Kỳ 181:

……….

Cả hai lại tiếp tục con đường thiên lý, vừa đi Tín Nhi vừa dạy võ nghệ cho Hoàng Nhi. Thằng bé thông minh và lanh lợi cực độ, lại có chữ nghĩa cha mẹ nó đã dạy và chút căn bản võ nghệ từ Hoàng Bá truyền lại nên tiến bộ rất nhanh. Về đến Quy Nhơn, Tín Nhi liền đến lò rèn của Hồ Thiết Thủ. Trên đường đi, chàng để lại ký hiệu cho toán thám báo cũ biết, lại nhờ anh em Hành Khất dùng bồ câu thông tin cho những anh em ở Thuận Hóa, Quảng Nam, Quảng Ngãi, hẹn nhau đúng ngày Truông Mây gặp nạn, hai mươi bốn tháng hai, về tế mộ anh em. Vừa hay năm nay tiết Thanh Minh lại rơi đúng vào hôm đó. Hồ Thiết Thủ bưng chiếc hộp có ướp trái tim Chú Nhẫn ngửa mặt cười ha hả:

–  Trời xanh có mắt. Ha… ha… Tên phản bạn rồi cũng phải có ngày hôm nay. Cháu giỏi lắm Tín Nhi. Ha… ha…

Trong khi Năm Sức không cầm được nước mắt, hai hàng lệ mừng vui và thương tiếc chảy dài trên hai má phúng phính thịt của hắn. Dứt trận cười Thiết Thủ nói:

–  Cháu đã liên lạc hết anh em cũ chưa? Phải cùng nhau tề tựu đông đủ để mừng ngày nhìn thấy trái tim thằng phản bạn bị ướp muối. Để chú nhắn bọn thằng Ba Lực và Tư Lửa cho chúng biết. À! Còn thằng bé con này là ai đây?

Tín Nhi nói:

–  Cháu đã nhờ anh em Hành Khất nhắn họ rồi. Đây là Hoàng Nhi, em của Hoàng Bá, cháu gặp nó lang thang một mình ở Nhà Bè nên rủ về đây.

Hoàng Nhi chào Thiết Thủ và Năm Sức, nó hỏi:

–  Lúc trước có lần anh Bá khoe ở Truông Mây có bác Thiết Thủ tay không bốc được thanh sắt nung đỏ chắc là bác đây phải không?

Thiết Thủ khoái chí cười:

–  Thằng Bá vậy mà cũng biết khen tao há. Đúng rồi đó bé con à. Có muốn học nghề bốc sắc nung đỏ của bác không?

Hoàng Nhi lắc đầu:

–  Dạ thôi. Nghề của bác suốt ngày ở trong bếp lửa, chán chết. Cháu phải học cái nghề đánh kiếm, cưỡi ngựa ra trận giết giặc của anh Tín Nhi mới thích.

Thiết Thủ cười ha hả vỗ vai thằng nhỏ có vẻ chịu tính cách của nó lắm.

Giờ Tỵ hôm tiết Thanh Minh rừng Truông Mây nắng ấm rất đẹp, trên trời từng đàn én bay liệng ríu rít kêu vang. Hai năm qua nơi đây vắng vẻ không một bóng người, hôm nay lần lượt từng nhóm nhỏ nối tiếp nhau tránh mặt quan quân địa phương tụ về rất đông. Quan Quốc phó vốn rất hận bọn Truông Mây đã làm thiệt mất hơn vạn tinh binh của phủ Chúa nên dù đã hai năm nay, tại Lại Khánh vẫn còn nhiều toán lính vũ trang chia nhau đóng ở các đồn Trường Tân, Đình Chí để chận bắt những nghĩa sĩ Truông Mây còn sống sót trở về tế mộ.

