Kỳ 180:

2015-10-21 04.17.05

HỒI THỨ TƯ

Tổng Kiến Hòa, Tín Nhi moi tim Chú Nhẫn

Rừng Truông Mây, Nguyễn Nhạc khóc tế oan hồn

Vượt đèo Cù Mông, leo qua đèo Cả, con Hãn Huyết câu đã chở Tín Nhi ngốn năm sáu trăm dặm đường để đến Trấn Biên. Càng vào Nam, tiết trời càng ấm áp dần lên. Tín Nhi hỏi thăm đường xuống đò sang Cù Lao Phố để ghé thăm Thần Quyền Môn. Đại Kỳ gặp mặt Tín Nhi lần đầu không khỏi ngạc nhiên buộc miệng khen:

–  Nhị đệ có được một người học trò quý hóa thế này chốn suối vàng hẳn cũng ngậm cười.

Tín Nhi nói:

–  Cảm ơn sư bá nghĩ tốt cho con.

Trần Hồng Liên gặp lại Tín Nhi mừng lắm, nàng hỏi đủ thứ câu hỏi về trận chiến cuối cùng của Truông Mây, cái chết của sư thúc Hồng Liệt, sự mất tích của Trần Lâm và Chú Lía v.v… Đại Kỳ cắt ngang những câu hỏi của nàng:

–  Con hỏi từ từ chứ, hỏi liên tục như vậy làm sao Tín Nhi nhớ mà trả lời.

Tín Nhi mỉm cười nói:

–  Không sao đâu sư bá, con nhớ mà.

Rồi đem tất cả câu chuyện kể lại cho mọi người nghe, cuối cùng Tín Nhi thở dài buồn bã nói:

–  Con vì nóng lòng đi tìm tung tích của sư phụ nên thoát khỏi độc thủ của Chú Nhẫn. Có điều tất cả anh em đều hy sinh chỉ mình con sống sót, nghĩ lại đau đớn vô cùng. Bởi vậy con quyết chân trời góc bể phải tìm  bằng được tên phản bội, moi tim hắn đem về tế trước nấm mồ tập thể Truông Mây.

Đại Kỳ hỏi:

–  Lần này con vào Nam cũng vì việc đó phải không?

–  Dạ. Con và anh em bang Hành Khất đã tìm khắp các phủ huyện miền ngoài đó, có lẽ hắn đang trốn trong miền Nam bao la, ít tai mắt của hành khất này.

Đại Kỳ gật đầu:

–  Suy luận rất đúng. Con dự tính hành động thế nào? Cần gì thì nói sư bá giúp cho nhé.

–  Cảm ơn sư bá. Con cần ít ngân lượng để chi phí dọc đường, khỏi phải ghé thăm mấy nhà trọc phú.

Hồng Liên cười khúc khích:

–  Đệ vẫn còn giở ngón nghề đó để kiếm tiền à?

Tín Nhi mỉm cười:

–  Chỉ nhắm vào bọn ác bá thôi, những khi cần thiết.

Hồng Liên hạ giọng:

–  Trông đệ bây giờ thật khác xưa kia, ít nói, ít cười, tóc để dài như một đầu đà trẻ tuổi. Tín Nhi lúc trước đâu có như vậy.

–  Đệ chỉ sợ nói cười nhiều, khối căm hờn trong lòng sẽ tiêu tán bớt đi. Còn mái tóc này đệ sẽ không cắt cho đến khi mang được trái tim tên phản bội về Truông Mây.

–  Đệ định ở đây chơi bao lâu?

–  Đệ ghé thăm sư bá và Hồng tỷ cùng các sư huynh đệ một hôm, sáng mai sẽ đi.

Hồng Liên ngạc nhiên:

–  Gấp vậy sao?

–  Ngày nào chưa trả được thù, đệ không thể an nhiên mà sống. Vả, đệ cũng có ít việc phải làm cho người bạn ở ngoài đó.

Hôm sau Tín Nhi từ giã mọi người ở Thần Quyền Môn lên đường xuống Nhà Bè. Chàng dừng ngựa ở tửu quán Bến Nghé bên bờ sông, khu phố cảng này bán buôn sầm uất chẳng kém Cù Lao Phố. Vừa cột ngựa để bước vào quán, chợt một tên ăn mày nhỏ từ bên trong chạy ra đâm sầm vào người chàng. Thằng bé lên tiếng xin lỗi ríu rít rồi định phóng chạy đi. Tín Nhi mỉm cười vói tay thật nhanh chộp vào cổ nó kéo lại. Thằng bé bù lu, bù loa:

–  Ơ cái anh này! Tôi lỡ đụng phải, đã xin lỗi rồi còn đòi gì nữa. Mau thả tôi ra, mẹ tôi đang bịnh nặng ở nhà đấy. Tôi xin lỗi anh lần nữa vậy. Làm ơn đi.

Nghe giọng nói của nó Tín Nhi biết ngay là người miền Quảng Ngãi, Quy Nhơn mới vào Nam. Chàng mỉm cười nói:

–  Mẹ em đang bịnh nặng à? Thôi đi đi.

Rồi buông tay. Thằng bé ăn mày mừng quá ba chân bốn cẳng chạy tuốt. Tín Nhi mỉm cười bước vào trong quán tìm chỗ ngồi trong góc. Quán khá đông khách, chỉ còn lại vài bàn trống. Vừa ngồi xuống đã thấy thằng bé ăn mày quay trở lại, nó nhìn quanh rồi đi nhanh lại bàn Tín Nhi vòng tay lễ phép nói:

–  Em có mắt không tròng, gặp cao nhân mà còn giở ngón. Em trót dại, xin đại ca tha tội, cho em xin lại cái túi nhỏ. Đó là di vật độc nhất của mẹ em để lại. Xin đại ca.

Giọng nói của nó rất thành thực. Tín Nhi vờ ngạc nhiên hỏi:

–  Chú nhỏ mày đùa với anh hay sao? Chú mày đụng vào người anh mày, anh mày đã không bắt lỗi còn quay đòi của nữa là sao?

Thằng bé năn nỉ:

–  Thôi mà đại ca, em lỡ dại mà. Túi tiền của đại ca em lỡ lấy, đại ca đã thu lại rồi. Cái túi kia không đáng giá gì đâu, chỉ là di vật của mẹ em nên em mới năn nỉ đó thôi.

Thì ra lúc nãy nó xông vào người Tín Nhi đã giở trò móc túi, nhưng vừa bỏ túi tiền của Tín Nhi vào túi mình thì nó bị Tín Nhi móc trở lại mà nó không hay, đến khi chạy đi một lúc, sờ lại túi mình nó mới hoảng lên nên quay lại tìm. Tín Nhi nhìn nó mỉm cười:

–  Tài nghệ chú em mày còn non lắm, làm nghề này có ngày bị thiên hạ treo cổ lên đó. Bỏ đi, kiếm việc khác đàng hoàng hơn mà làm.

Rồi móc cái túi vải trả lại cho thằng bé. Thằng nhỏ mừng quá chắp tay vái dài:

–  Hôm nay đệ mới sáng mắt ra. Tài nghệ của đại ca quả nhiên siêu quần bạt tụy, chẳng thua gì Tiểu Thâu Nhi ngày xưa.

Tín Nhi ngạc nhiên hỏi:

–  Tiểu Thâu Nhi là ai?

Thằng bé vênh mặt lên:

–  Đại ca ở trong nghề này mà không biết đến đại danh của Tiểu Thâu Nhi à? Kỳ thiệt!!

–  Ta không biết thật, nói nghe thử coi.

Nó hít một hơi dài, mặt trang trọng:

–  Tiểu Thâu Nhi tức là tiểu anh hùng Nhất Kiếm Chấn Mộ Hoa Tiểu Thâu Nhi Tín Nhi, một chiêu Nhất Điểm Hồng nhanh như sấm chớp, “véo!”, đâm thủng yết hầu Quảng Ngãi Đệ Nhất Cao Thủ Qủy Kiếm Ma Đao Lương Bát Vạn, thêm một mũi tên lửa nhanh như tên bắn đốt sạch kho lương Long Phượng khiến cho quân triều đình nhịn đói nhăn răng nên bị đánh tan tành.

