Kỳ 183:

……..

Trước hôm khao quân, ông bà Bùi Đắc Chí, cha mẹ của Bùi Thị Xuân và Bùi Văn Nhựt, Bùi Đắc Tuyên chú nàng, vợ chồng La Xuân Kiều và tiểu thư La Bích Ngọc đã có mặt ở An Khê chuẩn bị cho hỷ sự. Đến trưa Trần Quang Diệu trở lại cùng hai người anh và một người thanh niên trẻ, nét mặt phương phi, tướng mạo đường đường. Diệu giới thiệu hai anh mình với Nguyễn Nhạc xong nói:

–  Em giới thiệu anh Cả một vị anh hùng, coi như đền ơn ông mai.

Nhạc nhìn chàng thanh niên thầm khen trong bụng, hỏi:

–  Là ai đây? Nhìn tướng cách, biết ngay anh hùng xuất thiếu niên.

Diệu đáp:

–  Vũ Văn Nhậm, vốn là thuộc tướng của Trấn thủ dinh Quảng Nam nhưng vì bất mãn quan trên nên bị bắt tội, bỏ trốn vào Quy Nhơn. Đến Phù Ly nghe có lão thổ hào ức hiếp con gái nhà lành, nổi giận giết chết, đang định trói mình nộp lên huyện thì gặp em. Em biết được bèn mời chàng ta về với Tây Sơn.

Nhạc mừng rỡ bước tới vịn vai Vũ Văn Nhậm nói:

–  Tây Sơn may mắn được tráng sĩ theo về. Từ nay anh làm việc bên cạnh tôi, chúng ta đồng tâm hiệp lực mưu cầu hạnh phúc cho muôn dân.

Vũ Văn Nhậm cúi đầu bái tạ:

–  Tiếng đồn Tây Sơn đãi sĩ chiêu hiền quả không ngoa. Vũ Văn Nhậm này nguyện theo dưới cờ, dẫu chết không từ để đền ơn tri ngộ.

Hôm sau nhóm người của Nguyễn Thung đã lên đến. Phạm Ngạn trước đó đã cho lập ở giáo trường ba khán đài có mái che, khán đài ở giữa cao hơn để quan khách ngồi xem duyệt binh, hai cái hai bên thấp hơn,  để cho những người thân của các tướng lãnh. Trên khán đài, Nguyễn Nhạc ngồi giữa, bên trái có Giáo Hiến, bên phải có Nguyễn Lữ. Vũ Văn Nhậm, Ngô Văn Sở và Võ Đình Tú đứng vòng tay hầu phía sau. Tiếp theo, bên tả làm nhóm Nguyễn Thung, Huyền Khê, Lý Tài, Tập Đình, Nữ chúa Thị Hỏa và bốn anh em Châu Văn Tiếp. Bên hữu dành cho các tộc trưởng các tộc thiểu số vùng An Khê theo về với Tây Sơn.

Đúng giờ Ngọ, từ phía cuối giáo trường bỗng vang lên một hồi trống trận. Tiếng trống nghe hào hùng như tiếng sấm nổ vang, thúc giục lòng người. Đội kỵ binh của Lý Văn Bưu xuất hiện đầu tiên. Bốn trăm con ngựa cao lớn đồng loạt phi nước đại qua một quảng đường dài mà đội hình vẫn giữ nguyên không hề thay đổi, chứng tỏ cách điều khiển ngựa hết sức tài tình của các kỵ sĩ. Lý Văn Bưu và hai người khác phóng ngựa đi đầu, hai kỵ sĩ hai bên tay cầm hai lá đại kỳ đỏ chói có thêu chữ Tây bên phải và chữ Sơn bên trái, hai lá đại kỳ bay phần phật trong gió. Đoàn kỵ mã đang phi rầm rập với tốc độ kinh hoàng nhưng khi đến trước khán đài bỗng nhiên đồng loạt đứng yên lại. Bốn trăm con ngựa cất tiếng hí vang, tám trăm chiếc vó trước đồng cất cao trông hết sức ngoạn mục. Các kỵ sĩ vẫy tay chào quan khách trên khán đài, sau đó phóng nhanh về phía cuối giáo trường. Cũng may đêm qua có cơn mưa nhẹ, nếu không với cách dừng ngựa kiểu đó, cả giáo trường bụi đất sẽ phủ mờ.

Khi đoàn kỵ mã phóng trở lại họ đi theo hàng một, mỗi kỵ sĩ đã có trong tay một cây cung, đến trước khán đài, ở phía xa trước mặt đã cắm sẵn một dãy trụ bia nhỏ vẽ những vòng tròn với hồng tâm ở giữa. Đoàn kỵ mã đang lao đi vun vút, các kỵ sĩ trên lưng ngựa dương cung lắp tên bắn vào những hồng tâm. Ba trăm mũi tên xé gió cắm vào những tấm bảng không lệch một mũi tên nào. Từ vị trí ngựa đang phóng đến trụ hồng tâm, khoảng cách ít nhất hai mươi trượng (hơn 100m), ba trăm kỵ sĩ đã không bắn hụt một mũi tên nào, quả là một điều hiếm thấy xưa nay. Đến lượt một trăm kỵ mã sau cùng, họ dùng một loại nõ liên châu, mỗi phát bắn ra được năm, sáu mũi tên, tuy ngựa đang phi với một tốc độ lớn, những mũi tên liên châu được họ bắn ra cũng chẳng trược ra ngoài bia mũi nào. Cả khán đài và những người đang xem duyệt binh đều đồng loạt vỗ tay tán thưởng vang động cả giáo trường.