Hơn một trăm nghĩa sĩ Truông Mây, đa phần thuộc nhóm thám báo và thợ rèn, kẻ mang rượu, người mang nhang đèn, người mang thực phẩm cùng nhau bày bàn hương án trước nấm mồ chung chờ đúng Ngọ thì chính thức đem trái tim của Chú Nhẫn ra tế lễ. Mọi người đang chuẩn bị, bỗng một đoàn người ngựa ước mươi lăm người từ phía Kim Sơn tiến vào. Tín Nhi và anh em nghĩa sĩ hoảng kinh nghĩ rằng bọn quan binh kéo tới nên tất cả tay kiếm sẵn sàng chờ đợi. Khi đoàn người đến gần, Tín Nhi nhận ra người đi đầu là Nguyễn Huệ mới an lòng, vội chạy lại đón. Nguyễn Huệ nhảy xuống ngựa ôm chầm Tín Nhi giọng mừng rỡ:

–  Anh Tiểu Phi dùng phi vũ truyền thư cho ta hay tin này. Ngươi giỏi thật, cuối cùng đã tìm ra tên phản bạn. Có gặp nguy hiểm gì không?

Tín Nhi nói:

–  Cũng nhờ ngươi mách lối. Xuýt nữa bỏ mạng vì viên đạn súng hỏa điêu của hắn.

Huệ nói:

–  Chúc mừng ngươi và anh em đã trả được thù, để ta giới thiệu với ngươi anh Cả Nhạc của ta, ảnh nghe nói anh em tế mộ Truông Mây nên muốn đến để thắp nén hương.

Lúc ấy đoàn người đã xuống ngựa, Huệ giới thiệu với anh em Truông Mây. Thì ra là nhóm Nguyễn Nhạc cùng bọn Võ Văn Dũng, Quang Diệu, Văn Bưu, Văn Lộc, Đình Tú, Văn Tuyết và Ngô Văn Sở cùng một số anh em trên Tây Sơn thượng. Nguyễn Nhạc ôm quyền nói với Tín Nhi và Thiết Thủ:

–  Được biết anh em tế mộ các nghĩa sĩ nên chúng tôi cũng muốn đến để tỏ chút lòng thành kính và ngưỡng mộ những người anh hùng đã hy sinh, chắc không có điều gì phiền phức chứ?

Thiết Thủ cười ha hả nói:

–  Sao lại có điều phiền phức chứ, chúng tôi rất hoan nghênh những ai nghĩa khí tương đồng. Anh là Cả Nhạc ở Tây Sơn à?

Nhạc nói:

–  Nguyễn Nhạc chính là tôi. Nghe chú Huệ hết mực ngợi khen Hồ Thiết Thủ anh là tay luyện kiếm bậc nhất thời nay chẳng kém gì Cao Lỗ thời xưa khiến tôi náo nức muốn gặp cho biết mặt anh tài.

Thiết Thủ cười ha hả nói:

–  Chú Huệ nó quá lời rồi. Ha… ha… Có điều tôi cũng có chút ngón riêng là có thể bốc sắt nung bằng hai bàn tay thịt này. Ha…ha…

Nhạc quay sang Tín Nhi:

–  Những việc làm của huynh đệ, Nhạc tôi không thể chỉ một vài lời có thể nói ra được hết, sau lễ tế, mời ghé lại Tây Sơn hàn huyên một thời gian được chăng?

Tín Nhi nói:

–  Anh Cả cứ coi em như anh Huệ là được rồi, không cần phải nhiều lễ như vậy đâu. Em sẽ đến cùng anh và các anh ở đây uống một bữa. Chú đi với cháu chứ chú Thiết Thủ?

Huệ không chờ Thiết Thủ trả lời vội nói ngay:

–  Làm sao thiếu chú ấy được. Chú mà không đi thì cháu sẽ bám theo chú suốt ngày dùng nước dập tắt lò rèn của chú mỗi khi nhóm lên, chú nghĩ kỹ đi.

