Kỳ 182:

Hồi thứ năm

Giữa giáo trường,  Lê Văn Hưng xứng danh Thất Hổ

Luyện hùng binh, Nguyễn Huệ đáng mặt Nguyên nhung

Mùa hạ năm Tân Mão, 1771, khí trời nóng như thiêu làm ruộng đồng nứt nẻ, mùa màng, hoa quả đều thất thu, nạn đói khắp nước càng trầm trọng hơn. Quan lại thừa cơ luật pháp triều đình lỏng lẻo đã thẳng tay đàn áp, bóc lột dân chúng khiến cho đời sống người dân đen đắng cay chẳng khác gì nơi địa ngục. Khắp nơi, người ta truyền miệng nhau câu chuyện “Nguyễn Nhạc Vi Vương” và vùng đất Tây Sơn đang dang tay đón nhận những người khốn khổ về tá túc, cuộc sống ở đó vừa an toàn vì không có cảnh quan lại áp chế, lại có ruộng rẫy để canh tác mưu sinh. Thế là từng đoàn người đói khổ rủ nhau kéo về vùng đất tình thương tìm cuộc sống mới.

Mấy tháng qua, Nguyễn Lữ, Nguyễn Huệ cùng các thủ lĩnh Tây Sơn tăng cường việc tiếp nhận những người mới theo về, phân phối các vùng cư trú và canh tác cho họ. Chỉ trong vòng từ đầu năm Tân Mão đến mùa Thu, số người mới về theo lên đến hơn bốn nghìn, nâng tổng số cư dân Tây Sơn trung và thượng lên hơn vạn. Nguyễn Huệ và Nguyễn Văn Tuyết chọn những người trai tráng, khỏe mạnh sung vào đội nghĩa binh, đội quân Tây Sơn nay đã gần ba ngàn người, chưa kể số binh sĩ người Thượng ở các bản An Khê gần hai ngàn người ngựa. Đạo quân người Thượng này rất sùng kính Đức Ông Thầy Cả, Đức Thượng Sư Nguyễn Nhạc, họ lại rất khỏe mạnh và hung dữ, bởi vậy Nguyễn Huệ tách riêng và huấn luyện họ thành một đạo quân cảm tử đặt dưới quyền chỉ huy của Đức Thầy Cả, hầu bảo vệ thủ lĩnh phong trào.

Nguyễn Huệ dựa theo cách thành lập quân đội trong Binh Thư Yếu Lược của Hưng Đạo Vương, chia số quân người Kinh thành nhiều binh chủng khác nhau:

–  Khinh kỵ quân, đặt dưới quyền chỉ huy của Phi Vân Báo Lý Văn Bưu

–  Thám báo quân, đặt dưới quyền chỉ huy của Tín Nhi.

– Quân công thành phá trận, dưới quyền chỉ huy của Nguyễn Văn Tuyết. Đạo quân này quy tụ hầu hết những con người bạt mạng của phong trào, coi mạng sống nhẹ tựa lông hồng.

–  Quân thủy chiến, dưới quyền chỉ huy của Võ Văn Dũng.

–  Hỏa quân, dưới quyền chỉ huy của Nguyễn Văn Lộc.

–  Tượng binh, dưới quyền chỉ huy của Bùi Thị Xuân.

– Bộ binh, dưới quyền chỉ huy của Nguyễn Văn Kim, Trần Quang Diệu, Võ Đình Tú và Ngô Văn Sở. Đây là đạo binh chủ lực có quân số đông nhất.

Nguyễn Huệ lập ra bảy cửa ải để thử thách và tìm kiếm nhân tài trong quân đội. Bảy cửa ải này gồm có khả năng leo trèo, nhảy xa, bơi lội, gan dạ, lanh lợi, mưu trí, và võ nghệ. Tất cả nghĩa quân khi gia nhập quân đội đều phải trải qua các thử thách trên, từ đó, Huệ chọn ra những nhân tuyển thích hợp cho các đội quân đặc biệt, số còn lại sung vào bộ binh. Trong quá trình thử thách, Huệ phát hiện ra một người lính trẻ tên Lê Văn Hưng, người làng Kiên Dõng. Người này tính tình trầm lặng nhưng võ nghệ hết sức cao cường, cây thương trong tay anh ta như rồng bay phụng múa, đã loại hết các đấu thủ trong hàng binh sĩ khiến Võ Văn Dũng phải bước ra thử sức.

Văn Dũng cùng Trần Quang Diệu được Tây Sơn coi là hai tay đại đao hạng nhất trại, Nguyễn Nhạc vẫn từng nói: “Phá trung sơn tặc dị, thắng Văn Dũng đao nan”, vậy mà Lê Văn Hưng có thể giao đấu với thanh đại đao của Võ Văn Dũng suốt từ sáng sớm đến quá trưa vẫn bất phân thắng bại. Họ đấu nhau dưới đất hàng bốn, năm trăm hiệp chưa rõ hơn thua bèn lên ngựa quần nhau một trận kinh thiên động địa cũng bất phân thắng bại khiến cả giáo trường không ngớt reo hò, vỗ tay tán thưởng.

