NTSH – Hồi thứ năm

Kỳ 182:

Hồi thứ năm

Giữa giáo trường,  Lê Văn Hưng xứng danh Thất Hổ

Luyện hùng binh, Nguyễn Huệ đáng mặt Nguyên nhung

Mùa hạ năm Tân Mão, 1771, khí trời nóng như thiêu làm ruộng đồng nứt nẻ, mùa màng, hoa quả đều thất thu, nạn đói khắp nước càng trầm trọng hơn. Quan lại thừa cơ luật pháp triều đình lỏng lẻo đã thẳng tay đàn áp, bóc lột dân chúng khiến cho đời sống người dân đen đắng cay chẳng khác gì nơi địa ngục. Khắp nơi, người ta truyền miệng nhau câu chuyện “Nguyễn Nhạc Vi Vương” và vùng đất Tây Sơn đang dang tay đón nhận những người khốn khổ về tá túc, cuộc sống ở đó vừa an toàn vì không có cảnh quan lại áp chế, lại có ruộng rẫy để canh tác mưu sinh. Thế là từng đoàn người đói khổ rủ nhau kéo về vùng đất tình thương tìm cuộc sống mới.

Mấy tháng qua, Nguyễn Lữ, Nguyễn Huệ cùng các thủ lĩnh Tây Sơn tăng cường việc tiếp nhận những người mới theo về, phân phối các vùng cư trú và canh tác cho họ. Chỉ trong vòng từ đầu năm Tân Mão đến mùa Thu, số người mới về theo lên đến hơn bốn nghìn, nâng tổng số cư dân Tây Sơn trung và thượng lên hơn vạn. Nguyễn Huệ và Nguyễn Văn Tuyết chọn những người trai tráng, khỏe mạnh sung vào đội nghĩa binh, đội quân Tây Sơn nay đã gần ba ngàn người, chưa kể số binh sĩ người Thượng ở các bản An Khê gần hai ngàn người ngựa. Đạo quân người Thượng này rất sùng kính Đức Ông Thầy Cả, Đức Thượng Sư Nguyễn Nhạc, họ lại rất khỏe mạnh và hung dữ, bởi vậy Nguyễn Huệ tách riêng và huấn luyện họ thành một đạo quân cảm tử đặt dưới quyền chỉ huy của Đức Thầy Cả, hầu bảo vệ thủ lĩnh phong trào.

Nguyễn Huệ dựa theo cách thành lập quân đội trong Binh Thư Yếu Lược của Hưng Đạo Vương, chia số quân người Kinh thành nhiều binh chủng khác nhau:

–  Khinh kỵ quân, đặt dưới quyền chỉ huy của Phi Vân Báo Lý Văn Bưu

–  Thám báo quân, đặt dưới quyền chỉ huy của Tín Nhi.

– Quân công thành phá trận, dưới quyền chỉ huy của Nguyễn Văn Tuyết. Đạo quân này quy tụ hầu hết những con người bạt mạng của phong trào, coi mạng sống nhẹ tựa lông hồng.

–  Quân thủy chiến, dưới quyền chỉ huy của Võ Văn Dũng.

–  Hỏa quân, dưới quyền chỉ huy của Nguyễn Văn Lộc.

–  Tượng binh, dưới quyền chỉ huy của Bùi Thị Xuân.

– Bộ binh, dưới quyền chỉ huy của Nguyễn Văn Kim, Trần Quang Diệu, Võ Đình Tú và Ngô Văn Sở. Đây là đạo binh chủ lực có quân số đông nhất.

Nguyễn Huệ lập ra bảy cửa ải để thử thách và tìm kiếm nhân tài trong quân đội. Bảy cửa ải này gồm có khả năng leo trèo, nhảy xa, bơi lội, gan dạ, lanh lợi, mưu trí, và võ nghệ. Tất cả nghĩa quân khi gia nhập quân đội đều phải trải qua các thử thách trên, từ đó, Huệ chọn ra những nhân tuyển thích hợp cho các đội quân đặc biệt, số còn lại sung vào bộ binh. Trong quá trình thử thách, Huệ phát hiện ra một người lính trẻ tên Lê Văn Hưng, người làng Kiên Dõng. Người này tính tình trầm lặng nhưng võ nghệ hết sức cao cường, cây thương trong tay anh ta như rồng bay phụng múa, đã loại hết các đấu thủ trong hàng binh sĩ khiến Võ Văn Dũng phải bước ra thử sức.