Đoàn quân khinh kỵ vừa rút đi, một hồi trống trận thứ hai lại vang lên, đội Tượng binh mười con do Bùi Thị Xuân chỉ huy tiến tới trước khán đài, mỗi con voi do một nữ binh ngồi trên lưng điều khiển. Hai vị nữ tướng trên mình hai con voi đi kế sau Bùi Thị Xuân chính là Bùi Thị Lan và Trần Thị Lan. Đi sau đàn voi là một toán nữ binh một trăm người, vũ khí sáng giới, dẫn đầu là hai bé gái chừng mười hai, mười ba mặc võ phục. Đàn voi chiến đến trước khán đài, Bùi Thị Xuân bỗng hét to một tiếng, mười con voi đồng loạt quỳ xuống. Một tiếng hét nữa vang lên, đàn voi đồng loạt đứng lên, sau đó theo hiệu cờ trong tay Bùi Thị Xuân, mười nữ binh điều khiển voi đi theo những thế trận rất ngoạn mục, cuối cùng Bùi Thị Xuân lại phất cờ và hét lớn một tiếng, mười con voi bỗng vùng lên phóng chạy nhanh về phía cuối giáo trường, toán nữ binh rầm rập chay theo, trong sự kinh ngạc tột cùng của bao nhiêu người đang hiện diện.

Nhạc quay sang hỏi Lữ:

–  Hai cô bé đi đầu con cái nhà ai vậy?

Giáo Hiến đáp thay:

–  Cô bé bên phải lúc nãy là Nguyễn Thị Dung, em của Nguyễn Văn Xuân. Cô bên trái là Huỳnh Thị Cúc, em của Huỳnh Văn Thuận, cả bốn đều ở Quảng Ngãi. Xuân và Thuận đều là những người có tiếng ở Quảng Ngãi, họ hứa sẽ theo về với Tây Sơn khi nào chúng ta xuống đồng bằng. Đầu năm nay Xuân và Thuận có đưa hai cô gái vào xin theo học với tôi nhưng tôi không nhận học trò nữ nên giới thiệu lên cô Xuân. Cả hai tuy còn nhỏ nhưng căn bản văn, võ khá vững vàng, rất có triển vọng trong tương lai.

Đoàn Tượng binh vừa khuất dạng, đội Hỏa quân ba trăm người của Nguyễn Văn Lộc ào ào chạy tới với một tốc độ rất nhanh, họ dàn hàng ngang mười người, hàng trước cách hàng sau vài mươi thước. Trên tay họ cầm một loại vũ khí trông lạ mắt, vừa nhọn như cây giáo cán dài, lại có cả lưỡi câu liêm, thêm một sợi dây cột một đoạn lao ngắn vào cán giáo, đầu lao lại có một chùm như bùi nhùi. Khi đoàn hỏa quân đến trước khán đài, Nguyễn Văn Lộc vẫy tay chào Nguyễn Nhạc, sau đó phất cây cờ đỏ trong tay, hai người đi sau Lộc liền đốt hai trái hỏa pháo quẳng ra xa. Hai tiếng nổ lớn vang lên khiến mọi người giật mình. Liền sau hai tiếng nổ, những người đi ở mé ngoài của từng hàng quân liền châm lửa vào cái bùi nhùi đầu ngọn lao, ngọn lửa vừa bốc cháy, người thứ hai liền mồi vào đầu cây của mình, sau đó mồi cho người thứ ba, cứ như vậy chỉ thoáng chốc, ba trăm cái bùi nhùi đều bốc cháy. Nguyễn Văn Lộc lại đưa cao cây cờ trong tay phất mạnh một cái, tức thì ba trăm cái bùi nhùi và đoản côn trong cây giáo bỗng bay vụt tới trước, sau một tiếng “tách” vang lên từ chiếc cò lẩy trên cán giáo, những hạt dầu rái ở đầu bùi nhùi đang cháy bắn ra tung tóe. Những hạt lửa bay ra mang theo mùi khét lẹt của dầu rái cùng khói dầu bốc lên tạo ra một khung cảnh vừa uy mãnh vừa khủng khiếp. Châu Văn Tiếp đang ngồi xem bỗng cất tiếng hỏi:

–  Loại vũ khí gì mà ghê gớm quá vậy Cả Nhạc?

Nguyễn Nhạc mỉm cười, mặt không dấu được vẻ đắc ý, đáp lớn cho mọi người cùng nghe:

–  Đó là Hỏa Hổ. Nó vừa có công dụng đánh trận, đốt địch ở tầm xa, lại có thể leo thành vượt lũy. Một sáng kiến mới của anh em thợ rèn Tây Sơn đó.

Nguyễn Thung nói, giọng kinh khiếp:

–  Loại vũ khí này nếu có nhiều thì chiến trường nào mà không đánh thắng, quân địch nào mà không thảm bại.

Nguyễn Nhạc nói:

–  Chúng tôi đang cố gắng chế tạo thêm nhưng không đủ nguyên vật liệu. Không dễ làm đâu.