Nguyễn Huệ thấy họ đấu với nhau quá hăng sợ xảy ra điều bất trắc vội la lớn:

–  Dừng tay! Như thế đủ rồi.

Cả hai lúc bấy giờ mới chịu ngừng tay, phóng xuống ngựa chắp tay vái đối thủ của mình. Võ Văn Dũng cười nói:

–  Anh quả là tay thương vô địch thiên hạ. Dũng tôi từ khi học võ đến nay, ngoài lần thử đao bất phân thắng bại với Quang Diệu, đây là trận đấu thống khoái nhất đời.

Lê Văn Hưng từ tốn nói:

–  Anh mới đúng là tay đao vô địch. Hưng tôi may mắn giữ được tới lúc này tưởng đã đứt hơi rồi. Đường đao vừa rồi tôi chưa từng biết qua. Thật là tuyệt diệu.

Dũng cười:

–  Đó là bài Lôi Long đao tôi vừa sáng chế, may mà không bị bại dưới tay anh.

Nguyễn Huệ mừng rỡ nắm tay Lê Văn Hưng nói:

–  May mắn cho Tây Sơn đã phát hiện ra anh. Anh thật xứng với danh hiệu Thiên hạ đệ nhất thương. Tài nghệ của anh như vậy sao lúc lên trại không nói sớm lại phải chịu làm một người lính tầm thường?

Lê Văn Hưng nói:

–  Đa tạ chủ tướng đã quá khen. Hưng tôi nghĩ tài năng phải được biết đến qua thử thách hơn là thân tình, bởi vậy tôi chờ đợi cơ hội chứng minh.

Huệ nói:

–  Tốt lắm. Vậy là Tây Sơn đã có Thất Hổ tướng rồi. Từ nay anh sẽ cùng anh Kim, anh Diệu, anh Tú và anh Sở chỉ huy đội bộ binh.

Lê Văn Hưng cúi đầu nói:

–  Đa tạ chủ tướng nâng đỡ.

Huệ nói:

–  Trong kho binh khí cổ của Thần Thâu có một cây Luyện tử kim thương đời Lý, tương truyền là cây thương mà Lý Thường Kiệt đã dùng đánh đuổi quân Tống, nay tặng lại cho anh.

Rồi đích thân bước lên đài mang cây thương xuống trao cho Lê Văn Hưng. Hưng đỡ cây thương cầm tay thấy rất vừa ý, nhìn nước thép biết là cây thương quý, bèn chống thương xuống đất, quỳ một chân xuống nói:

–  Ân tình này, Lê Văn Hưng trân trọng suốt đời, nguyện vì Tây Sơn đến chết không thôi.

Huệ vội đỡ Hưng đứng lên:

–  Anh không nên đa lễ như vậy. Khó khăn trước mắt còn nhiều, chúng ta hãy cùng nhau đồng tâm hiệp lực giúp cho nghiệp lớn của Tây Sơn chóng thành là được.

Trong những đợt thử thách sau, Nguyễn Huệ lại phát hiện ra một tướng tài khác đó là Trần Bá Giáp. Bá Giáp người làng Nho Lâm, huyện Nam Xương, phủ Hà Nam, vì chán ghét quan lại địa phương nên bỏ vào Quy Nhơn mở trường dạy võ, sau lên An Khê đầu quân với Tây Sơn. Bá Giáp với tài nghệ phóng lao trăm phát trăm trúng, lại giỏi nghề huấn luyện voi nên được Nguyễn Huệ đưa vào đội tượng binh của Bùi Thị Xuân.

Sau một thời gian thử thách, các đạo quân đặc biệt đã đạt được quân số khá đông, Huệ bèn họp các chủ tướng học tập binh pháp, bàn bạc cách huấn luyện, sau đó mỗi đội tự lo việc rèn luyện toán quân của mình dưới sự giám sát của Huệ. Riêng bộ binh, Huệ chia ra ba toán: tiền quân, trung quân và hậu quân, theo cách của Binh Thư Yếu Lược mà tập luyện. Để kích thích lòng quân sĩ, Nguyễn Huệ cho làm một bộ trống bịt da trâu mười hai chiếc, gồm nhiều trống lớn, nhỏ tạo ra âm thanh khác nhau, sau đó đặt ra bài trống trận gồm ba hồi: xuất quân, công thành phá trận, và khải hoàn. Không có hồi trống thu quân, vì trong quân lệnh của Huệ, quân Tây Sơn chỉ có tiến lên chứ không được phép quay đầu tháo chạy, ai trái lệnh sẽ bị chém chết tại trận. Đặt ra nghiêm lệnh này, Nguyễn Huệ đưa quân Tây Sơn vào khí thế, chiến thắng hay chết.