Thiết Thủ lại cười:

–  Hai con Thiết Phụng này tụi bay định hùa nhau ăn hiếp ta sao. Được, đi thì đi chứ ngại gì. Có rượu uống là khoái rồi.

Tín Nhi nói:

–  Đã đúng Ngọ, chú và anh Cả thay mặt anh em làm chủ lễ tế được rồi.

Thiết Thủ nói:

–  Tao chỉ biết thổi lửa chứ chữ nghĩa đâu mà tế. Anh Cả Nhạc thay tôi việc này đi.

Nguyễn Nhạc ngần ngại nhìn anh em Truông Mây. Tín Nhi vội nói:

–  Anh Cả đừng ngại, bọn em đều là những người tuổi nhỏ lại ít chữ, có anh thay cho việc này là may lắm rồi.

Nguyễn Nhạc nói:

–  Đã vậy tôi xin thay mặt tất cả anh em.

Đoàn người Tây Sơn đem những đồ cúng tế họ mang theo bày chung lên mộ, sau đó tất cả đứng im lặng cúi đầu trước mồ. Nguyễn Nhạc đốt hương xong rót một bát rượu, lớn tiếng khấn:

Hôm nay nhằm Tiết Thanh Minh năm Tân Mão, trước nấm mồ chung của nghĩa sĩ Truông Mây, Nguyễn Nhạc tuy không có duyên đứng dưới cờ nhưng từ lâu chí vẫn đồng khí, nay xin thay mặt toàn thể anh em còn sống sót thành kính dâng hương, kính cáo cùng tất cả anh em dưới mộ:

Than ôi! Mới ngày nào thành Truông Mây sừng sững, rực rỡ tinh kỳ, anh em chung vai sát cánh thề đồng sinh tử, nguyện cùng nhau thực hiện câu tuyên ngôn “lấy của nhà giàu phân phát cho nhà nghèo, xóa sạch bất công, phá tan ách cường quyền bóc lột”, thế mà nay âm dương đôi ngả, kẻ ra đi ngậm ngùi tức tưởi, người ở lại cánh cánh tiếc thương, lòng nặng trĩu khối căm hờn.

Thương thay! Chỉ vì lòng trời ghét bỏ khiến xui cho kẻ xấu xa đang tâm phản bạn, để cho thành Truông Mây sụp đổ, máu anh em hòa cùng gạch vụn xây nấm mồ chung.

Ô hô! Nơi đây ngày nào tiếng quân reo dậy đất, hào khí ngút trời, vậy mà nay chỉ còn văng vẳng tiếng khóc than của những oan hồn chưa tán chỉ vì chí cả chưa thành, lòng oán hận tên phản bội chưa nguôi.

May thay! Lưới trời lồng lộng tuy thưa, nhưng nghĩa khí phủ dày vũ trụ cho nên trái tim kẻ phản bạn dù đập lén tận chân trời cũng đã được anh em moi ra mang về trước mộ.

A ha! Hôm nay tất cả anh em còn sống sót tề tựu về đây cùng thắp nén nhang, dâng lên chén rượu, cầu mong anh em dưới mộ hiển linh trở về chứng giám.

Hôm nay thù nhỏ đã trả xong nhưng đại thù còn đó, chí nguyện xưa của anh em vì nửa đường gãy gánh nên vẫn dở dang. Bởi vậy những người có mặt nơi đây, mượn chén rượu này để thay lời nguyện. Nguyện rằng:

–  Dẫu tan xương cũng phải tiếp tục thực hiện chí hướng của anh em cho đến lúc hoàn thành.

–  Dầu nát thịt cũng phải đập tan bọn cường quyền tham bạo, đem ấm no cho những kẻ khốn cùng.

Hồn tử sỹ hiển linh

Thỉnh đăng đàn thượng hưởng.