Đoàn Hỏa quân vừa rút lui thì tiếng trống trận lại vang lên dồn dập, vang động cả thao trường. Toán bộ binh ba ngàn người vừa Kinh, vừa Thượng hùng dũng tiến tới theo nhịp trống. Đại quân chia làm ba toán, Tiền quân có Nguyễn Huệ, Nguyễn Văn Tuyết và A Phàm của tộc SêĐăng cưỡi ngựa đi đầu, khi đến gần khán đài, Nguyễn Huệ tách ra, hướng về một chiếc đài cao, nhảy xuống ngựa rồi bước lên đài, tay cầm một lá cờ lệnh, thanh kiếm lệnh dắt bên hông trong thật oai phong. Toán trung quân có Trần Quang Diệu cưỡi ngựa đi đầu, hậu quân do Lê Văn Hưng, Nguyễn Văn Kim điều khiển.  Khi cả đại quân đã dàn ngang trước vùng khán đài, Nguyễn Huệ tay cầm cờ lệnh phất lên, ba ngàn nghĩa quân theo hiệu cờ mà di chuyển, tạo thành những thế trận khác nhau, biến đổi từ  Phương trận sang Viên trận, rồi trở thành Trường xà trận, Bát môn kim tỏa trận… thiên hình vạn trạng. Điều khiến cho số người quan sát kinh ngạc và thán phục nhất là ba ngàn con người dưới kia, từ động tác đến tiếng hô đều đồng nhất y như một. Châu Doãn Chữ buộc miệng khen:

–  Nguyễn Huệ điều binh khiển tướng không khác gì các danh tướng thuở xưa ghi trong sách vở. Đời tôi được chứng kiến cảnh tượng này phải nói là một dịp may hãn hữu.

Lý Tài ngồi bên cũng lên tiếng khen:

–  Hàn Tín ngày xưa luyện binh chắc cũng như thế này thôi.

Nguyễn Nhạc cười ha hả nói:

–  Cảm ơn các vị quá khen. Đây chỉ là một đạo binh nhỏ nên mới được vậy mà thôi.

Doãn Chữ là người am hiểu binh pháp nên nói:

–  Không hẳn thế. Điều binh ăn thua ở cái uy và tài trí của người chủ soái, một vạn cũng vậy mà trăm vạn cũng vậy, bậc thần tướng trong thiên hạ coi như nhau. Nguyễn Huệ, theo tôi, có đủ khả năng này.

Phía bên khán đài thấp hơn, ba cô gái Ngọc Lan, Liên nhi, Út Hương đang ngồi với nhau theo dõi duyệt binh. Liên nhi nói nhỏ:

–  Chị Hương coi anh Lộc kìa, thật là một trang hổ tướng. Chị có một đấng trượng phu như thế thật không bỏ công giấu rượu cho chàng đó nhé. Sau duyệt binh là phải nhanh chân về nhà sửa soạn cho tối tân hôn.

Út Hương đỏ mặt vì sung sướng nói:

–  Chị Liên ghẹo em hoài.

Liên nhi cười nói:

–  Cả chị Ngọc Lan nữa, xem con người anh Huệ trước thiên binh vạn mã oai phong như thế mà gặp chị thì cứ như chú thỏ đế, nói chẳng nên lời. Hi… hi…

Ngọc Lan cả thẹn dùng cùi chỏ thúc nhẹ vào hông Liên nhi:

–  Chị chỉ khéo tài chọc ghẹo thiên hạ mà thôi. Em để ý khi anh Huệ đứng trên kỳ đài điều khiển ba quân, ánh mắt của chị mới say đắm làm sao ấy.

Liên nhi đỏ mặt chối:

–  Làm gì có, chị đừng suy bụng ta ra bụng người.

Út Hương mỉm cười chồm tới giữa hai người thầm thì:

–  Trai năm thê bảy thiếp, em thấy hai người về sống chung một nhà là hay nhất, khỏi cãi nữa.

Hai cô gái nghe nói thẹn quá cùng đấm túi bụi vào lưng Út Hương.

Buổi chiều hôm đó Tây Sơn mở tiệc khao quân vừa mừng chiến thắng đầu tiên vừa mừng hỷ sự của bốn vị tướng chỉ huy. Rừng Tây Nguyên đêm đó vui như mở hội. Tiếng cồng, tiếng chiêng vang động núi rừng, các cô sơn nữ và trai bản làng múa hát suốt đêm. Suốt thời gian đó Nguyễn Nhạc không hề đá động đến việc hợp tác với các thủ lãnh các nhóm khác. Hôm sau, lúc tiễn khách ra về, Nhạc nói với Nguyễn Thung và Huyền Khê:

–  Tôi cần một thời gian nữa để chuẩn bị binh mã, vũ khí, hai ông về dưới đó tích trữ lương thảo và khí tài. Nhất là việc trợ giúp muối và đồ biển khô lên cho chúng tôi, Phạm Ngạn sẽ liên lạc với các ông. Ngày tôi kéo quân xuống Tây Sơn hạ sẽ thông báo cho hai ông hay.

Đúng như dự đoán của Nhạc, hai người vâng dạ không ngớt miệng. Quay sang Lý Tài và Tập Đình, Nhạc tươi cười nói:

–  Nhị vị tướng quân đang có trong tay hai đạo quân thiện chiến, Tây Sơn rất cần sự giúp đỡ của nhị vị. Mong sự hợp tác của chúng ta mãi tốt đẹp.

Lý Tài ôm quyền đáp:

–  Ông Cả an tâm mà chuẩn bị, anh em chúng tôi sẵn sàng.