Huệ lại đặt ra một bản quân lệnh, cho dán khắp nơi để toàn bộ quân sĩ đọc. Bảng quân lệnh và cách thưởng phạt trong quân như sau:

1-    Nghe trống không tiến, phất cờ không dậy, ngã cờ không phục, đó là tội bội quân, phải chém..

2-    Gọi đến không thưa, lúc điểm quân vắng mặt, sai hẹn, trễ nải, đó là tội mạn quân, phải chém.

3-    Đêm nghe hiệu mõ không báo lại, giờ canh bỏ vắng, khẩu hiệu nói sai, cứng cổ khó răn, đó là tội hoạnh quân, phải chém.

4-    Đem oán hờn rêu rao trong quân sĩ, nói xấu chủ tướng, không tuân mệnh truyền, đó là tội khi quân, phải chém.

5-    Giáo gươm không sắc, cờ hiệu thất lạc, cung để đứt dây, tên bỏ mất cánh, đó là tội thất thoát, phải chém.

6-    Bạ nói bạ cười, không tuân lệnh cấm, rượu chè be bét, tiết lậu quân cơ, đó là tội khinh quân, phải chém.

7-    Đi đến đâu quấy nhiễu dân sự, hiếp chốc đàn bà, đó là tội gian quân, phải chém.

8-    Đặt chuyện điêu ngoa ma quái làm loạn lòng quân đó là tội ngoa ngữ, phải chém.

9-    Lấy tài sản người làm của mình, lấy công người làm công mình, đó là tội đạo quân, phải chém.

10-  Lúc hành quân không chú ý để lạc hàng ngũ, trái hiệu lịnh là tội loạn quân, phải chém.

 11- Giả ốm đau, lánh nặng tìm nhẹ, đó là tội trá quân, phải chém.

12-  Không biết thương yêu, giúp đỡ đồng đội, để giặc uy hiếp mà không tiếp cứu là tội tệ quân, phải chém.

13-  Nghĩa quân Tây Sơn chỉ tiến chứ không lùi. Kẻ quay đầu bỏ chạy sẽ bị đồng đội chém tại trận.

Mười ba điều cấm trên, kẻ nào vi phạm, chiếu đó xử trị.

Từ đó nghĩa quân không ngừng luyện tập, chưa đầy nửa năm, lực lượng tạp nham gồm những người xiêu tán, những kẻ bạt mạng từ bốn phương trời tụ lại, dưới sự huấn luyện gian khổ và khắc khe của Nguyễn Huệ đã trở thành một đạo quân hùng mạnh, kỷ luật nghiêm minh, quân uy sắt thép.

Nguyễn Nhạc cho nghĩa quân đắp một lũy đất hình bảy cạnh như con mương, mặt lũy rộng 30 thước (10m), chân rộng 36 thước (12m), phần lõm giữa lũy dùng để binh sĩ trú. Lũy dài hai dặm, nối liền hai hòn núi hai bên đèo Vĩnh Viễn, chắn ngang mặt đông trên con đường độc đạo từ đồng bằng lên cao nguyên An Khê, là bức tường thành bảo vệ cho hậu cứ của nghĩa quân. Lũy nhân đó mang tên lũy Ông Nhạc, và ngọn núi đầu phía Nam lũy là hòn Ông Nhạc. Ngọn núi đầu phía Bắc anh em đắp lũy gọi nó là núi Ông Bình vì ở cửa Hang Tối Trời đã có sẵn bút tích của Nguyễn Quang Bình ở đó.

*

Nhắc lại đốc trưng Đằng từ Truông Mây kéo quân về trong lòng vẫn hậm hực vì bắt hụt đám nghĩa sĩ Truông Mây, nhất là tên Biện Nhạc, người mà hắn ta thù ghét từ lúc tóc còn để chỏm. Quyết không bỏ cuộc, Đằng bỏ thời gian truy tìm chứng cớ để buộc tội Nhạc cho bằng được. Khi đã có một số bằng chứng khả dĩ có thể bắt Nguyễn Nhạc, hắn vào tận phủ Quy Nhơn tìm gặp Nguyễn Khắc Tuyên để báo cáo. Khắc Tuyên truyền cho hắn vào gặp. Đằng vào đến nơi liền thưa:

–  Trình lên ngài tuần phủ, hạ chức có tâm phúc báo cho biết tên Biện Nhạc ở Vân Đồn lúc trước đã kéo một lũ tay chân của hắn ở Tây Sơn về họp với dư đảng Truông Mây tế mộ. Chúng còn tìm giết và moi tim tổng đốc Hoàng Nhẫn, người có công hạ độc bọn Truông Mây, đem về làm vật tế. Đáng tiếc khi hạ chức kéo quân đến nơi thì bọn chúng đã bỏ trốn mất. Xin ngài tuần phủ cho bắt tên Biện Nhạc về đây vấn tội.

