.

–  Phong Điền Tiểu Tử Tiểu Phi nay đã là bang chủ bang Hành Khất rồi phải không? Anh ta hiện ở đâu?

–  Ừ. Ta vừa gặp anh ấy tại cửa Hàn, chắc còn ở đó.

–  Ta sẽ ghé ra tìm gặp anh ấy một phen. Anh Nguyễn Văn Tuyết, sư đệ của Tiểu Phi đang ở trên Tây Sơn thượng.

–  Ta nghe đồn anh Nguyễn Nhạc kết giao anh hào, chiêu tập, bảo bọc cho những người cùng khổ. Anh em các ngươi đang dự tính điều gì?

–  Đất nước tang hoang, bà con đói khổ. Anh Cả muốn dựng lại một Truông Mây thứ hai ở Tây Sơn, ngươi giúp ta một tay chứ?

–  Đợi ta moi xong trái tim tên phản bội đã, ta sẽ đến tìm ngươi.

–  Lúc trước ngươi ở trong đội thám báo của Truông Mây, anh em trong đội có còn ai không?

–  Còn nhiều. Vì đa số thám báo đều nằm trong lòng đất địch nên thoát được thảm hoạ ở Truông Mây. Ngươi muốn ta kêu gọi họ trở lại phải không?

–  Nếu ngươi chịu giúp ta việc này thì còn gì quý hơn nữa. Họ tản mác cả, làm sao quy tụ họ về?

–  Bọn ta có ám hiệu riêng. Thật ra bấy lâu nay ta vẫn liên lạc với họ để truy tìm tung tích tên phản bội.

–  Ngươi có nghĩ rằng tên Chú Nhẫn kia thay vì nhận một chức Tri huyện, hắn đã xin một chức vụ khác để đánh lạc hướng tìm kiếm của nghĩa sĩ Truông Mây không?

Tín Nhi bật người dậy nói lớn:

–  Đúng rồi! Sao ta không nghĩ ra điều này nhỉ? Cái vụ chỉ thị bổ nhiệm chức Tri huyện đã bị nói lộ ra, một tên cáo già như hắn sao lại không biết. Ta thực ngu ngốc, cứ bỏ công lục tìm các tên tri huyện khắp nơi mà không chú ý đến những ngõ ngách khác.

Huệ mỉm cười:

–  Ngươi đừng tự trách. Người ngoài cuộc bao giờ cũng sáng hơn. Ta hy vọng cả toán thám báo và anh em hành khất sẽ sớm tìm ra hắn.

–  Nhất định phải tìm cho ra.

Huệ nheo mắt nhìn Tín Nhi:

–  Nếu ngươi là Chú Nhẫn, ngươi sẽ tìm đến nơi nào để an thân? Tránh được tai mắt của bọn hành khất?

–  Ta phải tìm nơi nào ít có ăn mày. Miền Nam! Đúng rồi! Miền Nam mênh mông, trù phú, lực lượng bang Hành Khất trong đó rất mỏng. Nếu là ta, ta sẽ trốn trong đó.

–  Chưa hết. Tìm một người đàn ông cố dấu mặt sẽ khó hơn tìm một người đàn bà đẹp, lại có uy quyền. Nghe nói thiếu phụ Quỳnh Dao xuất thân là một ca kỷ rất xinh đẹp, nay trở thành một mệnh phụ tất sẽ cố ý khoe khoang với mọi người. Ngươi nói cái đạo lý này có đúng không?

Tín Nhi vỗ tay đánh “bốp” một tiếng reo lên:

–  Ngươi quả nhiên là tay cơ trí. Ta chịu ngươi rồi đó.

Huệ mỉm cười:

–  Chúc ngươi thành công.

–  Ta phải cảm ơn ngươi trước.

–  Khỏi. Còn vài việc ta muốn hỏi thăm ngươi.

–  Hỏi đi.