Nó nói một hơi dài, nét mặt rất nghiêm chỉnh, tỏ rõ sự ái mộ và khâm phục nhân vật Tiểu Thâu Nhi. Lúc nói đến chiêu kiếm Nhất Điểm Hồng nó còn dùng ngón tay đâm vào yết hầu Tín Nhi làm ví dụ khiến Tín Nhi vừa buồn cười vừa lấy làm lạ hỏi:

–  Chà! Anh chàng Tiểu Thâu Nhi này quả nhiên ghê gớm. Em gặp mặt anh ta chưa?

Thằng bé đáp, vẻ mặt hiu hiu tự đắc:

–  Sao lại chưa? Trong nghề này mà chưa gặp mặt Tiểu Thâu Nhi thì chưa xếp vào hạng “thâu” được.

Tín Nhi mỉm cười:

–  Em đã được xếp vào hàng “thâu” chưa?

Nó vênh mặt:

–  Sao lại chưa?

–  Vậy em là gì “thâu”?

–  Hoàng Thâu Nhi. Em thèm cái biệt danh Tiểu Thâu Nhi lắm nhưng sợ mạo phạm nên tự đặt cho mình, à không, giang hồ tặng cho em danh hiệu là Hoàng Thâu Nhi.

Nó nói mà nét mặt tỉnh khô, ra chiều đắc ý. Tín Nhi cố nín cười, giả bộ như hâm mộ lắm:

–  Hoàng Thâu Nhi cũng oai rồi. Mà em gặp Tiểu Thâu Nhi ở đâu? Có thể giới thiệu cho anh với, được không?

Hoàng Thâu Nhi vênh mặt làm ra vẻ quan trọng:

–  Em thì sẵn sàng thôi, nhưng mà Tiểu Thâu Nhi như là…là… cái gì … long ẩn

–  Là thần long lúc ẩn lúc hiện

–  Đúng rồi, Tiểu Thâu Nhi như thần long lúc ẩn lúc hiện, khó mà gặp được. Mà còn phải xem đại ca đây có lớn phước không nữa. Còn em gặp ở đâu à? Bên hồ La Bích, lúc Tiểu Thâu Nhi bị thương hôn mê, em có đến cầm tay anh ta một lát để tỏ lòng ái mộ của mình.

Tín Nhi biết thằng bé nói láo, nhưng chàng tin chắc nó phải có người thân biết rõ việc Truông Mây. Chàng hỏi:

–  Em là Hoàng Thâu Nhi, vậy em họ Hoàng phải không?

–  Đúng vậy.

–  Nhà em lúc trước ở Bồng Sơn, gần bến đò Lại Dương, cha em làm thầy đồ nhưng mất sớm phải không?

Thằng nhỏ trợn mắt ngạc nhiên hỏi:

–  Sao đại ca biết hay vậy?

–  Hoàng Bá là gì của em?

Mặt Hoàng Thâu Nhi bỗng đổi sắc, nó sợ hãi nói:

–  Em không biết Hoàng Bá. Nhà em ở Bồng Sơn thật, nhưng em không biết người đó.

Tín Nhi đã đoán ra, chàng nói nhỏ:

–  Em đừng sợ, anh là người của Truông Mây chứ không phải quan lính đâu. Nói thật đi.

Hoàng Thâu Nhi lắc đầu nói:

–  Em đã nói em không biết thật mà. Đại ca không tin thì đành chịu.

Tín Nhi bèn cầm chiếc đũa trên bàn rồi nhanh như chớp dí đầu đũa vào yết hầu của Hoàng Thâu Nhi, thằng bé hết hồn, trợn mắt há hốc mồm, người như chết đứng. Tín Nhi hỏi:

–  Có phải Lương Bát Vạn bị một kiếm nhanh như vậy đâm vào yết hầu không?

Hoàng Thâu Nhi hoàn hồn, nhưng miệng vẫn còn há hốc một lúc mới đáp:

–  Hình như là vậy. Đại ca cũng biết chiêu Nhất Điểm Hồng nữa à?

Tín Nhi nhìn nó thân mật nói:

–  Trả lời đi rồi anh nói cho nghe.

Hoàng Nhi bỗng ưỡn ngực lên nói:

–  Thôi được. Cái mạng nhỏ xíu này kể bỏ. Tôi là Hoàng Nhi. Ừ, Hoàng Bá là anh của tôi đó. Nhưng ảnh chết trên đèo Thạch Tân rồi.

Tín Nhi mừng rỡ nắm tay Hoàng Nhi nói:

–  Là thật ư? Rồi sao em lạc vào tận trong này? Mẹ em đang đau nặng à?

Hoàng Nhi ngạc nhiên hỏi:

–  Sao anh hỏi kỹ vậy? Sao anh biết mẹ em?

–  Anh là Tín Nhi đây. Hoàng Bá là bạn đồng đội thân thiết của anh, anh có nghe nói về mẹ em vài lần.

Hoàng Nhi trợn mắt ngạc nhiên:

–  Anh là Tín Nhi?! Là Nhất Kiếm Chấn Mộ Hoa Tiểu Thâu Nhi ư?!!!

–  Ừ. Hôm đó anh và Hoàng Bá suýt chút nữa đều bỏ mạng. Giờ anh ấy đã chết, đau thật. Mà Truông Mây ai cũng đều đã chết hết rồi, chỉ còn mình anh.

–  Sao anh có thể thoát chết được? Nghe nói cả Truông Mây bị trúng độc chết hết mà?

–  Từ từ có dịp anh kể cho nghe, giờ nói đi, mẹ em đang đau nặng à?

Hoàng Nhi dàu dàu nét mặt đáp:

–  Đau nặng là lúc trước kìa, giờ mẹ đã chết rồi. Lúc nãy em nói dối anh đó.

–  Vì sao mẹ em chết.

–  Đói chết.

Tín Nhi thót người vì câu trả lời gọn trơn của thằng bé. Chính hai tiếng “đói chết” gọn lỏn kia mang nặng một nỗi hờn mát, đau buồn và uất hận vô cùng tận trong lòng nó. Chàng hỏi:

–  Bây giờ em ở đâu? Với ai?

– Em ở khắp nơi, nơi nào cũng là nhà em cả. Em chỉ có một mình với cái lược sừng này của mẹ để lại, mỗi lần chải đầu em sẽ nhớ mẹ.

Nó lấy trong chiếc túi lúc nãy ra một cái lược nhỏ bằng sừng, di vật quý nhất của mẹ nó, đưa lên chải mái tóc rối xù, bồng bềnh của mình. Tín Nhi thở dài:

–  Sao em và mẹ lại bỏ Bồng Sơn vào đây?

–  Thằng xã trưởng lúc trước bị anh Hoàng Bá đập cho một trận què mất một chân vì cái tội ăn hiếp dân lành. Sau Truông Mây tan rã, nó tới nhà tìm anh Bá trả thù, nghe nói ảnh đã chết, nó trút hận lên đầu mẹ con em. Mẹ sợ nó hại em nên dẫn em chạy trốn. Nghe nói miền Nam giàu có, mẹ vượt núi đưa em vào, dọc đường mẹ đói chết. Trước khi chết, mẹ căn dặn thế nào cũng phải vào cho tới miền Nam. Em lấp sơ xác mẹ rồi tiếp tục hành trình vào nam. Tưởng đã chết đói dọc đường như mẹ, cũng may ăn cỏ gấu, uống nước sương một thời gian cũng vào được trong này. Tưởng gì, cũng chỉ làm kiếp ăn mày. Nhớ tới những chuyện anh Bá kể về đại ca, em học nghề móc túi kiếm tiền nuôi miệng.

Tín Nhi an ủi:

–  Đừng buồn nữa. Từ nay đi với anh. Anh em mình có phúc cùng hưởng có họa cùng chịu.

Hoàng Nhi nhảy dựng lên:

–  Em được đi với anh?!! Được cùng với Tiểu Thâu Nhi có phúc cùng hưởng có họa cùng chịu ư?

–  Ừ.

Nó mừng quá cười toe toét:

–  Vậy là có phúc không chứ làm gì có họa. Hi… hi… Tiểu Thâu Nhi là vua kiếm tiền mà, làm gì có họa để cùng chịu. Hi… hi…

Tín Nhi cười:

–  Chưa chắc đâu. Để anh gọi cái gì anh em mình ăn nhé. Mừng gặp mặt. Biết uống rượu chưa?

–  Gặp mặt đại ca thì chưa uống sẽ được uống, không biết uống cũng phải biết chứ. Hì…hì…

Tín Nhi bèn gọi mấy món ăn ngon và một bình rượu Mai Quế Lộ loại nhẹ. Trong khi chờ thức ăn, Hoàng Nhi hỏi:

–  Đại ca lặn lội vào Nam chắc có chuyện phải không? Nói xem em có giúp gì được không?

