Kỳ 177:

…………..

Cả hai trở lại lạy ngôi mộ lần nữa rồi giục ngựa qua đèo Màn Lăng để xuống Phù Ly. Cuối con phố chính gần huyện thành là một lò rèn khá lớn, cả hai dừng ngựa trước cửa, nhảy xuống bước vào. Người đàn ông thân vóc to lớn, lực lưỡng, ở trần trùi trụi đang cắm cúi trui thanh sắt trong lò, nghe có tiếng ngựa dừng trước cửa liền quay lại. Nhận ra người mới đến, ông vội quăng thanh sắt đang đỏ hồng xuống đất chạy ra, hai bàn tay to lớn, xam xám như thép nguội ôm chầm lấy vai Tín Nhi, giọng ồ ồ mừng rỡ:

–  Tín Nhi. Nửa năm nay cháu đi đâu sao không thấy ghé thăm chú. Khỏe chứ? Mọi việc ra sao? Vào đây. Bạn mới à?

Tín Nhi cười đáp nhỏ:

–  Dạ, nửa năm nay cháu lo đi lùng tên phản bội nên không ghé thăm chú được. Đây là Nguyễn Huệ, bạn của cháu.

Huệ chào:

–  Cháu xin chào chú Thiết Thủ. Tín Nhi không hết lời khen ngợi chú về cái tài biến sắt vụn thành đao quý, kiếm báu, nên cháu muốn ghé thăm cho biết mặt cao nhân.

Thiết Thủ cười hề hề, giọng diễu cợt:

–  Tài nghệ gì đâu, cao nhân con mẹ gì nữa. Tan nát hết rồi. Giờ chỉ cần kiếm đủ hai bữa cơm rau muối và một hũ rượu đế cho qua ngày tháng là vui rồi.

Tín Nhi hỏi:

–  Mấy anh em khác đâu rồi chú?

–  Thằng Ba Lực qua mở một lò bên Bồng Sơn, thằng Tư Lửa thì dô mở một lò ở phủ thành gần chợ rượu Phú Đa. Nó là thằng hám rượu mà, nó nói mở gần chợ rượu, ngắm mấy cô hàng rượu, hít mùi rượu cho đỡ thèm. Hề…hề… Còn thằng Năm Sức thì ở đây phụ tao, nó vừa đi đâu đó không biết.

–  Lúc nãy ngang qua tiệm rượu đầu phố cháu có mua một vò lớn Bàu Đá hạng nhất và ba con gà nướng. Chú cháu mình làm một bữa cho ấm cái ngày chớm Đông nghen chú.

Thiết Thủ cười hề hề nói:

–  Thằng nhỏ mày lúc nào cũng biết tâm ý người khác. Hề… hề… Bây giờ mà trời có sập tao cũng xin ổng ráng chờ tao uống hết hũ Bàu Đá và xực hết mấy con gà nướng đã rồi sập sau. Hề…hề…

Rồi đi nhanh vào trong mang chén bát ly muỗng ra chiếc bàn gỗ để ở chái nhà bên phải. Tín Nhi rót rượu ra ba cái chén mời:

–  Mời chú. Chẳng biết uống mừng cho cái gì đây. Cho sức khỏe của chú vậy. Hì…hì…

–  Tao thì lúc nào cũng khỏe như voi đâu cần uống mừng. Mừng gặp người bạn trẻ này đi.

Huệ nói:

–  Cảm ơn chú. Mừng được biết chú.

Rượu hết vài tuần, Thiết Thủ hỏi:

–  Không có tin tức gì của Đại ca và Quân sư sao? Cả tên phản bội nữa?

Tín Nhi buồn bã đáp:

–  Không. Không một ai biết cả. Thật lạ kỳ.

Thiết Thủ thở dài, hậm hực:

–  Trời cao không có mắt. Người tốt, kẻ có lương tâm thì chết oan chết uổng, chết tức chết tối, còn những thằng khốn nạn, vô lương lại sống phè phè trên nhung lụa, trên sự đau khổ của đồng bào. Thật giận đến bể hông, trào máu. Lão tặc thiên mù mẹ nó hai con mắt rồi. Cả cái luật nhân quả của ông Phật nữa, sai be sai bét, sai tới phát ghét.

Tín Nhi nói giọng tự tin:

–  Chú yên tâm. Cháu thề sẽ mang trái tim tên phản bội về đây để cùng chú và anh em đem tế trước mồ Truông Mây. À! Chú nhắc đến luật nhân quả cháu mới nhớ.

–  Nhớ gì?

–  Lúc trước cháu cũng nghĩ như chú vậy, nhưng hôm kia tình cờ gặp một vị sư ông trong một động đá ở Quảng Ngãi, cháu hỏi vì sao người tốt như Lâm ca và Lía đại ca lại gặp kết quả bi thảm như thế, ngài giảng giải sự huyền vi trong luật nhân quả ở đời, cháu mới hiểu ra.

Huệ hỏi:

–  Huyền vi thế nào?

Tín Nhi đáp:

–  Sư ông nói, tao ngộ hôm nay của con người phần lớn do nghiệp dĩ người đó mang theo từ kiếp trước. Những đau khổ và bất hạnh đời này đều là kết quả của ác nghiệp từ kiếp trước họ đã tạo ra, nay phải trả.

Thiết Thủ uống hết bát rượu đặt mạnh xuống bàn lớn tiếng cãi:

– Sai bét, sai bét. Người tốt như Đại ca và Quân sư thì kiếp trước không thể nào là người xấu được. Ông sư đó ở đâu, tao sẽ tới đó nói cho ổng nghe. Sai bét.

Tín Nhi mỉm cười:

–  Trong một hang núi ở Mộ Hoa, Quảng Ngãi. Chú chưa tin thì đến đó gặp sư. Một người tu hành, đạo hạnh như sư ông mà còn gặp đại họa thì Lía đại ca và Lâm ca đã là gì.

Huệ hỏi:

–  Sư ông đó gặp đại họa gì?

–  Sư chính là Sư tổ của Lía đại ca. Hôm trước ngày cả nhà Lía đại ca bị thảm sát, sư đã bị bọn Trương Phúc Loan hạ độc thủ, may nhờ nội công cao cường nên đã vận công ép độc xuống chân, tuy thoát chết nhưng cả nửa thân dưới đã bị hư thúi, không di chuyển được. Vì thế sư chỉ ăn rau cỏ quanh động để sống.

–  Thật ư? Thiết Thủ trợn mắt hỏi. Sống như thế sao bằng chết?

–  Sư nói tai họa đời này là món nợ mà sư đã vay lúc trẻ nên phải sống đọa đày như thế để trả cho hết, hầu giảm bớt nghiệp chướng cho kiếp sau.

Huệ hỏi:

–  Lúc trẻ ông ấy vay nợ gì?

–  Nợ tình. Thời trẻ, sư nổi danh là Ngũ Tuyệt Thư Sinh, cầm kỳ thi họa kiếm tuyệt. Vì một chút bất cẩn ông đã khiến vợ con bỏ đi, suốt đời không tìm lại được. Lúc đó ta mới biết con ông ấy chính là chú Lê Trung và Ngọc Lan Hương, mẹ của chị Cao Tiểu Hồng.