Văn Dũng cùng Trần Quang Diệu được Tây Sơn coi là hai tay đại đao hạng nhất trại, Nguyễn Nhạc vẫn từng nói: “Phá trung sơn tặc dị, thắng Văn Dũng đao nan”, vậy mà Lê Văn Hưng có thể giao đấu với thanh đại đao của Võ Văn Dũng suốt từ sáng sớm đến quá trưa vẫn bất phân thắng bại. Họ đấu nhau dưới đất hàng bốn, năm trăm hiệp chưa rõ hơn thua bèn lên ngựa quần nhau một trận kinh thiên động địa cũng bất phân thắng bại khiến cả giáo trường không ngớt reo hò, vỗ tay tán thưởng.

Nguyễn Huệ thấy họ đấu với nhau quá hăng sợ xảy ra điều bất trắc vội la lớn:

–  Dừng tay! Như thế đủ rồi.

Cả hai lúc bấy giờ mới chịu ngừng tay, phóng xuống ngựa chắp tay vái đối thủ của mình. Võ Văn Dũng cười nói:

–  Anh quả là tay thương vô địch thiên hạ. Dũng tôi từ khi học võ đến nay, ngoài lần thử đao bất phân thắng bại với Quang Diệu, đây là trận đấu thống khoái nhất đời.

Lê Văn Hưng từ tốn nói:

–  Anh mới đúng là tay đao vô địch. Hưng tôi may mắn giữ được tới lúc này tưởng đã đứt hơi rồi. Đường đao vừa rồi tôi chưa từng biết qua. Thật là tuyệt diệu.

Dũng cười:

–  Đó là bài Lôi Long đao tôi vừa sáng chế, may mà không bị bại dưới tay anh.

Nguyễn Huệ mừng rỡ nắm tay Lê Văn Hưng nói:

–  May mắn cho Tây Sơn đã phát hiện ra anh. Anh thật xứng với danh hiệu Thiên hạ đệ nhất thương. Tài nghệ của anh như vậy sao lúc lên trại không nói sớm lại phải chịu làm một người lính tầm thường?

Lê Văn Hưng nói:

–  Đa tạ chủ tướng đã quá khen. Hưng tôi nghĩ tài năng phải được biết đến qua thử thách hơn là thân tình, bởi vậy tôi chờ đợi cơ hội chứng minh.

Huệ nói:

–  Tốt lắm. Vậy là Tây Sơn đã có Thất Hổ tướng rồi. Từ nay anh sẽ cùng anh Kim, anh Diệu, anh Tú và anh Sở chỉ huy đội bộ binh.

Lê Văn Hưng cúi đầu nói:

–  Đa tạ chủ tướng nâng đỡ.

Huệ nói:

–  Trong kho binh khí cổ của Thần Thâu có một cây Luyện tử kim thương đời Lý, tương truyền là cây thương mà Lý Thường Kiệt đã dùng đánh đuổi quân Tống, nay tặng lại cho anh.

Rồi đích thân bước lên đài mang cây thương xuống trao cho Lê Văn Hưng. Hưng đỡ cây thương cầm tay thấy rất vừa ý, nhìn nước thép biết là cây thương quý, bèn chống thương xuống đất, quỳ một chân xuống nói:

–  Ân tình này, Lê Văn Hưng trân trọng suốt đời, nguyện vì Tây Sơn đến chết không thôi.

Huệ vội đỡ Hưng đứng lên:

–  Anh không nên đa lễ như vậy. Khó khăn trước mắt còn nhiều, chúng ta hãy cùng nhau đồng tâm hiệp lực giúp cho nghiệp lớn của Tây Sơn chóng thành là được.

Trong những đợt thử thách sau, Nguyễn Huệ lại phát hiện ra một tướng tài khác đó là Trần Bá Giáp. Bá Giáp người làng Nho Lâm, huyện Nam Xương, phủ Hà Nam, vì chán ghét quan lại địa phương nên bỏ vào Quy Nhơn mở trường dạy võ, sau lên An Khê đầu quân với Tây Sơn. Bá Giáp với tài nghệ phóng lao trăm phát trăm trúng, lại giỏi nghề huấn luyện voi nên được Nguyễn Huệ đưa vào đội tượng binh của Bùi Thị Xuân.

Sau một thời gian thử thách, các đạo quân đặc biệt đã đạt được quân số khá đông, Huệ bèn họp các chủ tướng học tập binh pháp, bàn bạc cách huấn luyện, sau đó mỗi đội tự lo việc rèn luyện toán quân của mình dưới sự giám sát của Huệ. Riêng bộ binh, Huệ chia ra ba toán: tiền quân, trung quân và hậu quân, theo cách của Binh Thư Yếu Lược mà tập luyện. Để kích thích lòng quân sĩ, Nguyễn Huệ cho làm một bộ trống bịt da trâu mười hai chiếc, gồm nhiều trống lớn, nhỏ tạo ra âm thanh khác nhau, sau đó đặt ra bài trống trận gồm ba hồi: xuất quân, công thành phá trận, và khải hoàn. Không có hồi trống thu quân, vì trong quân lệnh của Huệ, quân Tây Sơn chỉ có tiến lên chứ không được phép quay đầu tháo chạy, ai trái lệnh sẽ bị chém chết tại trận. Đặt ra nghiêm lệnh này, Nguyễn Huệ đưa quân Tây Sơn vào khí thế, chiến thắng hay chết.