Tín Nhi nhỏ giọng:

–  Đi tìm tên phản bội. Em biết chuyện đó mà, phải không?

–  Biết chứ sao không? Mẹ em nguyền rủa lão quỷ đó cho đến lúc nhắm mắt. Mà đại ca có biết lão ta đang ở đâu không?

–  Không. Anh đã tìm lão khắp cả miệt ngoài đó, giờ vào tìm trong này.

Bỗng Hoàng Nhi reo lên:

–  A! Sao đại ca không tới hỏi lão thầy bói Vạn Sự Thông thử coi. Lão nổi tiếng ở xứ này, chuyện gì lão cũng biết, hỏi gì lão cũng đáp được hết.

Tín Nhi cười:

–  Đại trượng phu, ai lại đi nhờ thầy bói, chú nhỏ?

–  Ậy, ở đây ai có việc gì khó khăn, cuối cùng cũng phải tới cầu lão cả đấy.

–  Em có chắc là hỏi gì lão cũng đáp được không?

–  Chắc chớ. Bởi vậy lão mới dám tự xưng là Vạn Sự Thông chớ.

–  Được, ăn xong em dẫn anh tới chỗ lão thử xem.

Thức ăn dọn ra, Hoàng Nhi không khách sáo, nó ăn ngấu nghiến một lèo hết sạch phần thức ăn của nó, còn làm ra vẻ anh hùng uống với Tín Nhi một hơi mấy ly rượu khiến mặt mày đỏ ké trông rất hoạt kê. Ăn xong nó dẫn Tín Nhi đến nhà lão thầy bói ở cuối một con đường nhỏ. Tấm bảng Vạn Sự Thông rõ lớn treo ngay trên cửa. Đó là một người Hoa tuổi trạc năm mươi, râu dài, trông rất thông thái, nói tiếng Việt rất sõi. Chào khách xong ông ta hỏi:

–  Công tử muốn nhờ tôi giải quyết chuyện gì? Nhìn sắc diện công tử, tôi đoan chắc không phải chuyện bình thường.

Tín Nhi đáp:

–  Tôi đang tìm một kẻ thù nhưng đã một năm nay chưa tìm ra. Nhờ ông mách giùm hắn ta đang trốn ở đâu.

Vạn Sự Thông hỏi:

–  Đàn ông à? Cỡ bao nhiêu tuổi?

– Hai vợ chồng giàu có, quyền thế. Chồng cỡ năm mươi, vợ khoảng ba mươi, rất xinh đẹp.

Vạn Sự Thông bèn dùng ba đồng tiền hai mặt, một mặt hào âm, một mặt hào dương để gieo quẻ. Lão nắm ba đồng tiền thật chặt giữa lòng hai bàn tay, nhắm mắt định thần một lúc mới gieo. Lần gieo thứ nhất theo quẻ Tiên thiên, được quẻ Đoài, lần thứ nhì theo Hậu thiên được quẻ Tốn. Tức được hai quẻ kép: Trạch Phong Đại Quá và Phong Trạch Trung Phu. Vạn Sự Thông nhìn Tín Nhi mỉm cười nói:

–  Chúc mừng công tử, mọi việc ắt sẽ hanh thông, tuy nhiên, quẻ Đại Quá nói đến sự hung hiểm. Bởi vậy mọi sự công tử phải cẩn trọng, đừng hành động quá sức mình hoặc táo cấp sẽ gặp họa, nhưng trong họa có phúc. Riêng quẻ Trung Phu ở Hậu thiên rất tốt. Trung Phu nói: “Trung phu: Đồn ngư cát, lợi thiệp đại xuyên, lợi trinh”. Nghĩa là trong lòng có đức tin đến cảm được heo, cá, tốt như vậy thì lội qua sông lớn cũng được, giữ đạo chính thì có lợi. Công tử đã có lòng thành, nếu việc trả thù của công tử là việc chính nghĩa thì tất được như ý. Tượng quẻ này theo tôi suy đoán, kẻ thù của công tử đang ở hướng Đông Nam, công tử vượt qua sông lớn sẽ tới. Theo vị trí chúng ta đang ngồi mà suy thì nơi đó tất thuộc tổng Kiến Hoà, trấn Định Tường bên dòng Tiền Giang. (Gò Công bây giờ)

Tín Nhi hỏi:

–  Từ đây đi lối nào đến đó tiện nhất thầy?

–  Miền này sông rạch rất nhiều, dùng thuyền ghe là tiện nhất. Cứ theo sông Nhà Bè này đổ xuống, rẽ phải vào sông Vàm Cỏ là đến Kiến Hưng, Kiến Hòa rồi. Nếu công tử muốn dùng ngựa thì phải xuống Long An, tới Cần Giuộc qua đò Vàm Cỏ tới Kiến Hưng. Đường bộ hơi xa một chút.

–  Cảm ơn thầy. Tiền tổ bao nhiêu, tôi gửi lại?

–  Gieo quẻ đại cát, mười quan ạ.

Hoàng Nhi nghe lão thầy bói đòi tới mười quan thì trợn mắt la lớn:

–  Mười quan?! Ông mới nói có mấy tiếng mà đòi tới mười quan. Ông biết tôi lang thang ăn xin suốt một ngày còn chưa được mười đồng kẽm nữa đấy.

Vạn Sự Thông cười nói:

–  Chú bé mày không biết phân biệt sự việc nặng nhẹ, khó dễ gì cả. Này nhé, nếu công tử mất mười quan mà không được việc thì cứ quay lại lấy cái đầu tôi mà trừ nợ. Đền ơn chú mày dẫn công tử đến đây, tặng chú mày một quan, lần sau giới thiệu nữa sẽ được thưởng tiếp. Đó, chú mày thấy không, ở đời nhiều khi làm ít mà hưởng nhiều là vậy.

Hoàng Nhi cầm quan tiền cười nói:

–  Lý lẽ đó đôi khi tôi cũng đã gặp, mà còn hưởng lớn nữa kìa. Hi … hi…

Nó đang nói tới những lần móc túi thiên hạ trúng lớn của nó. Tín Nhi chào ông thầy bói rồi kéo tay Hoàng Nhi ra đi. Chàng nói:

–  Bây giờ em quanh quẩn đâu đây một thời gian, chờ anh xong việc trở lại tìm. Chúng ta sẽ trở về Quy Nhơn làm lại cuộc đời.

Hoàng Nhi la lên:

–  Anh không cho em theo à? Em muốn giúp anh một tay.

–  Không được, nguy hiểm lắm. Em đi theo chỉ làm anh bận tâm thêm.

–  Vậy mà anh nói có phúc cùng hưởng, có họa cùng chịu. Chưa gì đã đổi giọng rồi.

–  Ê! Phải biết phân biệt nặng nhẹ chứ chú em. Đợi xong việc, anh dạy võ nghệ cho em đàng hoàng, chừng đó muốn hoạn nạn cùng chịu cỡ nào cũng được.

Hoàng Nhi sáng mắt lên:

–  Vậy nhé. Anh phải dạy em chiêu Nhất Điểm Hồng, “véo” một tên địch nhào xuống. Hì…hì… Anh đi đi, cẩn thận nhé, chúc anh thành công. Em chờ anh ở quán Bến Nghé.

Nó nói xong đưa ánh mắt lo lắng nhìn Tín Nhi rồi quay đầu đi thẳng. Vừa đi nó vừa tung hứng quan tiền lão thầy bói mới cho, miệng nghêu ngao bài vè Chú Lía:

     Có người ở phủ Quy Nhơn

Quán Phù Ly huyện gần miền Bích Khê

     Cha xưa lính thú thải về

Ăn cận nằm kề sinh được một trai…

 Tín Nhi nhìn theo hút bóng Hoàng Nhi, chợt thấy hình ảnh của mình ngày xưa nơi thằng bé nên thở dài lẩm bẩm: “Đất nước này không biết còn có bao nhiêu đứa trẻ lạc loài như nó và mình nữa?”. Chàng lên ngựa phóng đi. Thay vì đi ghe thuyền cho nhanh thì chàng lại chọn đường bộ, tuy xa hơn nhưng trên đường dò tìm các địa phương đi qua cho ăn chắc. Lão thầy bói có vẻ rất tự tin về điều ông ta nói, nhưng biết đâu được.