Giọng Nguyễn Nhạc càng về sau càng như bị tắc nghẹn vì cảm xúc trào dâng lên đến tận cổ, hai dòng lệ anh hùng chảy tràn xuống má khiến cho hơn trăm nghĩa sĩ đang quỳ sau lưng cũng lệ nhỏ ròng ròng. Nhạc khấn xong bưng bát rượu lớn rưới tràn trước mộ, sau đó phục lạy bốn lạy, anh em cũng đồng loạt làm theo. Sau đó lần lượt từng người bước lên thắp nhang vái lạy trước mồ.

Thù đã trả xong, lời nguyền đã thỏa, Tín Nhi rút thanh trủy thủ cắt mái tóc dài của mình đặt trước mồ, lệ anh hùng lại nhỏ ròng ròng. Chờ mọi người lễ xong, Hồ Thiết Thủ chắp tay xá Nguyễn Nhạc giọng khích động:

–  Thiết Thủ tôi xin thay mặt anh em Truông Mây cảm ơn Cả Nhạc. Lời khấn tế của anh quá sức cảm động, hơn nữa lòng thành của anh đã làm chúng tôi không cầm được nước mắt.

Nhạc ôn tồn nói:

–  Không cần nói vậy đâu. Nhạc tôi vốn chữ nghĩa không nhiều, cũng là nhờ trước khi đi thầy Giáo Hiến đã dạy cho cách khấn tế mới được như vậy mà thôi.

Thiết Thủ nói:

–  Nhưng sự xúc động chân thành thì không thể nào giả được đâu.

–  Tôi và Lía quen nhau từ lúc hai đứa còn ở truồng tắm sông Côn. Hôm nay đọc lời khấn tế, chợt nhớ tới những kỷ niệm xưa thật không khỏi thương tâm, sa lệ.

Hoàng Nhi là đứa trẻ lanh miệng, nó đang đứng cạnh Nguyễn Nhạc chợt lên tiếng hỏi:

–  Anh Cả Nhạc là bạn thân của Chú Lía, sao lúc trước không lên Truông Mây giúp đỡ Chú Lía một tay?

Câu hỏi tuy ngộ nghĩnh nhưng rất hóc búa của thằng bé làm mọi người vừa ngạc nhiên vừa thích thú vì trong thâm tâm mọi người không ít thì nhiều đều thắc mắc như vậy. Nguyễn Nhạc mỉm cười đưa tay vịn vai Hoàng Nhi đáp:

–  Câu hỏi của em có lẽ cũng là câu hỏi của bao nhiêu người khác ở đây, mà cũng là điều ray rức của anh trong suốt thời gian qua.

Ông nhìn mọi người nói tiếp:

–  Thật ra tuy là bạn cùng lứa nhau nhưng lúc đó hoàn cảnh của tôi và Lía có chút khác biệt, chính vì sự khác biệt đó, Lía lại là người tự trọng nên đối với tôi không thân thiết lắm, nhất là khi chúng tôi lớn lên. Khi Lía thành lập Truông Mây, cá nhân tôi rơi vào hoàn cảnh gia đình khó khăn, cha tôi mất sớm, tôi phải thay mặt đảm đương gia đình để lo cho mẹ già và ba đứa em nhỏ. Lúc tôi ra đời bươn chải, chú Huệ này mới có bảy tuổi.

Thiết Thủ vội kéo tay Hoàng Nhi ra sau, cười đỡ lời:

–  Thằng bé vô tâm hỏi bậy, anh Cả Nhạc không cần quan tâm làm gì.

Nhạc cười:

–  Không sao, tôi cũng muốn nói ra điều này để chúng ta hiểu nhau hơn.

Tín Nhi nghe Nguyễn Nhạc nói nghĩ thầm: “Người này khí độ hiên ngang lại rất thành thật không ưa điều sỉ diện hão đáng để mình theo”. Bèn nói với anh em nghĩa sĩ cũ của Truông Mây:

–  Giới thiệu với tất cả anh em, anh Cả Nhạc hiện đang có một vùng đất tình thương ở Tây Sơn thượng dùng làm nơi bảo bọc những người cùng khổ khắp thiên hạ. Anh Cả có chí muốn tiếp tục sự nghiệp dang dở của Đại ca Lía, dựng lại ngôi thành khác như thành Truông Mây ở An Khê, anh em nào muốn tiếp tục dâng hiến sức mình cho trăm họ thì đi cùng tôi lên đó, còn không, chúng ta chia tay nhau tại đây.