Thiết Thủ hỏi:

–  Như vậy theo cháu thì Đại ca và Quân sư, kiếp trước là người xấu à?

–  Cháu không biết. Theo sư ông giảng dạy thì người tốt gặp tai họa trong kiếp này cũng có thể là để tạo thiện nghiệp cho kiếp sau. Những người như Đại ca và Lâm ca kiếp sau sẽ gặp thiện duyên, cuộc sống an lành.

Huệ hỏi, giọng có chút châm biếm:

–  Sư ông có khuyên ngươi đừng trả thù cho Truông Mây không?

Tín Nhi mỉm cười đáp:

–  Ta có hỏi sư ông điều này, sư bảo kẻ gieo gió, sẽ gặt bão. Nếu ta không tìm giết hắn, kiếp này hắn cũng sẽ phải trả vì món nợ hắn vay quá lớn.

Huệ mỉm cười:

–  Nhưng ngươi muốn chính tay giết hắn hơn là để cho kẻ khác đúng không?

Mắt Tín Nhi long lên ánh căm hờn:

–  Đúng vậy. Không một ai có thể khuyên can hay ngăn cản ta làm việc này.

Huệ gật đầu:

–  Ta đọc được sự quyết tâm này khi mới gặp mặt ngươi.

Thiết Thủ uống một hơi cạn một chén rượu, thở dài:

–  Hà!! Dù gì thì cũng thật đáng thương và thật đáng tiếc!

Tín Nhi hỏi:

–  Đáng tiếc điều gì chú?

–  Từ khi thất thủ, rút tỉa kinh nghiệm máu xương đó, chú đã cố nặn óc tìm ra một thứ vũ khí sao cho thuận tiện trên mọi chiến trường, ít có thể thắng nhiều, đánh xa, đánh gần, công thành, phá lũy, trên bộ dưới nước đều được, nhưng nghĩ lại có tìm ra thì giờ cũng vô dụng nên lại bỏ đi. Nghĩ tiếc mãi.

Ánh mắt Nguyễn Huệ chợt ngời lên, chàng nhìn Tín Nhi. Tín Nhi hiểu ý bèn rót một chén rượu đầy đưa cho Thiết Thủ hỏi:

–  Nếu có chỗ dụng, chú còn đủ nhiệt huyết như ngày xưa để chế tạo binh khí nữa không?

Thiết Thủ uống một hơi cạn chén rượu, khà một tiếng xòe hai bàn tay màu thép xám ra đáp:

–  Chỗ dụng gì? Ai dụng? Nếu dụng vì chính nghĩa, vì quê hương, vì bá tánh thiên hạ thì dẫu còng lưng ta cũng còn có đủ nhiệt huyết như thường.

Tín Nhi cười hì hì nói:

–  Vậy thì chú cứ tiếp tục suy nghĩ để sáng chế ra món vũ khí lợi hại đó đi. Không lâu nữa, cháu sẽ đến tìm chú và nói rõ ai dụng và dụng cho cái gì. Chú cứ tin cháu đi.

–  Cháu thì chú tin chắc rồi, nhưng…

–  Còn nhưng với nhị gì nữa. Chú hứa với cháu đi. Đây, ly rượu này chúng ta uống cho lời hứa đó nhé.

Nói xong Tín Nhi rót rượu ra ba chén. Thiết Thủ cười hề hề nói:

–  Được, thằng nhỏ mày tính láu vẫn bám chặt hai cái môi. Chú hứa. Ba tháng sau cháu trở lại đây.

Tín Nhi cười:

–  Sang xuân cháu sẽ trở lại. À, chú có biết những anh em khác trong tổ nay ở đâu không?

–  Cháu muốn gọi họ trở lại à?

–  Dạ. Chú tập hợp họ lại được không?

–  Được. Khi cháu trở lại sẽ có tin. Tụi cháu định làm gì? Về lại Truông Mây à?

Tín Nhi cười:

–  Dạ. Nhưng không phải Truông Mây mà là Tây Sơn. An Khê!

Thiết Thủ vỗ đét vào đùi thật mạnh nhưng lại nhỏ tiếng:

–  Thì ra! Hèn chi lúc này trong dân chúng cứ rì rầm câu sấm: “Tây khởi nghĩa, Bắc thu công”, và tiếng đồn Tây Sơn tụ nghĩa, kêu gọi anh hào và bà con nghèo khó về trên đó nương thân. Cháu Huệ đây là…

Huệ vội đáp:

–  Cháu ở trên đó. Mời chú ghé lên chơi một chuyến cho biết rừng núi Tây Nguyên.

–  Được. Khi nào Tín Nhi trở lại, chú sẽ lên thăm. Để chú tặng hai đứa cái này. Đáng giá liên thành đó.

Dứt tiếng ông đứng dậy vào trong lấy ra hai thanh trủy thủ, bao bằng da trâu, đưa cho hai người, giọng trịnh trọng:

–  Năm ngoái có một cú sét rất lớn đánh xuống vùng núi Lạc Phụng, tao thấy lạ tìm tới nơi xem, lấy được một thỏi sắt đen. Tao mừng quá liền mang về nhà bỏ ra ba tháng trời rèn, luyện, còn phải dùng máu của thằng Năm Sức tưới vào  mới ra được hai thanh trủy thủ này. Hai đứa thử xem.

Hai chàng trai rút thanh trủy thủ ra, nước thép đen ngòm, bóng lẫy. Tín Nhi cầm con dao cắt thịt gà trên bàn, dùng thanh trủy thủ chém nhẹ một phát, con dao đứt tiện như cộng rau muống. Cả hai trợn mắt reo lên:

–  Bén thật. Kiếm báu. Chú đúng là cao nhân trong nghề rèn kiếm thời nay rồi.

Thiết Thủ cười hề hề:

–  Cao nhân con mẹ gì. Đừng có nịnh tao. Hai đứa dắt vào ống giày phòng khi hữu sự.

Nguyễn Huệ nói:

–  Ngày xưa danh tướng Cao Lỗ đã rèn ra thanh Ô Long đao và Thanh Long kiếm, nay chú Hồ Thiết Thủ rèn hai thanh đoản kiếm, chú đặt cho chúng một cái tên cho oai chứ chú.

Thiết Thủ nói:

–  Tao chỉ biết thổi lò đập búa chứ chữ nghĩa gì mà đặt tên, cháu coi bộ thông tuệ, muốn đặt gì thì cứ đặt đại đi.

–  Vậy cháu gọi chúng là Thiết Phụng Hoàng song kiếm nghe chú.

Thiết Thủ vỗ hai bàn tay thép vào nhau đánh bốp một tiếng cười ha hả nói:

–  Hay! Bây giờ hai đứa, mỗi đứa là một con Phụng Hoàng, ráng bay cao lên nhé.

Ba người uống sạch vò rượu mới chia tay. Ra đến quan lộ, Nguyễn Huệ nhìn Tín Nhi, giọng trịnh trọng:

–  Mình chia tay. Mong ngươi sớm trả được thù cho anh em Truông Mây. Tây Sơn mở cửa chờ ngươi và những anh em thám báo của ngươi. Ta chờ ngươi.