Kiến Hòa là một vùng đồng bằng phì nhiêu, bát ngát nằm giữa lưu vực ba con sông lớn, Nhà Bè, Vàm Cỏ và Tiền Giang, vùng cửa Tiểu, cửa Đại đổ ra biển Đông. Đồng bằng rộng lớn nhưng dân cư còn thưa thớt, Tín Nhi tìm đến thị trấn, ghé vào một tửu điếm nằm ngay ngả tư chính để thuê phòng. Một nhân viên phục vụ tửu điếm thấy khách lạ vội chạy ra niềm nỡ hỏi:

–  Công tử chắc từ phương xa đến. Mời nghỉ lại với chúng tôi, ở đây được coi là tươm tất, tiện nghi nhất huyện này. Để tôi đưa ngựa ra sau. Chà, con Huyết câu này mới thật là hùng dũng. Mời công tử vào trong, ở đây chúng tôi phục vụ quý khách rất chu đáo, đừng lo.

Tín Nhi trao cương ngựa cho người phục vụ, bước vào trong. Thực khách của quán khá đông, ai nấy đều có giọng nói và nụ cười mộc mạc, thân thiện. Chủ điếm niềm nỡ chào hỏi:

–  Chào mừng công tử tới thăm xứ sở đồng nước mênh mông này. Công tử định thuê phòng phải không? Tôi còn đúng hai phòng hạng nhất, chắc chắn công tử sẽ vừa ý.

Tín Nhi nói:

–  Tôi lấy một phòng. Ông chủ giới thiệu món đặc sản của xứ này xem nào. Nghe nói rượu đế Gò Đen là tuyệt phẩm miền Nam phải không, tôi muốn thử.

–  Công tử hỏi đúng rồi. Đế Gò Đen tuy mới ra đời nhưng đúng là hảo phẩm của miền sông nước này. Ở đây chủ yếu là hải sản cá, cua, tôm, mực. Nhưng tôi muốn mời công tử thưởng thức món nghêu đặc biệt ở đất Kiến Hòa này, sau đó cũng nên nhắm qua món vọp để biết thế nào là sản phẩm vùng nước lợ. Ăn hai món này uống đế Gò Đen là tuyệt hảo.

–  Ông chủ cho tôi hai món đó và một hũ Gò Đen.

Chủ quán vui vẻ quay vào trong. Tín Nhi chợt nghe bốn người đàn ông ngồi bàn kế bên, chắc là người bản xứ, đang nói chuyện huyên thuyên với nhau. Một người nói:

–  Kỳ này lão tổng đốc bị một vố đau quá nên mới xử nặng như vậy chớ gì.

Một người khác cười:

–  Còn cái gì đau hơn nữa chứ. Có bà vợ trẻ đẹp như vậy lại để một anh cai đội dưới tay lén phéng, thà chết sướng hơn. Mà anh chàng cai đội này bảnh trai thật, tôi nghiệp, ham của quý nên phải bị treo lên giá chờ hành quyết.

Người nữa chen vào, nhưng nhỏ giọng xuống:

–  Ậy. Tôi mà ở vào trường hợp đó, treo cổ tôi cũng chịu. Hì..hì… Mấy anh không thấy bà tổng của chúng ta đẹp cỡ nào sao? Hề…hề…

Người thứ tư nói:

–  Anh thì cái tật không chừa. Nhưng lão tổng đâu có xử chết viên cai đội vì tội lén phéng bà vợ bửu bối của mình. Ông ta buộc viên cai đội này về tội thông đồng với bọn cướp Phạm Chàm và bọn Chà Và Vinh Ly Ma Lô, bọn người Cao Mên Ốc Nha Ghê làm loạn ở Hà Tiên hôm tháng bảy vừa rồi. Viên cai đội này vốn quê ở Vũng Thơm, Cần Bột, cùng quê với Phạm Chàm nên lão tổng ghép vào tội thông đồng với giặc. Một tội vu khống lảng xẹt vậy mà trên trấn họ cũng tin để cho lão tổng xử chết người ta mới là oan chứ.

Tín Nhi hiếu kỳ hỏi vói sang:

–  Xin lỗi bốn chú, cháu từ xa mới tới nên không biết nội vụ. Xin hỏi chừng nào xử án vậy?

Một người trong bàn thấy Tín Nhi dáng cách phong trần hiệp sĩ nên đem lòng ngưỡng mộ, lịch sự đáp:

–  Ngày mai, ở quảng trường của tổng, cuối con phố này. Công tử từ xa đến đây có việc à?

Tín Nhi lễ phép đáp:

–  Dạ, cháu ở miền ngoài vào thăm người bà con bên tổng Kiến Thuận, nghe nói Kiến Hòa phong vật xinh tươi, con người rất thân thiện, hiếu khách nên ghé thăm để mở rộng kiến thức. Vị tổng trấn của chúng ta tên họ là gì vậy chú?

Người nọ đáp:

–  Trương Thiện Nhân. Ôi, xứ này xưa nay vốn rất hiền lành, yên ổn, nay mới có một vụ động trời thế này đó. Từ ngày lão tổng đốc mới này đổi về mọi chuyện bắt đầu xấu đi. Cứ xem bọn vệ sĩ của lão tên nào tên nấy mặt mày đanh ác như hung thần là phát khiếp rồi. Thiện Nhân đâu chưa thấy, chỉ thấy chuyện ác nhân.

Tín Nhi hỏi:

–  Nghe các chú nói vị tổng đốc phu nhân rất xinh đẹp làm cháu cũng hiếu kỳ muốn nhìn qua cho biết.

Người thứ ba lên tiếng lúc nãy cười đáp:

–  Công tử hiếu kỳ là phải. Bà tổng phải nói là sắc đẹp mê hồn. Người đẹp, cái tên Quỳnh Dao cũng đẹp nữa mới chết chàng cai đội trẻ kia đó chứ.

Tín Nhi nghe hai tiếng Quỳnh Dao thì thót người, chàng cố giữ bình thản nói:

–  Cảm ơn mấy chú. Mai cháu phải ghé coi vụ xử án này mới được.

Quảng trường của tổng Kiến Hòa là một khu đất rất rộng, lúc Tín Nhi đi bộ đến nơi, bà con trong tổng đã kéo tới coi xử án đông nghịt. Chàng tìm cách len lỏi đến gần khán đài. Trên đài, ngồi giữa là vị quan Tổng đốc, sau lưng có hai tên vệ sĩ đeo kiếm, mặt mày hung tợn, hai bên còn có bốn viên chức trong tổng, dưới nữa là chiếc bàn của vị quan Án sát xử án. Trời cuối đông, gió lạnh, mưa lất phất bay nhưng bà con cũng bu chật quảng trường vì nghe nói đây là vụ xử chém đầu tiên ở tổng này. Tín Nhi đến được gần khán đài, vừa nhìn thấy mặt viên Tổng đốc thì máu trong người chàng đã sôi lên, mắt như tóe lửa. Chàng cố trấn tĩnh bằng cách hít vào một hơi thật sâu, hai bàn tay nắm thật chặt vào nhau, những móng tay bấm vào da thịt tạo cảm giác đau điếng để giúp tỉnh táo hơn.

Viên Tổng đốc không ai khác hơn là Chú Nhẫn, tên phản bội. Dù trên mặt ông ta nay để thêm bộ râu, áo mũ phẩm phục, nhưng Tín Nhi vừa nhìn  đã nhận ra ngay. Gần đúng ngọ, viên Án sát đọc bản án xong ném lệnh xử trảm xuống quảng trường. Nơi bục trói tử tội, một ánh đao nhoáng lên, một chiếc đầu rời khỏi cổ lăn xuống nền đất, nhiều tiếng rú kinh hãi từ đám đông bà con đi xem vang lên. Gia đình nạn nhân bấy giờ đứng xa than khóc, lúc này mới được phép chạy vào thu nhặt xác đem về chôn. Bà con bắt đầu giải tán, họ không ngớt xì xào bàn tán về cái chết của tên tử tội. Sự bất mãn hiện rõ trên nét mặt và trong lời nói của mọi người.