*

Mùa đông năm đó, khí trời vùng núi rừng An Khê rất lạnh, chứng ho của bà Giáo bấy lâu nay trở nên trầm trọng hơn khiến bà ngày càng suy nhược. Đôi khi bà ho ra máu, Giáo Hiến biết vợ mình đã mắc chứng lao phổi, nhưng điều kiện thuốc men ở núi rừng chỉ cho phép ông điều trị vợ mình một cách cầm chừng. Trong lòng ông rất lo nhưng ngoài mặt cố giữ sự bình thản. Hàng ngày ngoài việc thỉnh thoảng giúp Nhạc và Huệ một số ý kiến, ông dạy học cho đám đông học trò ở trại. Nhạc cho mở lớp học này để lớp nhỏ con của anh em nghĩa binh và bà con có chữ nghĩa và võ nghệ sau này ra giúp cho phong trào. Hoàng Nhi cũng được Tín Nhi gởi theo học với Giáo Hiến. Cha nó lúc trước là thầy đồ ở Bồng Sơn, bởi vậy nó và Phạm Công Trị, con của chị Tư Hoa, cháu gọi Nguyễn Nhạc bằng cậu, là hai đứa trẻ giỏi nhất trong đám học trò vùng Tây Sơn thượng.

Trong khi Nguyễn Huệ mãi mê tập luyện binh sĩ rất ít khi ghé thăm bà Giáo thì Trần Lập, vì lo việc quân nhu có hơi rảnh rang nên năng tới lui thăm hỏi, mỗi lần ghé thăm lại mang theo đủ thứ vật dụng đến biếu xén. Tính tình Lập lại vui vẻ hoạt bát nên mỗi lần có mặt anh ta, không khí nhà Giáo Hiến vui nhộn hẳn lên, do vậy mối giao tình giữa Lập và gia đình Giáo Hiến ngày càng gần gũi hơn, nhất là bà Giáo. Một hôm chỉ có Ngọc Lan bên giường bệnh, bà Giáo cầm tay con gái nói:

–  Mẹ e rằng sẽ không qua khỏi cơn bệnh hiểm nghèo này. Điều mẹ boăn khoăn nhất là việc chung thân của con.

Ngọc Lan nói:

–  Mẹ an tâm dưỡng bệnh, lo làm gì đến việc ấy cho hao tổn tinh thần. Con chưa nghĩ đến chuyện lập gia đình đâu.

Bà Giáo mỉm cười:

–  Con cũng giống mẹ thuở còn con gái. Lúc anh Cả nói tới chuyện hôn nhân với cha thì cứ lắc đầu nguầy nguậy, trong khi lúc nào tâm trí cũng nhớ đến cha con.

Ngọc Lan mỉm cười:

–  Vậy là mẹ lãng mạn hơn con rồi. Con không có ai để nhớ hết.

Bà Giáo vỗ nhẹ vào bàn tay con gái:

–  Cô qua mắt được mẹ cô sao? Thú thật đi, giữa Huệ và Lập, cô nghĩ đến ai nhiều hơn?

Mặt Ngọc Lan đỏ bừng lên vì thẹn:

–  Mẹ hỏi kỳ quá. Con không nghĩ đến ai hết.

Bà Giáo thở dài, giọng nặng nhọc:

–  Bác Cả Hồng Liệt của con, người mẹ xem như cha nuôi, cũng chỉ vì chuyện đấu tranh mà chết thảm ở chiến trường. Nay cha con lại đi theo con đường đó, mẹ rất lo. Anh hai con và hai em, chúng là con trai, có vùng vẫy trong cuộc đời cũng là điều dễ chấp nhận. Nhưng con là con gái, mẹ chỉ mong con có một mái ấm gia đình, một mái gia đình không gặp nhiều sóng gió trong thời buổi loạn lạc này. Con hiểu ý mẹ không?

Ngọc Lan cúi đầu thở nhẹ:

–  Con chỉ mơ hồ hiểu.

–  Con thương thằng Huệ, con cũng có cảm tình với thằng Lập, mẹ biết rõ điều này. Huệ là người có đại chí, suốt đời nó sẽ hiến dâng cho công cuộc đấu tranh chưa biết bao giờ kết thúc này. Huệ là con người của thời cuộc, của thiên hạ rộng lớn, không phải của gia đình nhỏ, không phải của con. Mẹ chỉ có bấy nhiêu để nói với con, suy nghĩ cho kỹ đừng để sau này đau khổ.

Ngọc Lan ngồi im lặng, hai hàng nước mắt từ từ chảy xuống đôi má. Bà Giáo âu yếm đưa bàn tay yếu ớt vừa húng hắn ho vừa lau nước mắt cho nàng.

Cuối đông năm đó, bà Giáo qua đời.

Một buổi chiều gió rừng lạnh buốt, Ngọc Lan đang ngồi lặng lẽ một mình bên mộ mẹ, tâm hồn lơ đãng tận đâu đâu với bao nhiêu ý tưởng quay cuồng trong đầu, đến khi Nguyễn Huệ đem hoa đến đặt lên mộ bà Giáo nàng mới giật mình trở về thực tại. Huệ ngại ngùng nói:

–  Tình cờ đem hoa viếng cô giáo, không ngờ gặp Lan ở đây. Gió lạnh quá, cẩn thận nếu không sẽ bị cảm lạnh.

Nói xong chàng cởi chiếc áo khoác, e dè choàng lên vai Ngọc Lan. Nàng ngồi yên lặng để Huệ khoác áo cho mình:

–  Cảm ơn anh Huệ.

–  Tôi thật có lỗi với cô, những ngày tháng cô bệnh, bận bịu quá nên không đến thăm được. Điều này khiến tôi áy náy mãi trong lòng.