Khắc Tuyên hỏi:

–  Ngươi không có bằng chứng trong tay thì lấy cớ gì để bắt hắn?

Đằng thưa:

–  Mấy tháng nay dân chúng khắp nơi đồn ầm lên chuyện Nguyễn Nhạc được trời sắc phong làm vua và ban cho ấn kiếm, cho nên hắn chiêu mộ bá tánh trong thiên hạ lên An Khê tụ tập làm phản. Hắn còn dám về Truông Mây tế mộ bọn phản nghịch, công việc Biện lại của hắn cũng không làm tròn. Thuế má ở Vân Đồn hai năm nay hắn giao nộp khi thiếu, khi đủ. Từ hơn nửa năm nay hắn không nộp lên huyện xu nào. Với bao nhiêu việc đó, ý đồ tạo phản của hắn đã rõ, tuần phủ nên bãi chức và bỏ tù hắn ngay trước khi hắn trở thành một thằng Lía thứ hai.

Khám lý Phan Chính Trung nói:

–  Đốc trưng nói đúng, thưa tuần phủ. Tên Biện Nhạc này đã nợ công quỹ một khoảng thu rất lớn chưa giao nộp, chúng ta nên lệnh bắt hắn giao nộp khoản tiền nợ ngay, nếu không nộp đủ, bãi chức và bỏ tù hắn lập tức, đừng để hắn trốn mất.

Khắc Tuyên nói:

–  Nếu đúng như thế, ta giao việc này cho đốc trưng xử lý. Buộc hắn nộp trả số tiền nợ ngay lập tức, nếu không bắt hắn giải về đây cho ta. Việc hắn có ý đồ tạo phản để ta cho người dò xét rồi mới quyết định.

Đốc trưng Đằng mừng rỡ thưa:

–  Xin tuần phủ yên tâm, hạ chức quyết hoàn thành nhiệm vụ trong thời gian ngắn nhất.

Hắn cúi đầu bái tạ lui ra, sau đó tức tốc kéo quân lên Kiên Thành tìm Biện Nhạc. Trong khi đó Nguyễn Nhạc đang ở An Thái cùng Giáo Hiến bàn bạc việc khởi nghĩa. Nhạc nói:

–  Hôm trước tên đốc trưng Đằng bắt hụt chúng tôi chắc là hắn chưa chịu bỏ qua. Gần đây đồng bào đói khổ quá nên tiền thuế gần hai năm nay tôi không nỡ thu của họ, việc này thế nào thằng Đằng cũng lợi dụng để thóc mách quan trên. Người của tôi trên phủ mới báo về, e rằng chúng sẽ ra tay bắt tôi. Thầy coi thu xếp gia đình lên Tây Sơn thượng ngay, bọn chúng không bỏ qua cho thầy đâu.

Giáo Hiến nói:

–  Tôi cũng liệu trước việc này nên đã chuẩn bị. Ông Cả về thu xếp việc nhà, chúng tôi tự lo được.

Đang nói chuyện thì có người từ Kiên Thành chèo thuyền xuống báo:

–  Bọn đốc trưng Đằng đang làm khó dễ mấy người ở nhà. Hắn đòi ông Cả Biện phải nộp hết số thuế nợ lên huyện ngay lập tức, nếu không chúng sẽ bắt ông Cả về phủ.

Nhạc mỉm cười nói với Giáo Hiến:

–  Vậy là chúng chỉ mới nhắc tới chuyện nợ thuế chứ chưa biết việc mình làm. Thầy lo thu xếp đi ngay cùng với tôi, cả nhà tôi đã lên đó hết rồi. Cứ để mấy anh em ở nhà cò cưa với thằng Đằng.

Không mất bao lâu, cả nhà Giáo Hiến đã tay nải gọn gàng trên ba con ngựa cùng Nguyễn Nhạc và ba hộ vệ lên đường, nhắm Tây Sơn thượng thẳng tiến. Đó là ngày đánh dấu sự ly khai triều đình Chúa Nguyễn của ba anh em Tây Sơn để chuẩn bị cuộc khởi nghĩa, nhằm mùa Thu năm Tân Mão, 1771, Vua Lê Hiển Tông năm thứ 31, Chúa Trịnh Sâm năm thứ 4 và Chúa Nguyễn Phúc Thuần năm thứ 6.

Đốc trưng Đằng hay tin Nguyễn Nhạc đã đem cả gia đình lên Tây Sơn thượng liền cấp báo về phủ Quy Nhơn. Nguyễn Khắc Tuyên ra lệnh tịch thu hết nhà cửa của Nhạc và những người đồng lõa, lại sai tổng binh Phan Triều Long cùng hai phó tướng lãnh một đạo binh hai ngàn nhân mã tiến đánh Tây Sơn thượng cố ý dẹp tan bọn phản loạn từ trong trứng nước. Đốc trưng Đằng nghe lệnh liền tịch thu ruộng đất của Nguyễn Nhạc, lại cho phóng hỏa đốt sạch Tây Sơn Hội Quán và sòng bạc Phát Tài. Hắn còn truy lùng những người thân của Nhạc nhưng tất cả đã lên Tây Sơn thượng từ trước.