Viên Tổng đốc có hai tên vệ sĩ đeo kiếm đi kèm hai bên cùng đoàn quan chức trở vể tổng đường. Tín Nhi lặng lẽ đi theo sau đến khi viên Tổng đốc và hai tên vệ sĩ vào bên trong một ngôi nhà thật lớn, có tường cao bao quanh, toán quân canh vũ trang đóng cửa lớn lại. Tín Nhi nghĩ thầm: “Ngươi cải tên đổi họ, lại mướn cả bọn sát thủ Trung Hoa theo bảo vệ, nhưng đêm nay sẽ là đêm cuối cùng của ngươi. Tên phản bội!”.

Màn đêm buông xuống. Lão chủ quán khá ngạc nhiên khi nghe Tín Nhi hỏi lấy ngựa để đi dạo, nhưng rồi ông ta cũng sai người dẫn ngựa ra. Tín Nhi lên ngựa, thả chầm chậm qua con phố, sau đó đem ngựa dấu ở một nơi cách mé đông tường nhà tổng đốc không xa, sau đó chàng nương theo bóng đêm băng mình đến ngôi nhà lớn. Mấy năm nay võ công của chàng đã tăng tiến vượt bực, nhất là thân pháp Truy Phong Vô Ảnh của chàng. Bọn lính canh không ngừng đi lại tuần tra nhưng Tín Nhi đã dễ dàng lọt vào bên trong, phóng người lên nóc nhà rồi băng mình tới nơi có ánh đèn lóe ra bên dưới. Chàng nép sát tai xuống mái nhà lắng nghe động tịnh. Bên dưới có tiếng cãi vả của phụ nữ vang lên:

–  Ông định làm gì tôi? Ông chặt đầu hắn một cách vô cớ như vậy chưa đủ sao. Ông định giết tôi luôn phải không?

Tín Nhi trườn mình đến mép mái nhà định dùng thế Đảo quyển châu liêm nhìn vào trong thì nghe bên đưới mái nhà có tiếng đàn ông nói, giọng lơ lớ:

–  Vợ chồng họ cãi nhau mình đứng ngoài nghe làm gì. Đi, chúng ta qua bên kia làm vài ly, hơi đâu chầu chực ở đây.

Hai tên vệ sĩ kéo nhau qua bên ngôi tiểu đình cạnh hàng rào bày rượu ra uống. Tín Nhi an tâm móc người ngược trên mái nhìn vào trong. Chú Nhẫn đang hầm hầm tức giận đi qua đi lại trong phòng, rồi đột nhiên đứng lại chỉ vào mặt một thiếu phụ trẻ đẹp ngồi trên chiếc ghế tràng kỷ, bà ta có lẽ là Quỳnh Dao, Tín Nhi chưa từng thấy qua nên không biết mặt. Hắn gằn giọng:

–  Bà phải biết rằng chúng ta là những người đang lánh mặt. Bà lúc nào cũng muốn chường mặt ra cho thiên hạ biết cái nhan sắc của bà, nay lại còn dám qua mặt tôi dan díu với một thằng cai đội quèn. Bà làm nhục cái chức tổng đốc của tôi, bà là thứ…

Thiếu phụ hét lên:

–  Tôi là thứ gì. Ca kỷ, gái lăng loàn phải không? Còn ông? Ông là thứ gì? Một tên cướp, một tên phản…

Chú Nhẫn không nhịn được nữa bước nhanh tới vung tay tát một cú như trời giáng vào mặt thiếu phụ. Bà ta ôm mặt la lớn:

–  Ông giết tôi luôn đi để từ nay không còn ai ở đất này biết ông là một tên phản bội.

Chú Nhẫn lại vung tay tát thiếu phụ một cú nữa, gương mặt đẹp của bà ta giờ sưng húp, máu miệng trào ra hai bên mép. Bà đứng dậy xông sát vào Chú Nhẫn điên tiết gầm lên:

–  Ông giết tôi đi. Giết tôi đi.

Chú Nhẫn thấy mặt thiếu phụ sưng húp, máu hòa nước mắt dàn dụa thì chùn tay, lão đặt hai tay lên vai thiếu phụ nhỏ nhẹ:

–  Xin lỗi bà. Bà cũng biết tôi rất yêu qúi bà, chỉ là đừng bao giờ nhắc tới chuyện đó. Tôi đã dặn bà bao nhiêu lần rồi.

Thiếu phụ thấy chồng xuống nước bèn lên giọng:

–  Ông giỏi thì giết tôi luôn cho dứt chuyện. Tôi không muốn sống nữa. Từ ngày theo ông, đêm nào ông cũng uống rượu cho đến say rồi ngủ mê, ngủ sảng như một tên điên. Tôi còn trẻ, còn đẹp, sao lại phải sống cảnh phòng không lạnh lẽo ở cái xứ cò ho khỉ gáy này. Ông giết tôi đi.

Chú Nhẫn kéo vợ sát vào người, vỗ vỗ vào lưng năn nỉ:

–  Bà bớt giận, tha lỗi cho tôi. Từ nay tôi sẽ chăm sóc bà tốt hơn. Thôi bà vào trong đi.

Ông dìu thiếu phụ vào bên trong. Tín Nhi vội thả người xuống đất, nhanh chóng bật cửa lẻn vào bên trong, ngồi chễm chệ trên chiếc trường kỷ. Vói tay lấy bình rượu đang để trên bàn, chàng rót ra hai chén ngồi chờ. Một lúc sau Chú Nhẫn bước ra, vừa nhìn thấy một tên thanh niên lạ mặt, tóc xỏa dài như người rừng thì giật mình đánh thót, nhưng rồi ông lấy lại bình tĩnh hỏi:

–  Ngươi là ai? Sao vào được đến nơi đây?

Tín Nhi mỉm cười chỉ chiếc ghế trước mặt nói:

–  Không cần vội. Mời ngài Tổng đốc ngồi xuống trước đã.

Chú Nhẫn mắt vẫn nhìn chằm chằm vào khuôn mặt bị che khuất một nửa bởi mái tóc như cố nhận ra hắn là ai, trong khi chân bước đến ngồi vào ghế. Ông hỏi:

–  Ngươi đang đêm đột nhập vào dinh tổng đốc, ngươi có biết tội gì không?

Tín Nhi mỉm cười đáp:

 –  Ông định kết tôi vào tội thông đồng với giặc để xử chém như tên tình địch của ông ban sáng phải không? Mời uống rượu.

Nói xong chàng bưng hai ly rượu lên, đưa một ly sang cho Chú Nhẫn. Chú Nhẫn cũng là tay gan dạ, hắn ung dung đỡ ly rượu rồi uống cạn. Tín Nhi mỉm cười hỏi:

–  Ngài Tổng đốc không sợ tôi bỏ chất độc Bán Nhật Vô Hương Nhuyễn Cốt Tán vào ly rượu vừa rồi à?

Chú Nhẫn vừa nghe nói tới tên thuốc độc đó thì hai mắt như đứng tròng nhìn sững vào người lạ mặt, tay run run, chiếc ly rớt xuống hai bắp đùi trên ghế ngồi. Một lúc lâu hắn cất tiếng run run hỏi:

–  Anh bạn trẻ là ai?

Tín Nhi đưa tay vén phần tóc che một bên mặt ra mỉm cười hỏi:

–  Chú Nhẫn có nhìn ra cháu không?

Giọng Chú Nhẫn vẫn run:

–  Tín Nhi phải không?

–  Trí nhớ của chú còn tốt đó chứ, cháu lại tưởng tiền tài, địa vị, mỹ sắc đã làm trí óc chú mờ mịt, lú lẫn hết rồi.

Chú Nhẫn như đã lấy lại được bình tĩnh, ông lấy ly rượu trong lòng đặt lại lên bàn, thở dài nói:

–  Không ngờ cháu còn sống. Tôi biết ngày này rồi cũng sẽ đến. Cháu định trả thù cho anh em phải không?

–  Chú có biết là ở Truông Mây, đêm đêm vẫn còn rất nhiều tiếng khóc than của những oan hồn chưa tiêu tán không? Họ còn ở lại để nhắc nhở cháu phải báo cho được mối thù này. Và cháu đã hứa với họ nhất định phải mang trái tim của kẻ phản bội về tế trước mộ để linh hồn họ siêu thoát. Vì vậy hai năm nay cháu đã đi khắp mọi nẻo đường đất nước để tìm kiếm chú.

Chú Nhẫn thở dài, nhắm mắt lại nói:

–  Hai năm nay tôi sống không bằng chết. Đêm nào cũng gặp ác mộng thấy anh em về đòi mạng. Nay cháu đã đến thì cứ tự nhiên ra tay. Tôi chết ngàn lần cũng chưa đủ để đền tội.