–  Ta chưa có dịp ra miệt ngoài kia. Tình hình ngoài đó và phủ Chúa giờ ra sao?

Tín Nhi trút những giọt rượu cuối cùng trong hũ vào miệng mình rồi ném cái hũ ra xa:

–  Phủ Chúa giờ như cái hũ rượu trống không kia. Mọi thứ đều chui vào túi tên chó Quốc phó và bọn phe cánh của hắn. Sau chiến thắng Truông Mây, bọn chúng huyênh hoang nức dạ, chẳng còn coi Định Vương ra gì, mặc tình mua quan bán chức. Ngươi có bao giờ nghe trong lịch sử nước mình, một xã mà có hơn mười tên xã trưởng, mười mấy ông tướng thần đi bóp cổ dân đen thu thuế không?

–  Hừ! Quân đội thì sao?

–  Những lực lượng chủ chốt của phủ Chúa, nhất là phủ Quy Nhơn hầu hết đã bị tiêu diệt trong cuộc chiến với Truông Mây. Đám lính mới bây giờ được bổ sung đa số là thanh niên con nhà cùng đinh khố rách, hoặc lính già, lính kiểng. Đám lính đó cộng với đám quan dốt và chết nhát, hám lợi bây giờ, chỉ cần mình la ó rùm beng lên là đủ rượt chúng chạy cong đuôi rồi, khỏi cần đánh đấm mẹ gì cả.

–  Bây giờ nhìn lại cuộc chiến đã qua, ngươi có những kinh nghiệm gì?

Tín Nhi ngậm ngùi thở dài:

–  Ta là người gần gũi với Lâm ca, lúc ấy vì sợ anh em nản lòng nên Lâm ca không dám nói ra, nhưng có lần anh ấy than thở với ta rằng Truông Mây không được thiên thời. Bao nhiêu lần, cơ thắng lợi trong tầm tay thì trời lại phá hỏng. Chủ trương của Đại ca Lía lại quá nhân từ, dang tay quá rộng để cưu mang đồng bào nghèo khó. Nhưng điều quan trọng nhất là binh lực của phủ Chúa hùng hậu hơn sự đánh giá của Truông Mây. Thêm vào đó sự cố đốt phủ Quy Nhơn gây nên chiến tranh sớm hơn dự tính, do đó Truông Mây chưa đủ thực lực.

–  Theo ngươi tình hình bây giờ thế nào?

–  Trái cây đã chín muồi, ngươi không ăn, kẻ khác sẽ giành mất.

–  Nghe nói Vô ảnh phi đao của Triệu Thiên Tường là tuyệt đỉnh võ học của dòng dõi danh thần Lê Sát, ở Truông Mây có ai học được không hay đã thất truyền?

Tín Nhi buồn bã đáp:

–  Ta. Tường ca thấy ta có hai bàn tay khéo, bàn tay móc túi mà, nên đã truyền lại bí quyết phi đao cho ta. Trước khi lên đường đi Đá Vách xin viện lương, Lâm ca lại dạy cho ta một bài “Cái thế thần côn” và tặng ta cây roi thật quý. Ta may mắn nhận được bao điều tốt lành của anh em ban cho, vậy mà chỉ một tên phản bội cũng không tìm ra được để an ủi linh hồn của họ. Thật vô dụng.

Huệ vỗ vai bạn an ủi:

–  Ngươi đừng buồn. Ngươi đã cố gắng hết sức mình. Mà ta tin ngươi sẽ tìm ra tên phản bội đó một ngày gần đây.

–  Sao ngươi lại hỏi về môn Vô ảnh phi đao?

–  Ta sợ tuyệt học của nước nhà bị thất truyền. Về sau, nếu có điều kiện ta muốn thống nhất nền Việt Võ Đạo thành một mối, có hệ thống đàng hoàng để có thể đối kháng với võ học Trung Hoa.