Phan Triều Long nhận lệnh của tuần phủ, điểm hai ngàn nhân mã tiến đến gần chân đèo An Khê thì trời sắp tối nên cho hạ trại gần núi Đồng Phong nghỉ ngơi chờ sáng mai vượt đèo. Quân thám mã báo tin lên Tây Sơn thượng, Nguyễn Nhạc cho họp các tướng bàn việc đối phó. Nhạc hỏi Huệ:

–  Bấy nay việc tập luyện nghĩa binh thế nào?

Huệ đáp:

–  Em định chờ cho gia đình thầy ổn định xong sẽ tổ chức thao diễn quân sĩ để anh Cả và thầy duyệt qua xem có chỗ nào chưa vừa ý thì sửa đổi. Nhưng bọn giặc đã đến sớm, em xin anh Cả cho em đưa quân xuống thử sức trận đầu này để rút tỉa kinh nghiệm được không?

Nhạc nhìn Giáo Hiến dò ý. Giáo Hiến vốn hiểu rất rõ Nguyễn Huệ nên nói:

–  Ông Cả cứ để cho anh Huệ thử nghiệm. Tôi tin mọi việc sẽ khả quan.

Nhạc nói:

–  Chú cần bao nhiêu nghĩa binh để đối phó với đạo binh hai ngàn nhân mã của Phan Triều Long?

Huệ đáp:

–  Phan Triều Long nhờ thân thế nên được thăng chức tổng binh, đạo binh ấy chỉ cần một ngàn nghĩa quân cũng đủ tiêu diệt. Có điều anh em bấy lâu luyện tập khó nhọc ai cũng nức lòng muốn ra trận, bởi vậy em xin hai ngàn nghĩa quân để đánh dẹp bọn giặc.

Nhạc nói:

–  Được. Mai chú đem hai ngàn anh em xuống phá bọn giặc một trận tan tành để chúng kinh sợ không dám bén mảng lên đây. Có như vậy chúng ta mới an tâm chuẩn bị.

Huệ nói:

–  Không phải ngày mai mà ngay đêm nay. Bọn giặc mới đến, lều trại vừa căng xong thế nào cũng mỏi mệt nghỉ ngơi. Chúng ta đánh ngay lúc này thì chỉ một tiếng hò reo là phá được giặc.

Giáo Hiến gật gù tán thành:

–  Rất hay. Đánh ngay tối nay tất thắng lớn.

Huệ nhận lệnh cùng các tướng kiểm điểm binh mã tập họp tại giáo trường chuẩn bị xuất quân. Nguyễn Nhạc và Giáo Hiến đứng trên đài cao nhìn thấy đội nghĩa binh mới thành lập giáo gươm sáng lòa, hàng ngũ chỉnh tề, ngàn người bước đi như một, khí thế hùng dũng như một đạo binh thiện chiến từng trải qua trăm trận thì không khỏi ngạc nhiên và thán phục. Nhạc hớn hở nói với Giáo Hiến:

–  Không ngờ mới mấy tháng mà chú Huệ có thể biến một đám đông ô hợp thành một đạo binh có quy củ như thế này, chú nó quả có tài làm tướng chỉ huy ba quân.

Giáo Hiến nói:

–  Tướng lãnh có nhiều thứ bậc. Có người có thể chỉ huy ngàn quân, có người chỉ huy được vạn quân. Riêng đối với anh Huệ, quân càng đông càng thích hợp với khả năng của anh ta. Ông Cả có Huệ và Thất Hổ tướng dưới tay, tôi tin chắc đại nghiệp sẽ sớm thành.

Nhạc mừng rỡ:

–  Chỉ mong được như lời thầy nói. Nhưng thầy nhìn xem, một đạo quân như thế nếu có thêm một rừng cờ phụ họa vào có phải uy thế sẽ tăng lên gấp bội không?

–  Ông Cả đã hình dung ra hình thức và màu sắc cho lá cờ đó chưa?

–  Để kích thích lòng hăng hái, không gì bằng màu đỏ. Tôi lại được Thần Hỏa giao cho thanh thần kiếm. Một lá cờ màu đỏ, khuôn vàng chữ nhật, chính giữa là một mặt trời vàng rực cho quân Tây Sơn, thầy nghĩ có thích hợp không?