Tín Nhi rót thêm rượu ra hai ly mời:

–  Cháu uống với chú ly rượu này để nhớ một thời cùng nhau làm nghĩa sĩ Truông Mây.

Chú Nhẫn bình thản đưa tay đón ly rượu uống cạn, ông nói:

–  Tôi có món quà này gởi lại cháu nhờ đem giùm về Truông Mây đặt trước mồ anh em.

Nói xong ông đứng lên bước lại giá sách gần đó. Tín Nhi lặng lẽ ngồi yên quan sát. Hai con dao nhỏ xíu đã nằm gọn giữa lòng hai bàn tay chàng. Chú Nhẫn lấy một cuốn sách trên giá rồi quay lại. Một khẩu súng hỏa điêu ngắn đã nằm gọn trong tay ông. Ông mỉm cười nói:

–  Tôi định gởi món quà này nhờ cháu mang đi, nhưng thôi, tôi tự mang đi cũng được.

Tín Nhi liếc qua khẩu súng rồi nhìn thẳng vào mắt Chú Nhẫn mỉm cười:

–  Chú thật đúng là chân nhân bất lộ tướng, đáng tiếc loại chân nhân như chú còn sống ngày nào, thế gian này khổ thêm ngày ấy.

Chú Nhẫn bình thản nói:

–  Có điều sức mọn như cháu mà đòi đi trả thù cho anh em thì hơi tự coi trọng mình quá đấy. Xin lỗi nhé. Cháu xuống gặp anh em cho tôi hỏi thăm. Vĩnh biệt!

Ánh mắt Chú Nhẫn láy động, ngón tay siết cò. Nhanh hơn ngón tay siết cò một chút, tay phải của Tín Nhi máy động, ánh chớp lóe lên, Tín Nhi phóng người sang bên. Một tiếng nổ chát chúa vang lên, Chú Nhẫn tay run run thả khẩu súng hỏa điêu rơi xuống đất, miệng thều thào:

–  Vô . . . Ảnh… Phi… Đao…

Cả thân người của ông ta ngã xuống, một lưỡi phi đao nhỏ đã cắm sâu vào giữa trái tim. Tín Nhi tuy phản ứng rất nhanh nhưng viên đạn cũng đã trúng bên hông đau nhói, máu phún ra ướt cả vạt áo. Chàng phóng nhanh đến bên xác Chú Nhẫn dùng lưỡi phi đao đang găm nơi trái tim rạch một vòng rồi thò tay vào móc trái tim tên phản bội bỏ vào chiếc túi đeo xéo nơi bụng. Quỳnh Dao từ bên trong nghe tiếng súng nổ vội chạy ra, vừa nhìn thấy cảnh Tín Nhi móc trái tim của Chú Nhẫn bà kinh hãi rú lên một tiếng. Con dao nhỏ trong tay trái của Tín Nhi nhoáng lên, Quỳnh Dao ngã nhào lên xác Chú Nhẫn chết ngay lập tức. Tín Nhi nói:

–  Các ngươi chết chung với nhau có đôi như vậy cũng đã tốt số lắm rồi.

Chàng sửa soạn phóng người ra thì có nhiều tiếng chân người chạy đến trước cửa. Cánh cửa mở tung, hai tên kiếm thủ người Hoa phóng vào, Tín Nhi vung tay một phát, lưỡi phi đao vô ảnh lại cắm đúng giữa trái tim tên đi đầu, hắn la lên một tiếng té nhào xuống đất, tên thứ nhì lao tới, thanh kiếm trong tay xuất một chiêu sấm sét bắn tới Tín Nhi. Phóng xong lưỡi phi đao, trong tay Tín Nhi đã có thanh nhuyễn kiếm, chàng vung kiếm lên đỡ thế công của địch thủ và xuất luôn chiêu Nhất Điểm Hồng. Tên kiếm thủ oặc oặc lên mấy tiếng rồi ngã lăn ra đất. Bên ngoài tiếng quân lính la ó vang trời, một toán xông vào. Tín Nhi không ham giết người vô tội, chàng phóng mình qua cửa sổ, nhảy lên nóc nhà rồi băng mình phóng đi trong đêm tối tìm đến chỗ con Huyết câu. Con ngựa cất cao bốn vó phóng đi, phía sau một toán lính chạy bộ đuổi theo nhưng chỉ sau một lát, những tiếng hò reo im lặng dần.

Tín Nhi rạp mình trên lưng ngựa phóng miệt mài trong đêm tối. Bầu trời đen kịt, thỉnh thoảng một vài tia chớp nhoáng lên từ phía biển Đông. Vết thương bên hông bị động mạnh nên máu ra rất nhiều, chàng vội dừng ngựa, lấy thuốc kim san bên mình ra, mò mẫm rịt vào vết thương rồi xé vải quấn ngang bụng để cầm máu. Không may, con Huyết câu trong lúc phóng đi thay vì chạy ra bến sông Mỹ Lợi trên sông Vàm Cỏ lúc vào Kiến Hòa, nó lại rẽ trái sang một lối khác, bởi vậy khi đến bờ sông, nhìn dòng nước mênh mông vắng tanh không một bóng thuyền chàng mới giật mình, biết mình đã lạc lối. Tín Nhi hơi lo trọng bụng vì vùng đất này bao quanh bởi sông rạch và biển cả, nếu không sang được bên kia bờ sẽ bị quan binh truy tìm đến nơi. Tín Nhi thả ngựa dọc theo bờ sông để tìm thuyền, nhưng đi mãi đến khi nghe tiếng gà gáy từ phía trước vọng lại vẫn không thấy một bóng thuyền hay nhà cửa. Phương Đông đã tờ mờ sáng. Chợt Tín Nhi thấy xa xa có một xóm nhà ven sông bèn giục ngựa chạy nhanh đến nơi. Ngôi nhà nằm gần bờ sông có ánh đèn le lói, có lẽ chủ nhân đã thức dậy. Tín Nhi cho ngựa vào sân nhà, ngôi nhà lá mái ba gian khá lớn nằm lọt trong một vườn cây anh đào rậm rạp. Chàng xuống ngựa bước đến gõ cửa. Trời bắt đầu đổ mưa tầm tã. Có tiếng của một thiếu nữ trẻ hỏi vọng ra:

–  Ai đó? Sao gõ cửa sớm vậy?

Tín Nhi đáp:

–  Tôi bị lạc đường, muốn sang sông nhưng không tìm ra thuyền nên ghé hỏi thăm.

Cánh cửa mở, một khuôn mặt xinh xắn của thiếu nữ hiện ra trong ánh sáng lờ mờ buổi sớm mai. Cô gái vừa trông thấy bộ dạng của người lạ thì hoảng kinh la lớn:

–  A! Ông là ai?

 Tín Nhi vội trấn an:

–  Xin cô nương đừng sợ, tôi là người lương thiện lỡ đường, không phải giặc cướp gì đâu.

Có tiếng đàn bà phía sau vọng lên:

–  Hoài Quân à, ai đến mà la hoảng lên vậy con?

Cô gái tên Hoài Quân đáp:

–  Dạ, một người bị thương mẹ ạ. Mẹ lên xem.

Một thiếu phụ ăn mặc lối nhà quê nhưng không dấu được vẻ quý phái trên khuôn mặt xinh đẹp và phúc hậu từ nhà sau bước lên, tay bưng một cây đèn. Nhìn thấy chàng thanh niên máu nhuộm đỏ một bên người, bà hoảng hốt nói:

–  Mau vào đây, công tử bị thương ở đâu, có nguy lắm không? Trời ơi, mất nhiều máu thế này, nguy quá. Hoài Quân, mau đi lấy thau nước sạch và muối vào đây.

Cô gái tên Hoài Quân “dạ” một tiếng rồi đi nhanh ra phía sau lấy nước. Thiếu phụ kéo Tín Nhi đến ngồi lên chiếc chõng tre đặt gần cửa sổ ra dấu bảo chàng nằm xuống, bà nói:

–  Công tử vén áo lên tôi xem, trời ơi, bị súng bắn à? Viên đạn còn nằm ở đây, phải rạch da lấy ra mới được, để lâu thịt sẽ thối ra là nguy. Nhà lại không có con dao nào sắc mới hại đây chứ.