Lan nói, giọng như hờn dỗi:

–  Anh Huệ là người chỉ huy của phong trào, chuyện anh bận bịu là lẽ thường, ai cũng hiểu mà.

–  Không phải Lan đang trách tôi đó sao?

–  Lan đâu có trách anh. Trái lại còn rất thông cảm cho anh nữa.

–  Xin lỗi. Nhưng tôi lại cảm giác trong giọng nói buồn buồn của Lan như có điều trách móc.

–  Anh an tâm để lo công việc. Chỉ vì Lan không thích không khí ở đây. Lạnh lẽo, u buồn, sặc mùi chiến tranh. Lan thật muốn trở về ngôi trường ở An Thái. Ở đó ấm áp biết bao.

Huệ thở dài:

–  Trong thâm tâm tôi cũng có ý muốn như Lan vậy, nhưng..

–  Nhưng anh bây giờ đã trở thành con người của thời cuộc, của thiên hạ rồi. Thân của anh bây giờ bất do kỷ rồi phải không?

Huệ im lặng một lúc lâu mới nói:

–  Biết làm sao được. Điều này Lan hiểu mà, phải không?

–  Lan hiểu. Bởi hiểu như vậy nên Lan càng chán ghét nơi này.

Huệ hiểu ý tứ trong câu nói của nàng, trong lòng chợt dâng lên một cảm giác ấm áp. Chàng dè dặt đặt bàn tay mình lên bàn tay của Lan đang để trên đầu gối nàng. Lan giật mình rút vội tay về. Nàng bỗng nhớ lại lời nói của mẹ hôm trước nên cúi đầu nói nhỏ:

–  Đừng anh Huệ.

Rồi nàng khóc. Huệ có cảm giác như mọi thứ trong đầu, trong cơ thể chàng đều vụt thoát ra ngoài. Tất cả con người chàng bỗng trống không, một sự trống rỗng tối đen. Cả hai cùng yên lặng, mỗi người đeo đuổi những ý tưởng đang xáo trộn trong đầu mình. Lâu lắm Huệ mới lên tiếng:

–  Tôi đưa Lan về, sương chiều rừng núi độc lắm.

Họ lặng lẽ đi về, mỗi người trĩu nặng trong lòng một khối u sầu. Họ bước song đôi nhưng giữ một khoảng cách ở giữa khá lớn. Sau một hàng cây, đôi mắt của Liên nhi sáng lên một ánh nhìn đầy hy vọng. Khoảng không gian cách biệt giữa Lan và Huệ chính là khoảng trời hy vọng của nàng. Liên nhi tựa lưng vào thân cây, nhắm mắt thầm ao ước cho khoảng không gian kia cứ mãi lớn lên, tách hai người họ ra xa, thật xa.

*

Huệ tiễn Ngọc Lan về gần đến nhà thì chia tay nàng, ghé thăm chị Da Đố vừa lúc Liên nhi từ ngoài về. Liên nhi gặp Huệ mừng rỡ reo lên:

–  Kìa anh Huệ! Lâu lắm không thấy anh ghé thăm chị Da Đố và em? Anh bận lắm phải không? Chao ơi! Hôm duyệt binh trông anh mới oai phong làm sao!

Huệ mỉm cười, chàng cảm thấy thật thoải mái khi gặp Liên nhi, cảm giác nặng nề lúc nãy khi đi bên Ngọc Lan vụt biến mất:

–  Ừ. Dạo này anh bận lắm, em sống với chị Da Đố vui vẻ chứ?

–  Dạ. Chị Da Đố tốt với em lắm. Em và chị Hương vợ anh Lộc đang phụ chị ấy coi sóc cánh đồng ở rừng Mộ Điểu.

–  Vậy là anh an tâm. Anh chỉ sợ em lẻ loi một mình sẽ buồn chán.

Liên nhi cười thật tươi:

–  Cảm ơn anh, em lúc nào cũng có thể tìm thấy niềm vui quanh mình. Anh đừng lo. Nhưng mà…

–  Nhưng mà sao?

–  Chị Da Đố nói, lúc này có chị Cả Huệ lên đây, chị ấy định hỏi anh Cả dời nhà xuống Mộ Điểu. Vậy là em phải đi theo chị ấy rồi.

–  Em muốn ở lại đây phải không?

Liên nhi cúi đầu đáp nhỏ:

–  Dạ…nhưng…

–  Nhưng sao?

–  Nhưng… ở đây với ai?

–  Để anh hỏi anh Cả cho em ở lại căn nhà này. Em có tài đánh đàn, có thể ở đây dạy cho Thọ Hương và Thảo Hương cùng những đứa trẻ khác. Thỉnh thoảng các em ca hát giúp vui cho bà con ở đây cũng là việc hay đấy chứ.

Liên nhi mỉm cười, nheo mắt nhìn Huệ:

–  Rồi ai nuôi cơm em?

–  Anh. Anh sẽ chia phần lương thực của anh cho em. Được chứ?

– Được chứ sao không. Như lúc trước chúng ta cũng đã từng chia cơm cho nhau vậy đó. Thọ Hương và Thảo Hương là ai vậy anh?

–  Là hai đứa con gái lớn của anh Cả, thằng Bảo là út. Chị Da Đố có nhà không? Chừng nào chị ấy dời xuống dưới kia?

–  Chị ấy đang ở trong bản. Nghe nói sắp rồi. Anh Huệ này. Sao em không thấy anh có nhà riêng cho mình? Anh là thủ lĩnh mà?