Nét vui mừng hiện trên mặt Giáo Hiến:

–  Quả là một sự ứng hợp lý thú do trời ban. Ông Cả khởi nghĩa ở Tây Sơn. Phía Tây thuộc Kim, rừng cờ màu đỏ thuộc Hỏa. Hỏa khắc Kim tất thành đại khí, ứng hợp với mạng Thủy của ông Cả. Hơn nữa, màu đỏ là màu của Vua Hỏa, ta dùng màu đỏ làm màu cờ và màu áo thì người dân tộc sẽ tin tưởng mà theo về.

Nguyễn Nhạc cố giấu niềm phấn khích nói:

–  Tôi chỉ suy nghĩ theo con mắt thông thường không ngờ lại có sự ứng hợp như vậy.

–  Đó là chữ vận. Vận đỏ. Người đang vận đỏ, nói gì, nghĩ gì đều hợp với lòng trời, lòng người, do đó chữ vận mới được xếp hàng đầu.

Nhạc nghe Giáo Hiến giải thích lòng mừng không kể xiết, niềm tin vào sự nghiệp đấu tranh mang hạnh phúc cho bá tánh càng vững mạnh. Trong khi hai người đứng trên đài nói chuyện, bên dưới Huệ phân phối kế hoạch tấn công. Huệ nói:

–  Anh Lộc lãnh năm trăm anh em theo sườn núi Ông Nhạc qua dốc Trắc, xuống khỏi ngoẹo Cây Khế men theo mé núi chờ nghe tiếng trống vang lên thì la ó tấn công vào sườn phía Nam trại địch.

–  Anh Tuyết lãnh năm trăm anh em theo lối Cửu An qua dốc Ván, eo Gió xuống dưới chân núi Ông Bình khi nghe tiếng trống trận vang lên thì tấn công vào hông phải của trại giặc phía Bắc.

–  Anh Diệu và anh Hưng lãnh năm trăm anh em tấn công chính diện trại giặc.

–  Anh Bưu lãnh ba trăm kỵ binh đi liền sau toán quân anh Diệu, đợi khi quân địch tháo chạy thì truy sát.

–  Tôi, anh Tú, anh Sở và anh Kim sẽ cùng hai trăm anh em đoạn hậu thúc trống lệnh tấn công. Tất cả phải chờ nghe tiếng trống lệnh mới được xuất chiến, không nên vọng động sớm. Đây là lần ra quân thử nghiệm đầu tiên, anh em hãy cố gắng lên, đánh cho bọn binh triều không còn manh giáp để chúng đừng bao giờ héo lánh đến vùng Tây Sơn này. Xuất quân!

Tất cả nghĩa binh bấy nay luyện tập khổ cực, nay có dịp ra trận người người háo hức lập công nên lệnh xuất quân vừa ban ra, tất cả reo hò mừng rỡ theo chân chủ tướng hăng hái tiến phát. Toán hậu quân của Nguyễn Huệ đi sau, dùng một cỗ xe lớn chở một giàn trống mười hai chiếc, đích thân Huệ cầm dùi đợi đúng thời điểm sẽ thúc trống lệnh tấn công. Giáo Hiến và Nguyễn Nhạc đứng trên cao vẫy tay chào đoàn quân trẩy ngang trước mặt, hai ngàn người ngựa diễn qua rầm rập như cùng một bước đi. Nhạc hân hoan nói với Giáo Hiến:

–  Quân uy và khí thế như thế này, bọn lính bát nháo dưới kia làm sao chống nổi. Hôm nọ chú Huệ nói cho chú ấy vài ba năm chuẩn bị thì con sóng dữ nào chú cũng sẽ đạp nhầu. Lời nói đó không ngoa chút nào.

Giờ Hợi đêm đó từ trên dốc đèo An Khê bỗng vang lên từng hồi trống trận, dội khắp cả núi rừng Tây Nguyên tĩnh mịch. Tiếp liền theo đó là tiếng quân la ó vang trời nghe như có cả hàng vạn người, từ ba mặt doanh trại của Phan Triều Long tấn công vào. Toán quân của Triều Long đã lâu không chinh chiến, lại toàn là bọn lính già, lính kiểng nên khi nghe tiếng trống trận và tiếng la ó vang trời của quân Tây Sơn, tên nào tên nấy hồn bất phụ thể, bỏ chạy tán loạn không còn hàng ngũ gì nữa. Phan Triều Long và hai phó tướng đêm đó không dám cởi chiến y, khi nghe tiếng quân reo vội vàng chụp lấy vũ khí lên ngựa xông ra hô hoán quân sĩ chiến đấu. Nhưng mặc cho tướng lệnh, đám quân sĩ vì quá đỗi kinh hoàng trước tiếng quân địch la ó và tiếng trống rền vang nên đa số cắm đầu bỏ chạy thoát thân. Quân Tây Sơn ba mặt tấn công vào, thế như thác lũ, chém giết quân triều không biết cơ man nào mà kể.