Tín Nhi nhìn thấy vẻ lo âu của thiếu phụ, trong lòng chợt trào dâng một cảm giác ấm áp lạ thường. Suốt đời chàng chưa bao giờ được một người đàn bà đáng tuổi mẹ lo lắng, chăm sóc như thế bao giờ. Chàng cảm động nói:

–  Cháu có con dao nhỏ đây. Thím có thể dùng nó để mổ.

Bèn co chân lên, vói tay lấy thanh trủy thủ Thiết Phụng ra đưa cho thiếu phụ, vừa lúc Hoài Quân mang thau nước muối lên. Thiếu phụ múc nước muối rửa sạch vết thương, sau đó dùng con dao cẩn thận rạch một đường nhỏ cạnh vết đạn, xong nhón hai ngón tay cắp viên đạn ra. Tín Nhi cắn răng chịu đựng không một tiếng rên. Thiếu phụ nói:

–  Ráng chịu đau một chút, để tôi rửa nước muối sát trùng lần nữa rồi rịt thuốc vào. Công tử có thuốc dấu trị thương bên mình không?

–  Dạ có.

Chàng lấy trong túi ra hộp cao lúc nãy đã dùng đưa cho thiếu phụ. Hoài Quân mang thau nước đỏ ngầu vì máu ra phía sau. Thiếu phụ nhìn hộp cao và ngửi mùi thuốc cao trong hộp liền nhớ đến việc cũ, bà vừa rịt thuốc vào chỗ vết thương vừa nói:

–  Tình trạng công tử bây giờ giống năm năm trước tôi cũng đã từng cứu một thanh niên trạc tuổi công tử. Lần ấy còn nguy kịch hơn bây giờ, tôi cứ tưởng anh ta sẽ chết vì mấy vết kiếm chí mạng. Vậy mà nhờ vào mấy viên thuốc anh ta mang bên người cùng loại cao giống như hộp cao này, hai hôm sau Lâm nhi đã có thể ra đi. Cháu tên gì?

–  Cháu là Tín Nhi. Thím cũng cứu anh ta ở đây à?

–  Không, lúc ấy chúng tôi còn sống ở Cù Lao Phố.

–  Vậy ra thím là người trên thành phố. Vì sao thím và Hoài Quân lại bỏ phố về đây?

Thiếu phụ buồn bã đáp:

–  Sau hai cơn biến loạn ở Cù Lao Phố, tôi chán ngán cảnh thị thành nên đem Hoài Quân về quê. Đây là khu đất ông bà ngoại của Hoài Quân để lại.

Tín Nhi nhớ tới chuyện Trần Lâm bị thương ở Cù Lao Phố năm xưa nên hỏi:

–  Người thanh niên tên Lâm nhi họ gì thím?

–  Họ Trần. Lâm nhi là một thanh niên tài giỏi, hiền hậu và tuấn tú vô cùng.

Tín Nhi nghe tên Trần Lâm thì “a!” lên một tiếng:

–  Là Lâm ca à? Trần Lâm là đại ca của cháu.

Thiếu phụ mừng rỡ hỏi:

–  Vậy sao? Lâm nhi bây giờ thế nào rồi?

Tín Nhi nhắm mắt thở dài buồn bã, thiếu phụ lo lắng hỏi:

–  Lâm nhi gặp việc gì bất trắc hay sao?

Tín Nhi nghẹn lời đáp:

–  Anh ấy đã chết cùng với mấy ngàn nghĩa sĩ Truông Mây hai năm trước rồi.

Hoài Quân từ dưới nhà sau vừa lên tới, nghe nói Trần Lâm đã chết cô hỏi nhanh:

–  Anh Trần Lâm chết rồi à? Ôi, anh ấy thật hiền lành, dễ mến vô cùng.

Thiếu phụ thở dài nói:

–  Người tốt thường hay yểu mạng, ông trời thật bất công. Tôi có nghe một vài bà con ngoài đó chạy vào đây định cư, họ hát bài vè Chàng Lía và kể lại câu chuyện hào hùng của các hiệp sĩ Truông Mây. Không ngờ kết cuộc lại thê thảm như vậy. Còn cháu, vì sao bị bắn đến trọng thương thế này?

–  Anh em Truông Mây bị một kẻ đầu não phản bội bỏ độc ám toán nên tất cả đã hy sinh. Cháu may mắn thoát khỏi độc thủ nên đi tìm tên phản bội lấy tim hắn đem về tế mộ anh em. Đêm qua cháu giết được hắn nhưng bị bắn trúng một viên đạn. Trái tim của hắn cháu còn bỏ trong chiếc túi này.

Chàng lấy chiếc túi đeo bên hông phải cầm nơi tay. Mùi máu tanh từ chiếc túi bốc lên làm Hoài Quân phải nhăn mặt. Tín Nhi nói:

–  Xin lỗi đã làm nhơ bẩn ngôi nhà xinh xắn của thím và Hoài Quân. Cháu muốn hỏi xin một ít muối để ướp trái tim này cho khỏi hư, thím còn nhiều muối không?

–  Xứ này gần biển, muối đâu có hiếm. Đưa đây, tôi ướp cho. Cháu nghỉ ngơi, tôi nấu cháo ăn đỡ đói đã nhé. Làm sao cháu biết kẻ thù ở xứ này mà tìm tới? Là ai ở đây vậy?

–  Cũng may mắn thôi. Hắn chính là quan tổng đốc Kiến Hòa này.

Thiếu phụ kinh ngạc la lên:

–  Là quan tổng đốc mới đổi về đây à?

–  Dạ đúng. Hắn phản bội anh em, triều đình ban hắn ngàn vàng, một mỹ nhân và cái ghế tổng đốc. Mất hai năm cháu mới tìm ra hắn.

Thiếu phụ lo lắng:

–  Những tên phản bạn chết là đáng, nhưng cháu giết quan tổng đốc là có tội lớn với triều đình. Phải mau sang sông trốn đi thật nhanh. Xứ này bao bọc bởi sông nước, dùng ngựa không tiện lợi tí nào cả đâu. Chà! Nhưng đang bị thương thế này làm sao ra đi?

–  Ở nhà có ghe thuyền gì không thím?

–  Có một chiếc ghe nhỏ Hoài Quân dùng nó để chở trái anh đào xuống chợ bến Mỹ Lợi bán. Cháu đang bị thương nặng thế này không thể đi được, nếu gặp quan binh làm sao chống đỡ.

–  Cảm ơn thím lo lắng, nhưng cháu ở lại đây sẽ liên lụy đến thím.

–  Không hề gì. Nhà này quan quân không ai đến được đâu, cháu khỏi lo.

Tín Nhi ngạc nhiên hỏi:

–  Sao vậy thím?

Thiếu phụ mỉm cười nói:

–  Không có gì. Tiên phu tôi trước kia coi việc võ bị cho Trấn Biên bị tử trận. Nay triều đình truy tặng đặc ân, hơn nữa quan tổng trấn Định Tường là chỗ thâm giao với tiên phu lúc sinh tiền nên ra lệnh địa phương phải bảo vệ chúng tôi và coi nhà tôi là nơi bất khả xâm phạm.

–  Ra là vậy? Dù sao cháu cũng phải rời khỏi nơi này sớm chừng nào hay chừng ấy.

–  Cháu đừng ngại, cứ tịnh dưỡng vài ba hôm rồi hãy tính. Để tôi xuống làm ít thức ăn, cháu cần phải ăn nhiều để bù vào số máu đã mất.

Bà đứng lên dặn Hoài Quân:

–  Con lấy chăn đắp cho Tín Nhi kẻo bị gió lạnh. Trời đã tạnh mưa, con ra dắt con ngựa đem cột giữa vườn anh đào để người ta khỏi thấy, nhớ xóa các dấu chân ngựa cho sạch.

Rồi bà xuống nhà sau làm thức ăn, Hoài Quân vào trong mang ra một tấm chăn đắp lên người Tín Nhi, cô nở nụ cười thật tươi nói:

–  Hồi đó anh Trần Lâm bị thương ngất xỉu ngoài tiểu đình cũng do Hoài Quân nhìn thấy, lần này anh bị thương cũng do Hoài Quân mở cửa, thật là ngộ.

–  Lúc đó chắc Hoài Quân còn bé tí phải không?

Cô gái tròn xoe đôi mắt nói:

–  Mười tuổi chứ bé tí sao được.

Tín Nhi mỉm cười:

–  Ừ, mười tuổi là bé lớn rồi mới đúng chứ, tôi nói sai.

–  Anh Tín Nhi năm nay bao nhiêu?