Tín Nhi đánh tay với Nguyễn Huệ giọng trịnh trọng không kém:

–  Ta nhất định sẽ lên Tây Sơn tìm ngươi.

*

Chia tay nhau, Tín Nhi với con Huyết Câu dong rủi vào Nam, Nguyễn Huệ cùng con Ô Truy lên đường ra Quảng Nam, xuống cửa Hàn tìm Tiểu Phi. Phân đà này của bang Hành Khất chính là trại mồ côi của Đinh Hồng Liệt năm xưa giao lại. Sau hai mươi năm, khu trại nay đã trở thành một làng nhỏ với gần năm trăm nóc nhà tranh, nơi dung nạp những người ăn mày lang bạt. Huệ tìm đến gian nhà chính, là nơi bang Hành Khất dùng làm trụ sở phân đà. Tiểu Phi nghe anh em báo có người tìm vội ra đón, gặp lại Nguyễn Huệ, chàng mừng rỡ:

–  A, chú Huệ. Ngọn gió lành nào thổi chú ra đây tìm tôi vậy? Xem nào, mới đây mà đã trở thành một chàng thanh niên đường đường lẫm liệt thế này rồi.

Huệ cười nói:

–  Chào anh Tiểu Phi. Tưởng anh trở thành bang chủ đã quên thằng nhỏ này rồi chứ?

Tiểu Phi ôm vai Huệ nói:

–  Chú tưởng tôi là loại người như vậy sao? Ra đây có việc gì không?

–  Em chỉ nói đùa cho vui thôi. Ra thăm anh. Cũng có chút chuyện muốn bàn. Sao hôm đám tang ông nội anh không vào?

–  Việc này làm tôi bức rức mãi, nhưng lúc đó sư phụ tôi đang bệnh rất nặng. Giờ thì cả hai đã về cõi Phật cả rồi. Văn Tuyết đang ở chỗ chú hã?

–  Dạ. Từ sau khi ảnh về dự đám tang ông nội. Giờ ảnh đang lo cai quản bọn bạt mạng trên Tây Sơn thượng.

–  Vậy là đúng nghề của hắn rồi. Còn cô bé vui tính Thi Lan?

–  Cô ấy qua Xuân Huề theo chị Bùi Thị Xuân học làm Bà Trưng, Bà Triệu rồi.

Tiểu Phi cười:

–  Chú lúc nào cũng có cách chọc thiên hạ. Anh Nhạc và chú Lữ khỏe chứ? Vào đây, anh em ta nói chuyện.

Huệ theo Tiểu Phi vào bên trong. Gian nhà bày biện rất đơn sơ. Tiểu Phi hỏi:

– Chú có việc gì muốn bàn?

Huệ nói:

–  Trước hết em muốn hỏi anh, chí hướng của anh lúc trước giống với ông nội và thầy em hơn là sư bá phải không?

–  Đúng vậy. Gì nữa?

–  Nay anh là bang chủ, anh sẽ đưa hoạt động của bang theo hướng cũ của sư bá hay theo chí hướng của riêng anh?

Tiểu Phi nhìn Huệ mỉm cười:

–  Chú muốn bang Hành Khất về giúp cho Tây Sơn phải không?

–  Dạ. Anh nghĩ sao?

Tiểu Phi trầm ngâm:

–  Sư phụ cho đến lúc nhắm mắt vẫn căn dặn tôi cố giúp cho phủ Chúa quang phục lại thời hưng thịnh cũ. Chí hướng của tôi có khác sư phụ, nhưng phận làm đệ tử nhận lấy lời ủy thác của thầy khiến tôi khó xử vô cùng. Chú vẫn là người lanh trí nhất, chú nghĩ tôi nên làm thế nào cho phải?

–  Em thông cảm với sự khó xử của anh. Nếu anh muốn vẹn cả hai đàng, chúng ta có thể chọn cách trung hòa.

–  Trung hòa là thế nào?

–  Là bang Hành Khất không giúp Tây Sơn bằng nhân lực, nhân mạng, chỉ kín đáo giúp bằng trí lực mà thôi.

–  Có nghĩa là chúng tôi sẽ làm tai mắt cho chú?

Huệ cười:

–  Làm tai mắt cho Tây Sơn chứ không phải em.

Tiểu Phi cũng phì cười:

–  Ừ, thì cho Tây Sơn, đúng không?

–  Đúng vậy. Với nhiệm vụ đó, bang Hành Khất cũng đã đóng góp một phần to lớn trong cuộc đấu tranh cứu đồng bào thoát khỏi cảnh đói khổ này rồi.

–  Được. Tôi và anh em rất sẵn sàng. Để tôi chỉ chú cách huấn luyện phi vũ truyền thư. Chúng ta liên lạc nhau bằng cách ấy, rất nhanh và rất tiện.

Huệ mừng rỡ nói:

–  Tốt không còn gì bằng. Em nhất định sẽ học cho được. Anh có tổ truyền tin này chứ?

–  Có chứ. Khá đông.

–  Anh gởi lên Tây Sơn cho em một số anh em được không?

–  Cần gì. Để tôi bảo Tín Nhi lo cho vụ này. Bọn thám báo của nó, ai cũng rành về chuyện này. Chú biết Tín Nhi chứ?

–  Bọn em mới chia tay nhau. Hắn đang lo lùng sục cho ra tên Chú Nhẫn nên chưa giúp em được lúc này.

–  Hắn là một con người rất mực chí tình. Vậy để tôi đưa một số anh em trong ban truyền tin lên Tây Sơn trước cũng được.

–  Anh cứ bảo họ lên Tây Sơn thượng gặp anh Tuyết. Việc tổ chức huấn luyện để anh ấy lo.

–  Còn gì nữa không?

–  Còn một việc nữa. Nhờ anh cho anh em trong bang bí mật rao truyền rộng rãi câu sấm ngôn “Tây khởi nghĩa, Bắc thu công” và hô hào bà con lên Tây Sơn tụ nghĩa.

–   Được. Còn gì nữa không? Anh em lâu ngày gặp nhau cũng phải uống vài bầu cho đáng mặt nam nhi chi chí chứ?

Huệ nắm hai tay lại cười nói:

–  Tiểu đệ sẵn sàng bồi tiếp đại huynh.

Cả hai cười xòa bày cuộc rượu.

*

Rời phân đà Cửa Hàn, Nguyễn Huệ lại giục ngựa đăng trình vào Quy Nhơn. Trời đã sang đông, mưa lất phất bay, gió bấc se sắt lạnh. Hình ảnh những xóm thôn xơ xác, những thân người ăn mày còm cõi, co ro trên những hè phố, những xác người chết đói rải rác dọc hai bên quan lộ trông thê thiết làm sao! Qua đò Trà Khúc, phía xa xa, thấp thoáng sau làn mưa mỏng và khói sóng biển Đông, hình ảnh Cổ Lũy Cô Thôn trong buổi chiều đông càng thêm cô tịch đìu hiu. Tâm tình chàng trai trẻ chợt chùng xuống bởi một khối ưu sầu và rồi bầu nhiệt huyết như được đun sôi lên. Chàng quất mạnh cây roi trong gió, con Ô Truy cất cao bốn vó phóng như bay dưới cơn mưa, ngốn mấy trăm dặm đường dài.