Nguyễn Văn Lộc từ phía nam cưỡi ngựa xông vào trại vừa gặp Phan Triều Long liền vung cây roi sắt tấn công ráo riết. Triều Long võ nghệ cũng khá nhưng vì trong lòng hoang mang, cây roi của Nguyễn Văn Lộc lại quá thần tốc, bởi vậy chưa đầy năm hiệp, Triều Long đã trúng một đầu roi vào ngực văng xuống ngựa. Đám anh em Tây Sơn đang hăng máu liền xông tới chém nhầu. Triều Long bỏ mạng tại trận.

Đám binh triều lúc này như rắn mất đầu, hai tên phó tướng phóng ngựa chạy trốn trước tiên, đám tàn binh kéo nhau chạy theo sau về Tây Sơn hạ. Toán kỵ binh của Lý Văn Bưu rầm rập vó ngựa rượt theo chém giết thêm một trận nữa đến gần sáng mới kéo nhau về. Huệ kiểm điểm lại binh mã thấy có gần trăm anh em bị thương nhẹ, bên địch bỏ xác lại trận địa hơn ngàn tên, quân Tây Sơn thu được hơn ngàn vũ khí các loại cùng lương thảo. Huệ cho đào một hố lớn, thu dọn những thi thể chôn thành một nấm mồ chung dưới chân núi Ông Bình. Công việc xong ra lệnh rút quân về tới Tây Sơn thượng lúc trời vừa đúng Ngọ.

Trận ra quân đầu tiên thắng lợi một cách dễ dàng của nghĩa binh Tây Sơn đã làm cho hào khí của phong trào tăng cao ngùn ngụt, niềm tin của tướng sĩ đối với vị chỉ huy trẻ tuổi Nguyễn Huệ càng thêm mãnh liệt. Trong khi đó tại phủ Quy Nhơn, Nguyễn Khắc Tuyên kinh hãi rụng rời, ông vội vã ra lệnh tăng cường các đồn lính ở Xuân Huề, An Thái đề phòng quân Tây Sơn tấn công xuống phủ thành. Từ đó, đám quan binh tuyệt không dám bén mảng lên vùng rừng núi Tây Sơn. Nguyễn Nhạc an tâm xây dựng căn cứ địa, chiêu mộ thêm nghĩa quân và những người tài giỏi về Tây Sơn tụ nghĩa. Thanh thế Tây Sơn vang dội khắp dinh Quảng Nam.

Hôm sau, Nguyễn Nhạc cho người bí mật mang thư mời bọn Nguyễn Thung, Huyền Khê, anh em Châu Văn Tiếp và bà chúa Thị Hỏa ở Phú Yên sau bảy ngày nữa lên An Khê gặp mặt, mừng Tây Sơn khao quân. Mặt khác ông cho người xuống đồng bằng tìm mua thật nhiều vải đỏ, vàng, cấp tốc may một số đại kỳ và cờ nhỏ cho nghĩa quân.

Hôm sau Nguyễn Nhạc cho họp hết các tướng cùng Giáo Hiến bàn bạc. Ông nói:

–  Lần này chúng ta mời bọn Nguyễn Thung lên dự buổi khao quân là có ý phô trương thanh thế Tây Sơn. Ngoài Châu Văn Tiếp ra tôi chưa dám chắc, bọn còn lại tôi tin với cá tính của  họ và lực lượng của chúng ta hiện nay, không cần phải đôi co giành giật, bọn chúng cũng sẽ xếp giáo chịu theo dưới cờ một cách tự nguyện. Thầy Giáo có gì khuyên bảo không?

Giáo Hiến đáp:

–  Ông Cả làm như vậy vừa tránh được mất hòa khí với các thủ lĩnh khác, vừa thu phục được bọn họ. Kế sách này rất hiệu quả.

Huệ nói:

–  Nghe nói bọn Lý Tài, Tập Đình rất hung dữ và tự phụ. Lần này nếu chúng tỏ vẻ bất phục, anh Cả nên mớm ý để anh em đây ra oai một lần, nhiếp phục tinh thần bọn chúng trước, sau này dễ điều khiển hơn.

Nhạc cười nói:

–  Ý hay. Lâu nay tài sức của những anh em khác đều đã phô diễn qua, chỉ có anh Tú và anh Sở là chưa lộ diện. Lần này giao cho hai anh nhé.

Võ Đình Tú điềm nhiên nói:

–  Dạ, anh Cả.

Nhạc lại hỏi:

–  Đôi tượng binh và nữ binh của cô Xuân đến nay thế nào rồi?

Bùi Thị Xuân đáp:

–  Mới được hai mươi con voi và ba trăm nữ binh. Thời gian tới, anh Cả phải vận động các buôn làng để có thêm voi chiến. Việc huấn luyện chúng để có thể ra trận chiến đấu mất khá nhiều thời gian.

Nhạc nói:

–  Tôi sẽ giúp cô Xuân việc đó. Việc quân như vậy tạm ổn, bây giờ chúng ta nói đến chuyện vui. Cô Xuân muốn nghe không?