–  Mười tám.

–  Vậy là anh lớn hơn Hoài Quân ba tuổi. Để Hoài Quân dắt ngựa đi giấu đã, anh nằm nghỉ nhé.

Hoài Quân đi rồi, Tín Nhi đưa mắt nhìn hai bức tranh treo trên tường nhà. Một bức vẽ một vị tướng quân mặc võ phục, bức kia vẽ một đứa bé còn trong nôi. Cả hai bức vẽ, nét bút thật sinh động, tài tình. Bên ngoài mưa đã tạnh, mặt trời đã lên cao. Bỗng có tiếng vó ngựa vọng từ xa tới, lát sau có tiếng nhiều người nói chuyện ngoài đường. Tín Nhi nhổm dậy nhìn ra cửa sổ. Một đoàn quân kỵ khoảng mười lăm tên vũ trang đang dừng trước cổng sân nhà, một tên trong bọn đang nói chuyện gì đó với hai mẹ con Hoài Quân, sau đó chúng phóng ngựa đi mất hút. Lát sau thiếu phụ từ dưới bếp bưng lên một tô cháo khói bốc nghi ngút:

–  Cháu ngồi dậy ăn bát cháo trứng gà này cho đỡ đói. Phải ăn nóng, nếu không trứng nguội sẽ tanh lắm.

Tín Nhi ngồi lên đỡ bát cháo hỏi:

–  Bọn lính đi lùng tìm cháu ngoài kia phải không thím?

–  Ừ. Chúng hỏi thăm thôi, bỏ đi hết rồi.

Ăn xong bát cháo, Tín Nhi hỏi:

–  Con muốn biết tên của thím để ghi nhớ vào lòng.

Thiếu phụ mỉm cười:

–  Võ Liên Chi.

Hai hôm sau vết thương bắt đầu khép miệng, Tín Nhi từ giã mẹ con Liên Chi ra đi. Hoài Quân dùng chiếc ghe nhỏ chở chàng và con Huyết câu sang sông. Dòng nước Vàm Cỏ êm đềm trôi xuôi với ngọn gió trong lành buổi bình minh. Xa xa từng đàn nhạn trắng bay lượn trên đồng lúa xanh bát ngát.

Hoài Quân vừa chèo vừa hát vang mấy câu hò miền đồng ruộng. Giọng nàng trong trẻo, êm ái như suối tóc nàng đang bay nhẹ trong gió sớm:

Hò… ơ… Sông nào sâu cho bằng sông Vàm                     Cỏ

Trái nào đỏ cho bằng trái anh đào

Anh sống sao cho đáng mặt anh hào

Thì dù con nước lớn..hờ…

Hò.. ơ.. ơ..Dù con nước lớn em cũng chống                     sào đón anh.

Nàng hò xong, đôi mắt tròn xoe nhìn Tín Nhi cười khúc khích. Mấy hôm nay khối hận thù bấy lâu đè nặng trong lòng Tín Nhi đã được trút bỏ, sự chăm sóc thân tình như ruột thịt của Liên Chi và tính cách tự nhiên, thân thiết của Hoài Quân đã khơi mở trái tim chàng rồi đong đầy tình cảm vào đó. Lúc này ngồi phía trước mũi thuyền quay mặt lại chèo phụ, nhìn dáng người thon nhỏ với nét mặt xinh xắn và hồn nhiên của Hoài Quân khiến lòng chàng thấy nao nao. Cảm xúc chợt trào dâng, chàng vô tình ráp nối những hình ảnh trước mắt và những ý nghĩ đang hiện lên trong đầu thành một bài thơ và cất tiếng ngâm nga:

Anh về nhớ gái Gò Công

Nhớ đàn nhạn trắng nhớ đồng lúa thơm

Nhớ câu hò những chiều hôm

Tóc thề cô lái gió nồm nhẹ bay

Cho dù biển Bắc, trời Tây

Thế nào anh cũng về đây thăm nàng…[1]

Hoài Quân nghe Tín Nhi ngâm xong reo lên:

–  Bài thơ hay quá. Không ngờ anh Tín Nhi lại biết làm thơ. Anh nhớ đấy nhé, anh hứa là sẽ trở về đây thăm Hoài Quân đấy nhé.

Tín Nhi cười nói:

–  Lần đầu tiên tự dưng buộc miệng đọc tràn lại được bài thơ. Tôi sẽ trở lại thăm Hoài Quân và thím.

Giọng Hoài Quân bỗng trở nên buồn bã:

–  Anh nhớ trở lại, không được như anh Trần Lâm đi là đi mãi chẳng bao giờ về thăm mẹ và Hoài Quân.

–  Tôi hứa nhất định sẽ về thăm mà. Có dịp vào Nam, việc đầu tiên là ghé thăm Hoài Quân, chịu không?

–  Hứa thì nhớ giữ lời đấy.

Chiếc ghe cập bờ bên kia, Hoài Quân tháo chiếc khăn đỏ quấn cổ của nàng đưa cho Tín Nhi nói:

–  Khi anh trở lại không cần qua đò ở bến Mỹ Lợi, cứ đến chỗ này cột chiếc khăn đỏ trên nhánh cây kia, Hoài Quân nhìn thấy sẽ sang đón anh.

Tín Nhi cầm chiếc khăn hỏi:

–  Lỡ như Hoài Quân hai ba ngày không nhìn sang đây, tôi phải đứng đây chờ hai ba ngày phải không?

Hoài Quân nói, giọng qủa quyết:

–  Hoài Quân nhất định sẽ nhìn thấy ngay mà. Hàng ngày Hoài Quân sẽ ra bờ sông nhìn sang thăm chừng.

Tín Nhi xúc động nói:

–  Tôi chỉ nói đùa thôi, chưa biết khi nào mới trở lại được, Hoài Quân đừng mất công trông chừng hàng ngày. Khi trở lại, tôi có đứng chờ hai ba ngày hay cả tháng cũng không sao mà.

Họ quyến luyến chia tay. Tín Nhi chờ cho con đò ra đến giữa dòng mới lên ngựa phóng đi. Chàng trở lại quán Bến Nghé tìm Hoàng Nhi, cả hai lên Cù Lao Phố, ghé Thần Quyền Môn báo cho Đại Kỳ và Hồng Liên biết tin. Hồng Liên giữ hai người ở lại đón Tết Tân Mão. Khi vết thương Tín Nhi đã lành lặn, cả hai từ giã Thần Quyền Môn lên đường trở lại Quy Nhơn. Hoàng Nhi nay đã biết cưỡi ngựa, nó có lẽ là chàng kỵ sĩ nhỏ tuổi nhất vượt qua gần ngàn dặm đường xa.

Qua khỏi trấn Thuận Thành là nơi trước kia mẹ nó chết, Hoàng Nhi trở lại tìm nấm mồ định thắp cho mẹ nén hương nhưng mồ đã bị mưa gió làm mất đi dấu tích, chỉ còn lại hòn đá và khúc cây lúc trước nó đóng trước mồ. Nhìn những chiếc xương người vung vãi gần đó, nó hoảng hốt nói với Tín Nhi:

–  Mồ mẹ em bị thú hoang bới lên ăn rồi. Trời ơi, chỉ tại em không chôn mẹ sâu hơn.

Rồi quỳ xuống vừa khóc nức nở vừa thu nhặt những lóng xương bỏ vào chiếc túi đeo bên hông. Tín Nhi ứa lệ nhặt phụ với nói. Hoàng Nhi nhặt xong ngồi ôm chiếc túi sụt sùi khóc mãi. Tín Nhi để cho nó khóc một lúc lâu mới bước tới đỡ đứng dậy an ủi:

–  Người chết là hết, không bị thú hoang ăn thì dòi bọ cũng đục khoét, em đừng buồn nữa.

Hoàng Nhi mếu máo:

–  Nhưng lỗi do em không đào nổi một cái huyệt cho sâu chôn mẹ, để mẹ chết mà không toàn thây.

–  Em không có lỗi gì đâu, lúc đó em còn nhỏ quá mà. Dù sao em còn diễm phúc hơn anh, có mẹ để chôn, có hài cốt để lưu giữ, không như anh, cha mẹ là ai cũng chẳng biết, cứ như từ đất nẻ chui lên vậy. Thôi chúng ta đi.

………….

Mời xem tiếp vào thứ bảy 31-10-2015.  

[1] Trích Trường thi Hòn Vọng Phu – Vũ Thanh.