Kỳ Sơn là dãy núi có hai ngọn thuộc xã Phước Sơn, huyện Tuy Viễn, nằm phía đông thành Đồ Bàn như một lá chắn thiên nhiên bảo vệ mặt đông thành. Núi tuy không cao nhưng địa thế hiểm trở rất tiện lợi cho việc dụng binh. Từ thời Chiêm Thành đến các đời chúa Nguyễn đều có đặt trọng binh nơi đây tiếp trợ cho cửa biển Quy Nhơn.

Ngọn phía nam dãy núi là Kỳ Sơn, ngọn phía bắc đến đèo Cao gọi là Phụng Sơn. Bao bọc chung quanh núi là những cánh đồng lúa bạt ngàn, dân cư trù phú. Xa xa ở phía Đông, hòn Xương Cá lởm chởm đá dăm nằm trơ trọi giữa cánh đồng trống trải, nơi mà thuở khai thiên ông Khổng lồ đã bắt hết cá trong đầm Hải Hạc ăn xong bỏ xương lại thành núi.

Nguyễn Huệ tìm đến sơn trang của Kỳ Sơn Tiều Hiệp Võ Thăng vào một buổi chiều trọng đông, lạnh buốt. Vừa dừng ngựa trước cổng sơn trang chàng đã nghe có tiếng cười nói từ một gian nhà trúc mé đông vọng lại, sau đó có tiếng người ngâm thơ:

Đông ba diễm diễm thu phong vãng

Đảo ảnh tây tà cô nguyệt quang

Hào khí vô thời quân tử hận

Lâm tuyền bán túy độc ca xang

Và những tiếng vỗ tay vang lên hòa với tiếng cười. Nguyễn Huệ nghe ý thơ biết ngay người ngâm là tay hào kiệt đang ẩn nhẫn chờ thời thì trong bụng mừng thầm. Chàng ngồi trên ngựa  lớn tiếng ngâm:

…Lỗ Thánh khấp lân tri mệnh hỷ

Sở Cuồng ca phượng thức thần hô

Tuy nhiên dụng xả phi do ngã

Tự thị hành tàng khước tại ngô[1].

Dịch:

…Khổng Tử khóc con lân vì đã biết mệnh trời

Sở Cuồng hát về chim phượng là thức thời chăng

Tuy nhiên việc dùng hay không đâu phải do ta

Từ đây ra giúp đời hay ở ẩn mới thật tại ta.

Tiếng ngâm vừa dứt đã có tiếng người từ trong gian nhà trúc vang lên:

–  Giữa lúc lạnh giá thế này không ngờ nơi núi rừng hẻo lánh lại có bậc kỳ sĩ giá lâm. Thật hân hạnh lắm thay.

Rồi một người đàn ông tuổi dưới ba mươi từ trong nhà bước ra. Huệ nhận ra chính là Kỳ Sơn Tiều Hiệp Võ Thăng, chàng vội nhảy xuống đất chắp tay xá chào:

–  Đường đột xông vào làm mất nhã hứng của những bậc tao nhân, thật có lỗi vô cùng.

Võ Thăng trong dạ đinh ninh người ghé thăm sẽ là một văn nhân tao khách không ngờ lại là một chàng hiệp sĩ rất trẻ, áo bạc phong trần nên thoáng giật mình:

–  Không sao, không sao. Quý khách quang lâm là điều vinh hạnh cho tệ xá. Xin mời vào trong uống một chung rượu cho ấm dạ trước đã.

Nguyễn Huệ ôm quyền nói:

–  Đã vậy tiểu đệ mạn phép quấy rầy.

Võ Thăng đưa chàng vào bên trong, bốn người đàn ông đang có mặt nơi bàn rượu vội đứng lên chào. Cả bốn người tuổi trạc trên dưới ba mươi, người trẻ nhất chính là Phan Sinh, người đi cùng với Trần Lâm ở anh hùng đại hội dạo nọ. Huệ lên tiếng trước:

–  Tiểu đệ Nguyễn Huệ ở Tây Sơn tình cờ ngang qua đây nghe tiếng ngâm thơ biết chư huynh trưởng là bậc hào kiệt chưa gặp thời nên đường đột ghé vào mong được diện kiến. Xin thứ cho.

Võ Thăng rót rượu ra các chung mời mọi người:

–  Xin mời tất cả một chung sơ ngộ. Tiểu hiệp sĩ tuổi còn trẻ mà khí phái bất phàm, Võ Thăng tôi rất lấy làm hân hạnh được kết giao, sao dám nói lời trách cứ. Để tôi giới thiệu, vị này là Diệu thủ Phan Sinh ở Phương Phi, người đã cao ngâm bài thơ lúc nãy, còn ba người này là anh họ của tôi, Võ Thục, Võ Chất ở Nhạn Tháp và Võ Triệu ở Phước Hòa.

Nguyễn Huệ chắp tay xá dài:

–  Rất hân hạnh được biết Võ gia tứ huynh đệ. Phan huynh thì tiểu đệ đã gặp qua ở đảo Phương Mai trong kỳ anh hùng đại hội.

Phan Sinh như sực nhớ ra liền reo lên:

–  Anh có phải là chàng thiếu niên đi cùng Phong Điền Tiểu Tử Tiểu Phi và Thiết Tý Trần Kim Hùng lão võ sư không?

Huệ mỉm cười đáp:

–  Lúc đó đệ còn nhỏ xíu mà Phan huynh vẫn còn nhớ, thật là hi hữu.

Võ Thăng hỏi:

–  Vậy ra tiểu huynh đệ có tham dự đại hội anh hùng dạo nọ?

Huệ đáp:

–  Dạ có. Cho nên đệ hâm mộ phong cách cũng như tài nghệ của Võ huynh, từ lâu vẫn ao ước được quen biết để học hỏi, nay mới mạo muội ghé thăm.

Võ Chất vốn người giỏi văn chương nên hỏi:

–  Bài thơ huynh đệ vừa ngâm lúc nãy ý tứ thật cao siêu, đúng là tuổi trẻ tài cao.

Nguyễn Huệ vội xua tay:

–  Ố, không! Không phải! Đó là phần sau bài thơ Tự thuật của Ái Trúc Trai Ngô Thế Lân, bạn của gia sư. Đệ vì nghe bài thơ lúc nãy hàm chứa một hoài bảo lớn mà chưa gặp thời  nên ứng tiếng đọc lên để tán tụng thêm cái thanh cao của những kẻ sĩ sinh bất phùng thời mà thôi.

Võ Thục hỏi:

–  Chẳng hay thầy của huynh đệ là ai?

–  Thầy đệ là Giáo Hiến ở An Thái.

Phan Sinh hỏi ngay:

–  Có phải là Trại Ức Trai Trương Văn Hiến ngày xưa phá tan âm mưu chiếm Cù Lao Phố của Lý Văn Quang không?

Huệ đáp:

–  Chính là người. Nhưng từ khi vào An Thái mở trường, người không muốn nhắc đến chuyện xưa nữa.