Bùi Thị Xuân ngạc nhiên hỏi:

–  Chuyện vui của em à?

–  Đúng vậy.

–  Anh nói nghe đi.

Nhạc đổi sắc mặt nghiêm chỉnh nói:

–  Bỗng dưng tôi lại muốn lãnh cái ngu thứ nhất trong thiên hạ nên hôm trước tôi có ghé nhà gặp ông bà thân của cô.

Bùi Thị Xuân nhướng mắt hỏi:

–  Ngu thứ nhất là cái gì? Sao lại gặp cha mẹ em?

Lý Văn Bưu cười ha hả đáp thay:

–  Người ta thường nói: “Ở đời có bốn cái ngu. Mai dong, lãnh nợ, gác cu, cầm chầu”. Anh Cả đây muốn làm ông mai dong nên ghé nhà cô Xuân đấy. Ha… ha…

Sắc mặt Bùi Thị Xuân đỏ bừng lên vì thẹn. Cô hốt hoảng hỏi:

–  Sao lại làm mai mà ghé nhà em?

Nhạc đáp:

–  Vì tôi muốn làm mai cho cô Xuân.

Bùi Thị Xuân lạnh người, mặt càng đỏ hơn:

–  Trời ơi, em chưa muốn lấy chồng đâu. Ai thèm lấy em mà anh Cả đi làm mai?

Lý Văn Bưu lại lên tiếng:

–  Thì còn ai ngoài cái anh chàng mặt đỏ giết cọp chung với cô nữa mà hỏi.

Bùi Thị Xuân và Trần Quang Diệu nghe nói không hẹn mà bốn mắt nhìn nhau rồi cúi đầu xuống không dám nhìn mặt mọi người, cả hai mặt đỏ như gấc chín, ngồi chết lặng một lúc lâu không nói được tiếng nào. Nhạc nói nhanh:

–  Chú thím rất vui lòng về sự tác hợp này. Ngày mai anh Diệu trở về quê mời hai huynh trưởng lên đây. Sau lễ khao quân chúng ta sẽ làm lễ cưới.

Đối với tất cả những người đang có mặt tại vùng An Khê, lời nói của Nguyễn Nhạc bây giờ là mệnh lệnh, hơn nữa Quang Diệu và Thị Xuân từ ngày gặp nhau trong lòng mỗi người đều yêu thích đối phương nhưng không dám nói ra. Nghe Cả Nhạc tuyên bố, cả hai vừa mừng vừa thẹn, Bùi Thị Xuân vội đứng lên cúi đầu chạy nhanh ra ngoài. Trần Quang Diệu đến một lúc sau mới hết thẹn, chắp tay xá Nguyễn Nhạc:

–  Đa tạ anh Cả đã chu toàn.

Nhạc cười:

–  Không cần đa lễ. Anh thu xếp lên đường ngay đi. Phải có mặt hôm khao quân đó nhé. Cả anh Lộc và cô Hương, anh Tuyết và cô Lan nữa, chúng ta mừng hỉ sự cho ba người cùng một lúc.

Nguyễn Văn Lộc và Nguyễn Văn Tuyết mừng rỡ nói:

–  Cảm ơn sự quan tâm của anh Cả.

Sắc mặt Lý Văn Bưu bỗng đỏ gay, lên tiếng:

–  Anh Cả đã làm mai cho ba người thì xin ra ơn giúp cho em luôn thể.

Mọi người đều ngạc nhiên nhìn Lý Văn Bưu. Nhạc cười ha hả hỏi:

–  Chú cũng muốn cưới vợ luôn phải không? Là đám nào vậy? Tôi đã lỡ lãnh tiếng ngu thì ngu luôn thể cho xong.

Bưu nói nhỏ:

–  Dạ, tiểu thư nhà họ La ở Phù Cát.

–  Tưởng ai xa lạ. La Xuân Kiều với tôi là chỗ bạn thân. Được, tôi sẽ giúp chú. Muốn làm cùng một lúc hay là chậm lại mai mốt?

Bưu ngập ngừng:

–  Chỉ sợ … anh Cả không có thời gian lúc này.

–  Không sao. Tôi cũng đang muốn gặp La Xuân Kiều để mời về trên này tụ nghĩa. Một công hai chuyện, mai tôi sẽ đi.

Lê Văn Hưng nói:

–  Em sẽ đi cùng anh Cả cho an toàn, nhơn tiện trên đường về em muốn ghé Kiên Dõng đón mẹ lên luôn thể.

Quang Diệu vỗ vai Lý Văn Bưu:

–  Đó nhé, cười người hôm trước hôm sau người cười là vậy đó.

Mọi người đều vui mừng vì đại hỷ sự này.

*

………….

Mời xem tiếp vào thứ bảy 14-11-2015.