Tất cả anh em Truông Mây khẳng khái lên tiếng:

–  Chúng tôi sẽ theo đội trưởng về với Tây Sơn.

Đang nói chuyện bỗng phía đèo Màn Lăng có một viên pháo bắn vọt lên cao, phía sông Lại Dương cũng có pháo hiệu bắn lên. Nguyễn Nhạc hỏi:

–  Pháo gì vậy?

Tín Nhi mỉm cười đáp:

–  Là pháo hiệu anh em bắn lên cho mình biết hiện đang có hai toán binh triều tiến vào Truông Mây. Chúng ta mau giải tán nếu không muốn chạm trán với họ.

Bọn nghĩa sĩ Truông Mây lòng vẫn nuôi căm thù bọn quan binh nên lớn tiếng nói:

–  Hãy chờ chúng đến giết một trận cho hả mối hận trong lòng. Sợ gì.

Nguyễn Huệ vội nói:

–  Không nên. Mong anh em hãy giữ mối căm thù đó đến khi chúng ta chuẩn bị xong mọi sự, bạo động sớm sẽ có hại cho việc khởi sự của phong trào.

Tiếng nói của Huệ trước đám đông tuy nhỏ nhẹ nhưng người nghe có cảm tưởng chẳng khác nào một mệnh lệnh, tất cả đều có một cảm giác chung không thể không tuân theo. Lúc ấy ở cả hai phía lại có pháo hiệu bắn lên, Tin Nhi nói gấp:

–  Đó là dấu hiệu báo quân địch rất đông. Chúng ta phải rút nhanh.

Huệ nói với Tín Nhi và mọi người:

–  Tạm thời chúng ta rút về lò rèn. Hôm nay chúng ta mang hết số binh khí ở đó lên Tây Sơn.

Mọi người vội vàng theo Thiết Thủ rút nhanh về phía lò rèn, sâu trong núi. Trước khi đi, Tín Nhi lấy ra một mảnh giấy, dùng bút than viết mấy chữ “Tặng trái tim tên phản bội Chú Nhẫn lại cho các ngươi”, dùng chiếc hộp đựng trái tim đè lên, cùng Nguyễn Huệ phá lên cười ha hả phóng ngựa đi.

Mọi người vừa rút đi thì phía rừng Kim Sơn một toán kỵ binh khoảng hai trăm người phóng tới, dưới nhánh sông Kim Sơn năm chiếc thuyền cập vào bờ, một toán quân lính hàng trăm tên đổ bộ lên, tiến thẳng vào Truông Mây. Viên tướng đi đầu đoàn kỵ binh chính là tên đốc trưng Đằng, bên cạnh hắn là Thiết quyền Quách Triệu Dũng, cả hai đang lãnh nhiệm vụ giữ kho lương Càn Dương, và một võ tướng của đồn binh Phù Ly. Nhìn quang cảnh vắng tanh của Truông Mây, đốc trưng Đằng vỗ tay vào đùi tiếc rẻ:

–  Bọn này nhanh chân thật, mới đây đã biến mất không còn tên nào. Tôi nghe báo có cả tên Nguyễn Nhạc ở Kiên Thành tới dự lễ tế mộ. Tiếc thật, dù sao lần này tôi cũng báo lên phủ để hạch tội tên Biện Nhạc này.

Một tên lính nhảy xuống ngựa lấy tờ giấy đặt dưới chiếc hộp đưa cho đốc trưng Đằng:

–  Quan Đốc coi, chúng để lại tờ giấy này.