Võ Chất vẻ mặt hớn hở nói:

–  Thì ra là cao đồ của Giáo Hiến, thảo nào văn võ toàn tài.

Huệ hỏi:

–  Võ huynh biết gia sư à?

Võ Chất đáp:

–  Mấy người bạn tôi là Trương Mỹ Ngọc ở An Nhơn, La Xuân Kiều ở Phù Cát vốn là chỗ bạn thân với Nguyễn Nhạc ở Kiên Thành. Qua Cả Nhạc và qua tiếng đồn, họ rất hâm mộ thầy Giáo Hiến.

Huệ lộ vẻ vui mừng nói:

–  Thì ra Võ huynh và quý hữu là chỗ bạn thân với anh Cả Nhạc. Em xin lỗi đã không nhận ra.

Chàng đổi cách xưng hô khi biết những người này là bạn của anh Cả mình. Phan Sinh hỏi:

–  Huynh đệ ngâm đoạn thơ lúc nãy là có ý gì?

Huệ đáp:

–  Không có gì, chỉ vì đệ thích câu cuối của bài thơ, nó chứng tỏ tính tự cường của tác giả.

Phan Sinh mỉm cười:

–  Có nghĩa là huynh đệ cho chúng tôi là những kẻ hèn nhát thấy việc không dám xông vào chỉ biết ngồi yên than thời, trách thế phải không?

Huệ vội xua tay:

–  Nhất thiết không dám rồi. Đệ đoan chắc Phan huynh không tham gia Truông Mây lúc trước là có lý do ngoài ý muốn.

Phan Sinh thở dài:

–  Nói ra thêm hổ thẹn, nhưng tôi ở vào thế nợ nước tình nhà không thể vẹn.

–  Có thể cho đệ biết được không?

–  Cha tôi tuy là một nhà cựu Nho nhưng lẽ xuất xử rất rõ ràng, không phải minh chúa nhất định không theo về.

–  Người như thế nào mới là minh chúa?

–  Đất nước lâm nguy, triều chính suy tàn, bá tánh lầm than là lúc anh hùng xuất hiện. Anh hùng thì nhiều nhưng minh chúa chỉ có một, bởi vậy khi minh chúa ra đời thì điềm trời sẽ báo, kỳ tích sẽ hiện ra. Cha tôi tin như vậy.

–  Ví dụ?

–  Lý Công Uẩn lúc mới sinh, có con chó bộ lông bỗng hiện chữ Thiên Tử. Lê Thái Tổ lúc khởi nghĩa thu được thanh Thuận Thiên bảo kiếm truyền quốc, chém rắn ra quân…

Huệ thầm khen cho tính thực tế của anh Cả mình, tuy có hơi trí trá nhưng lại đánh đúng vào tâm lý của quần chúng, ngay cả những người được coi là kẻ sĩ, là hào kiệt như những người này đây. Phan Sinh thấy Huệ ngồi yên nên hỏi:

–  Theo ý huynh đệ thì sao?

Huệ chậm rãi đáp:

–  Ý kiến của Bá phụ và huynh rất xác thực, nhưng theo đệ, ai có lòng với quốc gia, dân tộc, ai dám đứng lên đạp đổ bạo quyền, đánh đuổi quân xâm lăng, đem lại hạnh phúc cho trăm họ, người ấy đáng để cho chúng ta tôn phò, giúp sức. Nói đúng hơn, minh chúa là người, sẽ vì người mà hành động, chứ không phải con trời, chờ trời sai xuống, mang theo điềm lành ứng mạng mới trở thành minh chúa để cai trị người. Minh chúa là con dân chứ không phải thiên tử, con trời. Cho nên thầy Mạnh tử nói rằng: “Dân vi quý, xã tắc thứ chi, quân vi khinh”.

Tiếng nói của chàng nhẹ nhàng thong thả, nhưng lời lẽ hùng hồn, đanh thép, ánh mắt của chàng lại rực lên một tia lửa của nhiệt huyết khiến cho năm người ngồi nghe ai nấy đều thầm khiếp phục trong lòng. Võ Triệu từ trước vẫn ngồi im lặng, bỗng cười ha hả lên tiếng:

–  Nói rất hay. Huynh đệ là em của Cả Nhạc à?

–  Dạ. Là em út trong nhà.

Võ Triệu nói:

–  Trái đất tròn, đất Tuy Viễn lại không lớn, quanh đi quẩn lại cũng là người quen cả. Tôi với Cả Nhạc đã từng uống rượu say đến hết biết trời trăng rồi gác chân lên nhau mà ngủ trên chiếc thuyền chở đầy trầu của anh ấy đấy.

Huệ mừng rỡ nói:

–  Thì ra là các vị huynh trưởng cả.

Võ Triệu vốn người bộc trực, ông vỗ vai Huệ thân mật:

–  Tiếng đồn Tây Sơn Tam Kiệt quả không ngoa. Tôi rất hâm mộ tài năng và đức độ của Cả Nhạc, nay gặp chú út trong nhà tuổi còn trẻ mà uy vũ hơn người, trí huệ thâm viễn, nhiệt huyết đầy lòng. Nghe Cả Nhạc rất đề cao về tài nghệ của chú út, nay gặp mặt tôi mới tin.

Huệ mỉm cười nói:

–  Anh Cả thương em nên nói quá vậy thôi.

Võ Thăng hỏi:

–  Gần đây khắp nơi loan truyền việc Tây Sơn tụ nghĩa, huynh đệ ghé thăm nơi rừng núi này không ngoài mục đích đó phải không?

Nét mặt của Nguyễn Huệ trở nên nghiêm nghị, nhìn Võ Thăng từ tốn đáp:

–  Các anh đây đã là chỗ bạn thân của anh Cả, em đâu dám lạm bàn về việc đó.

Võ Thăng lại bị ánh mắt của Nguyễn Huệ làm cho rúng động trong lòng, ông nghĩ thầm: “Chàng thanh niên này mục quang trông thật bình ổn, nhu thuận, nhưng thần uy rất mạnh. Thật kỳ lạ!”. Trong thâm tâm ông chợt nảy sinh cảm giác nể vì nên cất giọng thân mật hơn:

–  Không hề gì, huynh đệ đừng câu nệ. Chúng tôi thật muốn biết về chuyện tụ nghĩa của Tây Sơn.

Võ Triệu nói thêm vào:

–  Chú đừng ngại. Tôi chỉ là một tên thô lỗ chuyên cung cấp khô biển cho Cả Nhạc, nhưng những việc làm của anh ấy ở Tây Sơn thượng tôi rất ngưỡng mộ và tán thành. Anh em các người định biến Tây Sơn thành một Truông Mây thứ hai phải không?

Huệ trịnh trọng nói:

–  Các anh tuy không câu nệ nhưng đều là bậc huynh trưởng cả nên em chỉ xin trả lời: Vâng, Tây Sơn sẽ xây dựng lại một Truông Mây. Còn những chi tiết khác em sẽ mời anh Cả gặp các anh bàn thêm. Em quấy quá đã lâu, xin phép các anh, cáo từ.