–  Mới quen nhưng ta biết ngươi là người có đại chí. Ta sẽ giúp ngươi tất cả những gì ta có thể. Ngươi thiện dụng binh khí gì?

–  Món nào ta cũng sờ được cả.

–  Ta đã có cây nhuyễn kiếm, tặng lại ngươi cây roi của Lâm ca. Ngươi quấn ngang lưng, rất tiện dụng.

Bèn rút cây roi quấn quanh người ra đưa cho Nguyễn Huệ. Huệ cầm cây roi mềm mại như nhuyễn tiên, vận công vào, cây roi bỗng cứng lên như sắt nguội. Chàng thích thú nói:

–  Cây roi thật quý. Cảm ơn ngươi.

–  Ta còn một kho binh khí cổ của sư phụ sưu tầm mấy mươi năm qua, ta sẽ tặng ngươi để sử dụng trong quân sau này. Ngươi có thể dùng nó làm giải thưởng trong các kỳ khảo hạch tướng sĩ.

Huệ mừng rỡ nói:

–  Thật ư? Ngươi cất ở đâu?

–  Trong một hang động ở Trưng Sơn, gần nhà của ngươi.

Tín Nhi bèn chỉ đường cho Huệ, xong nói:

–  Ngươi cứ tự tiện sử dụng. Ở đó có đủ thập bát ban binh khí, món nào cũng giá trị liên thành cả đấy.

–  Ta có nghe thầy ta nói về cái thú sưu tầm binh khí cổ của sư phụ ngươi. Thật là một thú chơi hiếm có trên thế gian. Sao lúc trước thầy ngươi không đem tặng các tướng lĩnh Truông Mây?

–  Ta cũng không hiểu. Có lẽ vật quý phải chờ đúng chủ mới xuất hiện. Bây giờ ngươi theo ta, ta còn một món quà nữa tặng ngươi.

Cả hai lên lưng ngựa, Tín Nhi đưa Nguyễn Huệ vào sâu trong núi phía sau thành Truông Mây. Đến một vách núi nơi có một tảng đá lớn, cả hai xuống ngựa, Tín Nhi tung người nhảy lên đỉnh tảng đá, Huệ nhảy lên theo. Phía sau tảng đá là một cửa động nhỏ, cả hai nhảy xuống rồi len vào. Bên trong là một hang động vô cùng lớn, ánh sáng từ một khoảng trống ở đỉnh bên trái chiếu xuống khiến lòng động sáng rỡ. Nguyễn Huệ giật mình khi nhìn thấy hàng trăm lò rèn lớn, nhỏ đủ cỡ, rất nhiều binh khí chưa rèn xong còn nằm cạnh các lò. Tín Nhi dẫn Nguyễn Huệ vào sâu hơn, ở đây chứa hàng ngàn binh khí đủ loại, kiếm, đao, thương, câu liêm… Tín Nhi nói:

–  Đây là nơi rèn vũ khí của Truông Mây, may mắn quân triều đình không phát hiện ra. Giao lại cho ngươi.

Nguyễn Huệ cầm thử một vài binh khí lên coi, nước thép rất tốt, kỹ thuật rèn rất tinh xảo. Chàng không dấu được nỗi vui mừng và cảm động, nắm tay bạn nói:

–  Với ngươi không thể nói tiếng cảm ơn. Được, ta dẫu nát thân cũng không phụ lòng ngươi.

Tín Nhi cười:

–  Lời nói đó hơn hàng vạn tiếng cảm ơn.

–  Kho binh khí không bị phát hiện, anh em thợ rèn chắc không hề gì chứ?

–  Sau khi Truông Mây tan nát họ tản mát khắp nơi, nhưng người lò trưởng Hồ Thiết Thủ thì ta biết hiện ở đâu.

–  Tốt quá, ta muốn gặp ông ta.

–  Ta đưa ngươi đi.

……………………….

(xem tiếp vào thứ ứbảy tuần sau – 3-10-2015)