Đốc trưng Đằng đọc xong sắc mặt đỏ lên vì giận, hắn nói với viên tướng Phù Ly:

–  Bọn chúng đã tìm ra Chú Nhẫn và moi tim đem về tế mộ. Thật là một đám cướp vô thiên, chúng muốn làm loạn trở lại hay sao đây. Tướng quân phải báo lên huyện để có biện pháp truy lùng và bắt cổ hết bọn chúng mới được.

Viên tướng nói:

–  Việc này tôi sẽ lo, đốc trưng an tâm.

Đốc trưng Đằng nhảy xuống đất, bước lại đá các đồ vật tế lễ tung tóe khắp nơi rồi hằn học phóng lên ngựa phất tay ra lệnh kéo về.

Trong khu lò rèn, Nguyễn Nhạc khi thấy số binh khí và các lò rèn thì không khỏi giật mình kinh ngạc. Ông nhìn Hồ Thiết Thủ bằng con mắt khâm phục:

–  Chú Huệ đã không nói quá về anh chút nào cả. Tây Sơn nếu được anh về giúp cho một tay thì hiệu quả sẽ được nhân lên gấp bội.

Thiết Thủ cười hề hề nói:

–  Thiết Thủ tôi không vợ, không con, suốt đời sống ở chỗ lò rèn. Nếu việc làm của Tây Sơn là vì hạnh phúc của bá tánh nghèo khổ thì anh Cả có đuổi tôi cũng không đi.

Nhạc cười nói:

–  Anh đã nói như vậy thì Nhạc tôi có chết cũng phải làm theo. Hôm nay chúng ta dời toàn bộ vật dụng nơi đây lên Tây Sơn thượng chứ?

Thiết Thủ nói:

–  Tất nhiên rồi.

Tín Nhi hỏi Nguyễn Huệ:

–  Ngươi đã tới chỗ sư phụ ta chưa?

Huệ đáp:

–  Chưa. Ta chờ ngươi.

Tín Nhi nói:

–  Hôm nay mình ghé đó luôn thể.

*

Năm nay Nguyễn Nhạc tổ chức ngày giỗ cha mình lớn hơn mọi năm. Ông cho mời rất đông khách khứa mọi nơi và bà con quanh vùng Phú Lạc đến dự. Sau đêm dự đám giỗ, tất cả bà con vừa bàng hoàng kinh sợ, vừa mừng thầm trong bụng vì những chuyện xảy ra trong đêm hôm đó. Họ kể cho nhau nghe câu chuyện Nguyễn Nhạc được vị thần trên núi Trưng Sơn mang chiếu chỉ của Ngọc Hoàng xuống sắc phong “Nguyễn Nhạc Vi Vương”, đồng thời trao cho Nguyễn Nhạc hai thanh thần kiếm, một thanh của Vua Hỏa Tây Nguyên, thanh thứ hai chính là Thuận Thiên bảo kiếm ngày xưa Lê Thái Tổ đã lấy được từ đó dựng nghiệp nhà Lê, dặn Nguyễn Nhạc dùng kiếm thay trời cai trị nhân dân miền núi và đồng bằng.

Câu chuyện như thần thoại kia nhanh chóng được loan truyền khắp nơi, chẳng bao lâu cả xứ Nam Hà đều hay biết. Dân chúng bấy lâu nay sống khổ cực dưới ách tham quan, giờ nghe điềm trời báo có minh chúa ra đời nên người người lòng mừng khấp khởi, hướng về Tây Sơn trông ngóng ngày vị chân chúa kia khởi sự để giải phóng cuộc đời họ ra khỏi ách gông cùm, xiềng xích của chế độ mục nát nhà Nguyễn.

*****

Hồi thứ năm

Giữa giáo trường,  Lê Văn Hưng xứng danh Thất Hổ

Luyện hùng binh, Nguyễn Huệ đáng mặt Nguyên nhung