Huệ cười:

–  Anh sống trong trại với anh em cho vui. Anh muốn chia sẻ mọi thứ với họ một cách đồng đều, bình đẳng, trong sinh hoạt cũng như trong luyện tập.

–  Nhưng em nghĩ người thủ lĩnh phải có chút ưu tiên hơn chứ?

–  Chúng ta còn đang trong thời kỳ chuẩn bị, chưa có thành quả gì mà đã đòi hưởng thụ, làm sao anh em họ nghe mình. Hơn nữa, anh không nghĩ đến việc phải được ưu đãi hơn anh em, dù là sau này. Bình đẳng, đó là lý tưởng của anh và của phong trào.

Liên nhi cười tinh nghịch:

–  Trời ơi! Vậy mà anh đòi chia phần cơm cho em thì cả hai chỉ có chết đói.

Huệ vui lây với câu nói này, chàng nói:

–  Thôi để anh nói anh Bảy cấp phần lương thực cho em vậy. Coi như là trả công cho cô trưởng ban văn nghệ của trại.

Liên nhi nói như đùa, như thật:

–  Em đùa cho anh vui thôi. Em muốn được lãnh phần cơm của anh chia cho hơn.

–  Vậy thì rán chịu bữa đói bữa no nhé. Thôi em vào nhà đi, anh phải đi tìm Tín Nhi có việc.

Họ chia tay nhau. Huệ về trại mới biết Tín Nhi vừa cưỡi ngựa đi ra ngoài, chàng bèn lên ngựa phóng đi tìm. Hoàng hôn đã buông xuống, ánh trăng rằm tháng Chạp vừa nhú lên ở phương Đông soi sáng cả núi rừng cô tịch. Tín Nhi đang ngồi một mình bên vực Trầm Hương uống rượu ngắm trăng lên. Huệ xuống ngựa đến ngồi bên bạn:

–  Ta tìm ngươi trong trại không thấy, biết ngươi đang ở đây. Lại nhớ tới cô bé Hoài Quân bên dòng sông Vàm Cỏ à?

Tín Nhi vẫn nhìn ánh trăng lung linh trên mặt vực, đưa bầu rượu cho bạn đáp:

–  Nhớ thì ít mà lo thì nhiều.

Huệ đưa bầu rượu lên nốc một hơi dài, thở khà một tiếng hỏi:

–  Lo cái gì?

–  Lo cho cô bé cứ phải hàng ngày ra bờ sông chờ ta vẫy chiếc khăn đỏ này.

Tín Nhi rút chiếc khăn đỏ quấn quanh cổ ra, đưa cho Huệ coi. Nói tiếp:

–  Trong cách nói của Hoài Quân ta có cảm giác là cô bé ấy nhất định sẽ làm theo lời nói. Bởi vậy ta cứ lo cho sự hoài công của nàng.

–  Vẫn chưa có việc gì ở trong Nam để ngươi vào. Ngươi chịu khó bớt lo đi vậy.

–  Ta biết.

–  Đội thám báo và truyền tin của ngươi ra sao rồi?

–  Hơn trăm người rồi. Ta đang ráo riết luyện tập cho họ.

–  Con số đó còn ít lắm.

–  Ta biết. Trong thời gian tới khi tiếp nhận người mới lên, ngươi tuyển thêm cho ta. Nguyên tắc của đội thám báo là hoạt động âm thầm, càng ít người biết càng tốt. Trừ những thủ lĩnh.

–  Ta biết. Trước mắt ta sẽ cố gắng tuyển cho ngươi ít nhất năm trăm người nữa. Có như vậy mới đủ lực lượng cung ứng kịp thời cho hoạt động của phong trào khi nó lớn mạnh.

–  Ngươi và anh Cả đã có dự tính lúc nào xuống núi chưa?

–  Theo ta thì Tây Sơn phải có trong tay ít nhất năm nghìn nghĩa quân được luyện tập vững vàng mới khởi sự được. Sau đó khi chiếm vùng đất nào, ta mộ lính thêm ở vùng đó. Có lẽ phải đến sang xuân năm tới. Bởi vậy đội của ngươi phải bắt đầu hoạt động vào trước thời điểm đó.

–  Càng thận trọng càng đỡ sơ xuất. Ngày trước, Truông Mây vì vụ đốt phủ Quy Nhơn nên can qua dấy động sớm khi phong trào chưa đủ lực. Thất bại phần lớn là do vậy.

–  Đó là bài học quý giá cho Tây Sơn. Ta định ngày mai sẽ họp hết các chỉ huy cùng với thầy bàn về việc thống nhất cách luyện tập cho nghĩa quân, ngươi muốn tới dự không?

–  Ta càng ít xuất hiện càng có lợi hơn cho ngươi sau này.

–  Cũng được. Về việc huấn luyện anh em thám báo, ngươi cần ta giúp gì không?

–  Sư phụ ta và thầy ngươi sở học căn bản giống nhau, nhưng nếu ngươi có thời gian đến giúp ta một số ý kiến cũng được.

–  Ta sẽ thu xếp.

–  Mai này ta sẽ phải bôn ba đây đó vì công việc, Hoàng Nhi giao lại cho ngươi nhé. Ngươi ráng đào tạo, nó sẽ là một thuộc tướng giỏi dưới tay ngươi.

–  Ta sẽ chăm sóc nó thay ngươi. Nghe thầy khen nó và thằng Trị con chị Tư của ta lắm.

–  Ta chưa gặp qua chị Tư ngươi.