Nói xong chàng đứng lên lễ phép cúi chào năm người. Họ nhất loạt đứng dậy đáp lễ như đối với những người ngang hàng hay bậc trưởng thượng. Võ Thăng tiễn Nguyễn Huệ ra đến nơi cột ngựa, ông thân mật hỏi:

–  Chú có còn liên lạc với Tiểu Phi huynh đệ không? Con người ấy về tài đức tôi đều cảm phục.

–  Dạ, anh ấy giờ là bang chủ bang Hành Khất. Em vừa từ phân đà Cửa Hàn của anh ấy vào đây.

–  Thế à? Mà cũng xứng đáng lắm. Thời này thật nhiều người tuổi trẻ tài cao. Bang Hành Khất và Tây Sơn của huynh đệ liên hệ thế nào?

–  Là tai mắt.

Võ Thăng gật gù rồi chắp tay nói:

–  Nếu anh em huynh đệ cần đến kẻ sơn dã này xin nhắn cho một tiếng, tôi nhất định góp chút tài hèn.

Huệ ngồi trên lưng ngựa ôm quyền, cúi mình đáp lễ:

–  Võ huynh phong thái vẫn hào sảng như lúc xưa. Tây Sơn đang tụ nghĩa, ngày khởi nghĩa không xa, cửa Tây Sơn mở rộng và dang cả hai tay đón chờ huynh và quý hữu bất cứ lúc nào.

*

Rời Kỳ Sơn, Nguyễn Huệ giục ngựa định trở ra quan lộ dẫn từ Nước Mặn lên Đồ Bàn. Khi đến Phụng Sơn bỗng phía trước có một đám quan binh mấy mươi tên đang vây đánh một chàng thanh niên mặc quần áo ra dáng nông dân. Chàng thanh niên này thân thể cường tráng, võ nghệ thật cao cường, cây roi gỗ trong tay múa vun vút, đám lính ba bốn mươi tên gươm giáo sáng ngời vẫn bị chàng ta đánh tơi bời, kêu la inh cả cánh đồng vắng. Bọn lính đánh một lúc nữa thì già nửa đã bị trúng đòn, té ngã ngổn ngang trên đường lộ. Tên toán trưởng nhắm bộ không xong bèn la lớn:

–  Anh em dừng tay. Tên chăn trâu này không chạy thoát đi đâu mà sợ. Ta về kéo thêm lính đến bắt nó sau cũng được.

Bọn lính trong bụng rất sợ bị ăn đòn, nên vừa nghe tên toán trưởng nói vội dừng tay rồi kéo nhau chạy về trại. Tên toán trưởng nhìn chàng thanh niên hăm dọa:

–  Mày hãy chờ xem. Ông mà không cho mày rục xương trong tù thì ông bỏ luôn cái chức Chánh suất Kỳ Sơn này. Đi!

Hăm xong vội vàng dẫn đám lính chạy tuốt. Chàng thanh niên dộng cây roi gỗ xuống đất, chống nạnh nói lớn:

–  Ngươi đừng hăm dọa mất công. Nguyễn Văn Lộc này mà sợ bọn lính ác ôn các ngươi thì đã không ra mặt. Giỏi thì cứ tìm ta mà bắt bỏ tù, đừng ỷ thế quan quân hà hiếp dân lành.

Nguyễn Huệ ghìm ngựa ở xa theo dõi cuộc chiến đấu của chàng thanh niên tên Lộc trong lòng không khỏi mừng rỡ và thầm phục đường roi của chàng ta. Đường roi này mường tượng như đường roi của Tiểu Bạch Long năm xưa ở Anh hùng đại hội. Huệ bèn nhảy xuống ngựa tiến đến gần cúi đầu chào:

– Gan mật hơn người, tài cao xuất chúng. Tiểu đệ là Nguyễn Huệ xin được làm quen với người anh hùng, không biết có được chăng?

Nguyễn Văn Lộc thấy chàng thanh niên lạ mặt cũng trạc tuổi mình, dáng người thanh tú, lời nói điềm đạm, vẻ mặt thân thiện nên ôm quyền đáp:

–  Anh nói quá cho tôi rồi. Tôi chỉ là tên chăn trâu, đốn củi xứ Kỳ Sơn làm sao xứng với hai chữ anh hùng. Anh định ghẹo tôi à?

–  Không thể coi xuất xứ quý tiện để luận anh hùng. Đinh Bộ Lĩnh chăn trâu mà lập nên nhà Đinh, Phạm Ngũ Lão đan giỏ, Trần Khánh Dư bán than, mà quân Mông Cổ nghe danh thì mất vía. Những người đó, có ai dám bảo họ không là bậc anh hùng chăng?

Văn Lộc xua tay nói:

–  Tôi không rành chữ nghĩa, nói không lại anh đâu. Anh từ đâu ngang qua đây?

Huệ không đáp ngay mà lại đề nghị:

–  Tôi nhớ phía trước nơi ngả ba đường lớn có quán rượu, chúng ta đến đó uống vài chung ấm bụng nói chuyện được không?

–  Được chớ sao không. Có rượu là được.

–  Vậy mời anh lên ngựa ta cùng đi.

–  Anh cưỡi ngựa, tôi chạy bộ theo. Coi bộ con ngựa của anh rất hay, tôi muốn thử xem nó nhanh hay tôi nhanh.

Huệ nghe chuyện lạ rất thích thú nhưng vẫn nói:

–  Làm như vậy coi sao được.

–  Có gì mà không được. Anh sợ tôi chạy không lại con ngựa của anh hả? Lên đi.

Nguyễn Huệ đành lên ngựa, chưa kịp thúc ngựa thì Nguyễn Văn Lộc đã vác gậy lên vai, phóng người vun vút chạy đi. Huệ giục ngựa đuổi theo, chàng định cho ngựa chạy cầm chừng, nhưng khoảng cách của Văn Lộc phía trước mỗi lúc một xa dần ra. Huệ tăng vó ngựa, khoảng cách vẫn không thay đổi, chàng thúc ngựa chạy nhanh hơn, con Ô Truy sải bốn vó phóng nước đại mới có thể thu dần khoảng cách đó. Huệ hết sức kinh ngạc trước sức chạy kinh hồn của Nguyễn Văn Lộc, chàng cho ngựa chạy ngay sau lưng của Văn Lộc cho đến khi tới quán rượu, cả người và ngựa cùng dừng chân một lúc trước quán. Nguyễn Huệ nhảy xuống, thấy Văn Lộc mặt không đổi sắc, chạy đua với ngựa mấy dặm đường dài như kẻ đi dạo chơi. Chàng ôm quyền cúi đầu bái:

–  Anh xứng đáng với hai chữ Thần hành. Từ nay tôi gọi anh là Thần hành Nguyễn Văn Lộc nhé. Vào đây, tôi kính anh chén rượu để tỏ lòng bái phục.

Nguyễn Văn Lộc cười hề hề:

–  Nhìn anh cũng hay hay. Tôi thích sự thẳn thắn và thành thật của anh. Tốt! Ta uống với nhau một bữa cho thật đã mới được.

Huệ vào quán, chọn một chiếc bàn sát cửa sổ, gọi hai cân thịt bê thui và một vò Bàu Đá loại ngon. Chàng rót ra đầy hai chén, nói:

–  Kính anh chén này, ta uống cho hai chữ Thần hành.