–  Chị Tư Hoa là vợ anh Sáu Bá, em của anh Năm Ngạn, ngươi biết Năm Ngạn rồi phải không? Họ Phạm nhà anh Năm Ngạn rất thân với nhà ta. Thằng Phạm Công Trị là con trai lớn của chị Tư. Chị Tư lấy chồng rất sớm nên thằng Trị chỉ nhỏ hơn ta vài tuổi, ngươi gặp nó sẽ rất ngạc nhiên.

–  Vì sao?

–  Vì nó giống ta như hệt. Cậu cháu mà như anh em sinh đôi vậy.

Tín Nhi bỗng hỏi:

–  Chuyện của ngươi và Ngọc Lan thế nào rồi?

Huệ nhặt một viên sỏi ném xuống mặt vực nước, ánh trăng loang ra theo những con sóng. Chàng thở dài:

–  Chẳng thế nào cả. Lo công việc trước đã, chuyện ấy cứ thả mặc cho tự nhiên.

Hai người im lặng chia nhau bầu rượu cho đến cạn sạch mới trở về.

*

Hôm sau Huệ mời các thủ lĩnh Tây Sơn đến thăm Giáo Hiến. Chàng thưa với thầy:

–  Con có ý định tinh lọc, đúc kết và hệ thống tất cả các môn võ của các phái lại thành những bài học từ căn bản đến cao cấp để huấn luyện cho nghĩa quân. Theo thầy việc này có nên không?

Giáo Hiến đáp:

–  Việc này vừa rất cần thiết cho việc huấn luyện, vừa có lợi cho nền võ thuật dân tộc. Điều lo ngại duy nhất là từ lâu, phái nào, nhà nào, cũng muốn giữ riêng tuyệt nghệ của mình, không muốn phổ biến cho đại chúng. Việc anh làm chỉ sợ đụng chạm đến họ.

Huệ nói:

–  Tính tư hữu, cục bộ đó từ lâu đã làm cho nền võ thuật nước nhà bị thui chột và chậm phát triển, lúc nước biến không đủ lực để chống ngoại xâm. Chúng ta phải vượt lên trên những tư hữu nhỏ nhen ấy mới mong nước nhà vững mạnh lên được.

Giáo Hiến nói:

–  Đó là điều mong ước của đại đa số, nhưng thiểu số sở hữu những bí truyền vẫn không muốn để lộ ra cho người khác biết. Tâm lý của họ là lo sợ không còn tuyệt chiêu để tranh hơn thua với kẻ khác.

–  Chúng ta làm việc này không phải cho một cá nhân hay một bang hội, mà là cho cả dân tộc, con tin sự đụng chạm kia dẫu có rồi cũng sẽ qua, các môn phái sẽ hiểu mục đích lớn của chúng ta.

Rồi chàng nhìn mọi người hỏi:

–  Các anh ở đây mỗi người đều có tuyệt nghệ riêng, có sẵn sàng chia sẻ cho tất cả anh em nghĩa quân không?

Lý Văn Bưu lên tiếng:

–  Sao lại không chớ. Anh Huệ cần gì cứ nói, tôi sẵn sàng.

Sáu người còn lại trong Thất Hổ tướng và Bùi Thị Xuân đều lên tiếng tán thành. Huệ nói:

–  Như vậy thì chúng ta hãy bắt đầu từ các bài quyền và vũ khí độc môn của tám vị ở đây trước. Nhờ thầy và các anh chị đúc kết lại thành những bài học từ căn bản đến cao cấp để huấn luyện anh em.

Chàng ngừng lại một chút, thấy không có ai nói gì, bèn nói tiếp:

–  Sau vụ Tín Nhi bị súng hỏa điêu bắn trúng, tôi giật mình nghiệm ra rằng, chiến tranh bây giờ không còn như xưa, một binh đội không nên phụ thuộc hoàn toàn vào viên tướng chỉ huy mà tất cả binh sĩ phải có khả năng tự chiến đấu, người tướng súy chỉ giữ vai trò điều động kế hoạch tác chiến. Thắng lợi của trận chiến phải dựa trên sự tài giỏi và lòng dũng cảm của những người lính.

Võ Đình Tú lên tiếng:

–  Nói rất hợp ý tôi. Nếu chiến trận chỉ dựa vào vị chỉ huy, chẳng may bị đạn lạc chết, cả binh đoàn phải thua trận thì quá thất sách.

Huệ được Tú ủng hộ nên hăng hái nói thêm:

–  Cho nên việc huấn luyện cho tất cả nghĩa quân có một trình độ võ công cao, có ý thức về chiến trận, nhất là lòng tin vào chiến thắng vững mạnh thì ra quân ta có thể nắm chắc phần thắng địch.

Tú nói thêm:

–  Như vậy, vị chỉ huy không những võ nghệ phải cao cường mà còn phải tinh thông thao lược để lúc lâm trận phải biết tùy cơ ứng biến cho thích hợp với tình hình. Binh pháp nói tùy vào hình, thế mà đánh địch là như vậy.

Giáo Hiến gục gật đầu tỏ vẻ ngợi khen. Ông nói:

–  Các ý kiến của anh Tú và anh Huệ rất đúng. Chúng ta phải làm việc từ dưới lên. Nghĩa là từng nghĩa binh phải giỏi để giúp cho các đội trưởng, từng đội trưởng phải giỏi để giúp cho binh trưởng v.v… Tổ chức được một quân đội như vậy thì chiến trường nào cũng có cách để đánh thắng, lại giảm thiểu tối đa sự sơ xuất của từng đơn vị tác chiến. Để làm được điều này trước hết chúng ta phải coi nhau như anh em, từ chỉ huy đến người lính, đặt công việc chung lên hàng đầu, danh dự cá nhân xuống thứ yếu. Thứ đến là phải chịu học hỏi, và siêng năng học tập, người tướng lĩnh có khi phải học ở người lính dưới quyền của mình.

Huệ thêm:

–  Từ nay, mỗi đêm các cấp chỉ huy từ Tốt (100 người), Lữ (500 người) đến Sư (2.500 người) phải có một khắc học tập binh pháp, hai khắc học võ thuật, sau đó về dạy lại cho các anh em trong bộ phận của mình. Về binh pháp, anh Tú và anh Sở giúp tôi một tay, về võ thuật, các anh sau khi thống nhất với thầy xong, mỗi người đảm trách việc huấn luyện cho anh em của mình. Kỳ hẹn ba tháng sẽ có một lần tranh tài trong các binh chủng.

Quang Diệu nói:

–  Tôi có biết bài quyền tên Ngọc Trản Ngân Đài của tộc họ Trương ở Phù Ly. Bài quyền này từ lời thiệu cho đến các thế đánh rất thích hợp để làm bài quyền nhập môn.

Giáo Hiến nói:

–  Anh đọc bài thiệu và biểu diễn các thế cho chúng tôi xem.

Quang Diệu đứng lên bước ra chỗ trống, vừa đọc lời thiệu vừa ra thế:

Ngọc trản ngân đài

Tả, hữu tấn khai thập tự

Liên diệp liên hoa

Đả sát túc, tọa, hồi mai phục

Tấn đả tam chiến

Thoái thủ nhị linh

Hoành tả, tọa, bạch xà lan lộ

Hữu hoành sát thanh long biên giang

Phụ tử tương tùy

Hoành hữu, tọa, bạch xà lan lộ

Tả hoành sát thanh long biên giang

Phụ tử tương tùy

Hồi tàng địa hổ

Song phi, triển dực

Hạ bàn đoản đả

Hồi tiễn tọa khai cung

Huỳnh long quyển địa

Tấn đả song quyền

Hoành tả, phục hạc khai linh

Trực tiền quyển địa

Tấn đả song quyền

Hoành hữu, phục hạc khai linh

Trực tiền quyển địa

Tấn, đả song quyền

Hướng, hậu đả thập tự

Diện tý

Hồi, tẩu mã giang tiên

Bái tổ, lập như tiền

Quang Diệu đi dứt bài quyền, Giáo Hiến khen:

–  Rất hay, vừa văn, vừa võ, lại mang tính chất đặc trưng của người Việt ta. Chọn bài này làm căn bản nhập môn là hợp cách nhất.

Huệ đề nghị:

–  Xin thầy dịch lời thiệu ra tiếng Nôm ta cho anh em dễ nhớ. Về sau, mọi thứ con thấy ta nên lấy chữ Nôm làm căn bản cho đại chúng dễ hiểu thầy ạ.

Giáo Hiến nói:

–  Ý hay. Tôi sẽ làm theo lời anh từ việc giấy tờ cho đến trong lớp học dạy bọn trẻ.

Huệ vội thưa:

–  Tạ thầy.

Theo tinh thần đã bàn, nghĩa quân Tây Sơn từ chỉ huy xuống đến nghĩa quân đều gắng công rèn luyện võ nghệ và học hỏi binh pháp. Tuy Nguyễn Huệ không nói đến môn phái, bang hội, nhưng vô hình trung, võ Tây Sơn đã hình thành và lớn mạnh, góp phần to lớn trong việc phát huy nền Việt Võ Đạo từ đó về sau. Cũng từ đó trong giới võ lâm Đại Việt truyền tụng câu “Đại Việt võ công xuất Tây Sơn”.

Đến mùa thu năm Qúy Tỵ, 1773, Tây Sơn đã có một đội quân chủ lực đông hơn năm ngàn. Hôm Nguyễn Huệ tổng diễn tập ở luyện võ trường, Nguyễn Nhạc cùng Giáo Hiến và các tộc trưởng các tộc Tây Nguyên ngồi trên khán đài dự khán đã không tiếc lời khen ngợi trước sự dũng mãnh của ba quân cũng như tinh thần kỷ luật cao độ của họ. Nhạc cố nén niềm vui nói với Giáo Hiến:

–  Với đoàn quân này, theo ý thầy đã đến lúc chúng ta khởi sự chưa?

Giáo Hiến đáp:

–  Để chiếm lấy Quy Nhơn, Quảng Ngãi và Phú Yên thì được, nhưng muốn đủ lực chống đỡ quân Nguyễn ở cả hai mặt nam, bắc cần phải tuyển thêm nhiều quân lính nữa.

–  Chúng ta chiếm đất đến đâu, mộ quân đến đó. Tôi dự trù để chú Huệ và vài tướng lãnh ở lại đây luyện quân, số còn lại bắt đầu khởi sự. Ý thầy thế nào?

–  Tôi tán thành.

Nhạc mừng rỡ nói:

–  Thầy đã đồng ý, ngày mai tôi sẽ cho mời bọn Nguyễn Thung, Huyền Khê về An Khê họp bàn để thống nhất kế hoạch tổng khởi nghĩa. Nhờ thầy đề xuất chiến lược ra quân và mục tiêu khởi nghĩa của phong trào.

Giáo Hiến nói:

–  Việc này tôi đã có chủ kiến, ông Cả cứ tiến hành.

*****