Văn Lộc bưng chén uống cạn, khà một tiếng khen:

–  Rượu ngon. Lần đầu mới uống được một chén rượu ngon thế này. Rượu ngon, bạn mới. Không ngờ cuộc đời tên chăn trâu, đốn củi như tôi lại có được giây phút sảng khoái thế này.

Huệ rót tiếp rượu vào hai chén:

–  Tôi kính anh một chén nữa cho sự quen biết của chúng ta.

Văn Lộc đỡ chén rượu uống tràn một hơi xong đặt xuống bàn cười hề hề:

–  Anh Huệ người ở đâu?

–  Tôi ở Tây Sơn.

–  Phải chi anh ở Kỳ Sơn thì hay biết mấy.

–  Sao phải ở Kỳ Sơn mới hay?

–  Ở Kỳ Sơn thì gần tôi, thỉnh thoảng anh mời tôi uống rượu ngon, không hay thì còn cái gì hay hơn nữa. Ha…ha….

Huệ cũng bật cười vì ý nghĩ ngộ nghĩnh của Lộc, bèn nói:

–  Tôi cũng muốn được uống rượu với anh lắm. Có một cách chúng ta sẽ được ở gần nhau để cùng nhau hàng ngày uống rượu, không biết anh có thích nghe không?

–  Cách gì anh nói nghe thử?

–  Trước tiên tôi xin phép hỏi anh, vì sao một người tài ba như anh lại phải chọn cái nghề chăn trâu, đốn củi để mưu sinh?

–  Ai khùng đi chọn cái nghề vừa hèn mọn vừa kiết xác này. Nhưng tôi vốn con nhà nghèo, cha bệnh chết, mẹ già lại đau yếu liên miên, từ nhỏ đã phải chăn trâu cho lão bá hộ Kỳ Sơn, lớn lên phải đi đốn củi thêm cho lò rượu lão Hai Phái mới đủ tiền thang thuốc cho mẹ. Cái nghề đốn củi quỷ quái lại tập cho tôi cái bệnh thèm rượu, nhưng lão Hai Phái bủn xỉn hết chỗ nói, thỉnh thoảng lão cho một bát rượu hạng bét, dở như nước đái trâu. Cũng may… hì…hì…

Huệ cười thích thú:

–  Cũng may cái gì?

Lộc đỏ mặt:

–  Cũng may cô Út thỉnh thoảng trút lén một vò rượu ngon của lão dấu ngoài bụi chuối sau vườn…

Huệ ngã người ra sau cười lớn:

–  Ha…ha…Vậy mà anh khen rượu ở đây là ngon à? Mấy vò rượu ở gốc chuối đó là rượu tình, rượu nghĩa, mới đậm đà hương vị chứ. Đúng là anh hùng đoán giữa trần ai. Ha…ha…

Lộc mắt cỡ đến mặt đỏ như hơ lửa:

–  Hê! Anh đừng ghẹo tôi. Tôi ngu quá tự dưng nói cái bí mật này ra. Cấm anh hớ ra với ai đó nhé, không tôi bằm thây anh ra.

–  Được, được. Tôi hứa không bao giờ hé môi. Nhưng, như vậy thì anh cần gì tôi mời rượu nữa?

Nét mặt của Lộc bỗng dàu dàu:

–  Hết rồi. Từ nay sẽ không còn chuyện ấy xảy ra nữa.

–  Sao vậy? Có chuyện bất trắc à?

–  Thằng con trời của lão bá hộ Kỳ Sơn mê mệt cô Út, nó đòi cưới nàng. Nàng cự tuyệt, cha nàng thương con gái cũng từ chối chuyện hôn nhân. Lão bá hộ giận, cậy đám lính Kỳ Sơn tới phá lò rượu, lão Hai Phái ức lắm chống lại, bị bọn lính đánh một trận tái tê. Lúc đó tôi mới để lộ thân thế, đập cho bọn lính một trận bò càng, nhưng cuối cùng lão Hai Phái sợ thế nên buộc cô Út phải đồng ý. Cô Út nhất định không nghe, hôm qua cô treo cổ tự vận, cũng may tôi phát hiện kịp nên cứu được, vậy mà đám lính chó hồi nãy còn định tới nhà nàng hoạnh họe nữa đấy. Bọn chó chết!

–  Đúng là bọn chó chết, đáng ghét thực. Anh đánh lúc nãy hay lắm. Bây giờ thế nào rồi?

Lộc thở dài buồn bã:

–  Cô Út bảo tôi đem nàng đi trốn. Anh coi, tôi một xu không dính túi, lại mẹ già đau yếu, giờ mang nàng đi, tôi biết về đâu, rồi lấy gì bảo bọc cho mẹ và nàng.

Huệ an ủi:

–  Anh đừng buồn. Không gian nan đâu phải anh hùng. Mà anh có quyết tâm như nàng không?

Lộc uống hết chén rượu, dằn mạnh chén lên bàn nói:

–  Anh còn phải hỏi tôi chuyện quyết tâm à? Con mẹ nó, đám lính hung dữ Kỳ Sơn tôi còn đánh cho tơi bời thì không quyết tâm là gì nữa.

–  Vậy được. Tôi sẽ giúp anh đưa bá mẫu và cô Út của anh đến một nơi thật an toàn, tài năng của anh sẽ có đất dụng võ, tôi và anh còn có dịp gần nhau uống rượu thỏa thích nữa.

Văn Lộc trợn mắt hỏi:

–  Thật chứ? Ở đâu có được những điều đó?

–  Tây Sơn thượng đạo. Đất đai trù phú, mênh mông, không một tên lính chó nào dám bén mảng tới, anh em ở đó đều giống như chúng ta, thương yêu bảo bọc nhau như anh em ruột. Đó là miền đất dụng võ cho những người tài cao như anh. Chúng ta cùng nhau đem tài trai ra cứu bá tánh nghèo đói trong thiên hạ.

Lộc hừng chí nói:

–  Được như vậy thì còn gì hay bằng. Tôi ngán cái kiếp sống ở đợ cho người quá rồi. Anh giúp tôi thay đổi cuộc đời, tôi dẫu chết cũng không quên ơn.

Nói xong đứng lên vái Nguyễn Huệ. Huệ vội đứng dậy chụp tay Lộc kéo ngồi xuống:

–  Hê! Anh làm cái trò gì vậy? Anh muốn báo ơn tôi thì ráng đem tài mình ra giúp cho trăm họ. Mà này, hỏi thật lòng nhé. Anh nói từ bé đã chăn trâu, đốn củi thì cái tài thần hành và ngọn roi tuyệt diệu của anh ở đâu mà có vậy?

–  Nói ra buồn cười, hồi nhỏ tôi chăn bò, con bò đực của lão bá hộ hôm đó tự dưng nổi điên dựng đuôi chạy miết, tôi cố sức rượt theo mà không kịp để con bò sổng mất tiêu luôn. Lão bá hộ đánh tôi một trận nên thân, bắt phải ở đợ ba năm không lương, về nhà cha tôi lúc đó còn sống, đánh thêm một trận nhừ tử nữa. Từ đó tôi quyết tâm tập chạy. Ngọn Kỳ Sơn kia tôi chạy lên chạy xuống thành đường mòn thì anh phải biết.

Huệ vỗ tay nói:

–  Thật tuyệt. Tôi phục cho ý chí kiên cường của anh. Còn ngọn roi?

–  Thầy tôi là một nhà sư trong núi Kỳ Sơn, một hôm thấy tôi tập chạy bèn gọi lại hỏi tôi muốn học võ không, tôi mừng quá lạy ông làm thầy. Từ đó tôi âm thầm tập võ mà cả làng không ai biết. Nay chỉ tại đám lính khốn kiếp kia mà lộ việc.

–  Nhờ vậy mà tôi với anh gặp nhau, không phải là chuyện vui sao? Bây giờ ta tính chuyện kia đã. Có chỗ nào bán ngựa quanh đây không?

–  Sơn trại của Tiều Hiệp Võ Thăng ở Kỳ Sơn có nhiều ngựa lắm, toàn ngựa tốt nên nghe nói giá rất đắt.

–  Không sao. Chúng ta mua một con ngựa, tối nay tôi chở bá mẫu, anh rước cô Út của anh. Chúng ta quất ngựa truy phong thì thằng con trời kia chỉ còn nước tức hộc máu ra mà chết. Ha…ha…

Lộc do dự nói:

–  Chỉ sợ lão bá hộ mướn tụi lính phá nát nhà nàng, trả thù cha nàng thì…

–  Sợ gì. Chúng ta cứ đem Bá mẫu và nàng đi trước. Sau đó tôi và anh trở lại, bọn lính Kỳ Sơn dám phá nhà nàng, ta cho chúng một trận nên thân cho bỏ ghét. Còn không thì…, nhà nàng còn ai nữa không?

–  Nàng có người anh trai tham gia nghĩa quân Truông Mây bị chết trận hai năm trước. Mẹ nàng thương con trai, lâm bệnh mới chết năm ngoái, giờ chỉ còn cha nàng. Cũng vì anh nàng theo Truông Mây mà gia đình nàng bị quan quân ở đây hoạnh họe đủ điều.

–  Vậy thì đơn giản lắm. Anh nói nàng năn nỉ cha bỏ đi luôn, về trên ấy ông ta có thể tiếp tục cái nghề nấu rượu. Không phải chúng ta sẽ có rượu uống dài dài hay sao?

–  Được. Giờ cũng đã tối. Tôi về hỏi ý tứ nàng xem sao. Anh đi mua ngựa xong đến chờ tôi ở đình làng. Trên đường về tôi chỉ cho.

Hai người bèn quay trở lại Kỳ Sơn. Nguyễn Huệ tìm tới sơn trang của Võ Thăng, được ông ta tặng cho hai con ngựa thật tốt. Huệ bèn theo lời chỉ dẫn của Lộc, đem hai con ngựa đến chờ ở đình làng.  Một lát sau đã thấy Lộc lưng cõng mẹ, vai gánh hai gói hành lý to tướng, cùng hai cha con Hai Phái vai nải kè kè đi tới. Huệ bèn đỡ Hai Phái lên ngựa hỏi:

–  Bác cỡi ngựa được chứ?

Hai Phái đáp:

–  Được, cảm ơn cậu.

Huệ nói với cô Út:

–  Cô đi cùng với bác trai nhé. Đưa gói đồ tôi giữ, xin phép đỡ cô lên.

Cô Út lí nhí:

–  Cảm ơn anh.

Huệ đỡ cô Út lên xong qua phụ Lộc cột mấy gói hành lý vào con ngựa rồi phóng lên ngựa của mình, Lộc trùm chăn kín người mẹ xong bế bà nhún chân nhẹ nhàng phóng lên lưng con ngựa còn lại. Hai Phái nhìn thấy cách lên ngựa của Lộc không khỏi hãi thầm trong bụng, ông gục gật đầu mỉm cười trong bóng tối. Huệ nói:

–  Chúng ta đi. Cứ theo quan lộ lên thẳng Tây Sơn.

Bèn giục ngựa đi trước, hai con ngựa kia cũng phóng theo sau. Trời cuối đông, gió bấc thổi lạnh như cắt, ba con ngựa trong đêm trăng lờ mờ giữa tháng Chạp vừa qua khỏi Kỳ Sơn đến Phụng Sơn thì có một toán lính đi ngược lại, hai tên thủ lĩnh cưỡi ngựa đi trước. Một tên hách dịch quát hỏi:

–  Bọn kia đang đêm đi đâu đây? Ăn cướp phải không?

Huệ cho ngựa tiến tới trước một chút lên tiếng đáp:

–  Chúng tôi là dân lành, không phải cướp bóc gì đâu. Xin quan nhân nhường đường cho.

Lúc đó Lộc cũng cho ngựa mình đến cạnh Nguyễn Huệ. Đám lính đốt mấy cây đuốc lên soi, tên đội trưởng vừa thấy Lộc liền lớn tiếng quát:

–  Thì ra là thằng chăn trâu. Mày cả gan đả thương quan lính rồi đang đêm định bỏ trốn hả? Bắt lấy nó cho ta.

Huệ quay sang nói nhanh với Lộc:

–  Anh phá vòng vây đưa tất cả đi trước đi, bọn này để tôi.

Nói xong rút cây roi quanh bụng ra, lớn tiếng:

–  Đám lính chó tụi bay chuyên hà hiếp dân chúng, hôm nay ta sẽ dạy thêm một bài học nữa cho bỏ cái tật hống hách, quan liêu.

Cả hai liền kèm con ngựa của Hai Phái vào giữa, ba con ngựa cùng nhau lao tới, hai cây roi trong tay tung ra hai đường sấm sét vào hai tên cỡi ngựa. Hai tên này không kịp trở tay, mỗi tên trúng một roi nhào xuống đất giãy tê tê. Bọn lính thấy vậy vội vung đao xông vào chém ba con ngựa, Huệ và Lộc lại vũ lộng cây roi trong tay, hàng loạt những thanh đao bị đánh văng xa, rơi xuống mấy đám ruộng hai bên đường. Huệ nói lớn:

–  Hai người chạy trước đi. Để tôi đoạn hậu.

Lộc và Hai Phái nghe nói liền giục ngựa phóng đi. Huệ đảo ngựa một vòng, cây roi trong tay quất ra vun vút, bọn lính bị cây roi quất ngã nhào ra đất miệng la bai bải. Nguyễn Huệ cất tiếng cười ha hả:

–  Cho các ngươi ăn một trận đòn để nhớ. Sau này đừng ỷ thế hà hiếp dân lành nữa. Ha…ha…

Rồi quay ngựa phóng đi, mất hút trong đêm khuya sương lạnh.

*****

Mời xem tiếp vào thứ bảy – 10-10-2015.

HỒI THỨ BA

Tây Sơn Quán anh hùng vui tương ngộ

Bến Côn Giang, Giáo Hiến luận chữ “thời”

[1] Đoạn sau bài thơ Tự Hoài của Aí Trúc Trai – Ngô Thế Lân.