Huệ lại đặt ra một bản quân lệnh, cho dán khắp nơi để toàn bộ quân sĩ đọc. Bảng quân lệnh và cách thưởng phạt trong quân như sau:

1-    Nghe trống không tiến, phất cờ không dậy, ngã cờ không phục, đó là tội bội quân, phải chém..

2-    Gọi đến không thưa, lúc điểm quân vắng mặt, sai hẹn, trễ nải, đó là tội mạn quân, phải chém.

3-    Đêm nghe hiệu mõ không báo lại, giờ canh bỏ vắng, khẩu hiệu nói sai, cứng cổ khó răn, đó là tội hoạnh quân, phải chém.

4-    Đem oán hờn rêu rao trong quân sĩ, nói xấu chủ tướng, không tuân mệnh truyền, đó là tội khi quân, phải chém.

5-    Giáo gươm không sắc, cờ hiệu thất lạc, cung để đứt dây, tên bỏ mất cánh, đó là tội thất thoát, phải chém.

6-    Bạ nói bạ cười, không tuân lệnh cấm, rượu chè be bét, tiết lậu quân cơ, đó là tội khinh quân, phải chém.

7-    Đi đến đâu quấy nhiễu dân sự, hiếp chốc đàn bà, đó là tội gian quân, phải chém.

8-    Đặt chuyện điêu ngoa ma quái làm loạn lòng quân đó là tội ngoa ngữ, phải chém.

9-    Lấy tài sản người làm của mình, lấy công người làm công mình, đó là tội đạo quân, phải chém.

10-  Lúc hành quân không chú ý để lạc hàng ngũ, trái hiệu lịnh là tội loạn quân, phải chém.

 11- Giả ốm đau, lánh nặng tìm nhẹ, đó là tội trá quân, phải chém.

12-  Không biết thương yêu, giúp đỡ đồng đội, để giặc uy hiếp mà không tiếp cứu là tội tệ quân, phải chém.

13-  Nghĩa quân Tây Sơn chỉ tiến chứ không lùi. Kẻ quay đầu bỏ chạy sẽ bị đồng đội chém tại trận.

Mười ba điều cấm trên, kẻ nào vi phạm, chiếu đó xử trị.

Từ đó nghĩa quân không ngừng luyện tập, chưa đầy nửa năm, lực lượng tạp nham gồm những người xiêu tán, những kẻ bạt mạng từ bốn phương trời tụ lại, dưới sự huấn luyện gian khổ và khắc khe của Nguyễn Huệ đã trở thành một đạo quân hùng mạnh, kỷ luật nghiêm minh, quân uy sắt thép.

Nguyễn Nhạc cho nghĩa quân đắp một lũy đất hình bảy cạnh như con mương, mặt lũy rộng 30 thước (10m), chân rộng 36 thước (12m), phần lõm giữa lũy dùng để binh sĩ trú. Lũy dài hai dặm, nối liền hai hòn núi hai bên đèo Vĩnh Viễn, chắn ngang mặt đông trên con đường độc đạo từ đồng bằng lên cao nguyên An Khê, là bức tường thành bảo vệ cho hậu cứ của nghĩa quân. Lũy nhân đó mang tên lũy Ông Nhạc, và ngọn núi đầu phía Nam lũy là hòn Ông Nhạc. Ngọn núi đầu phía Bắc anh em đắp lũy gọi nó là núi Ông Bình vì ở cửa Hang Tối Trời đã có sẵn bút tích của Nguyễn Quang Bình ở đó.

*

Nhắc lại đốc trưng Đằng từ Truông Mây kéo quân về trong lòng vẫn hậm hực vì bắt hụt đám nghĩa sĩ Truông Mây, nhất là tên Biện Nhạc, người mà hắn ta thù ghét từ lúc tóc còn để chỏm. Quyết không bỏ cuộc, Đằng bỏ thời gian truy tìm chứng cớ để buộc tội Nhạc cho bằng được. Khi đã có một số bằng chứng khả dĩ có thể bắt Nguyễn Nhạc, hắn vào tận phủ Quy Nhơn tìm gặp Nguyễn Khắc Tuyên để báo cáo. Khắc Tuyên truyền cho hắn vào gặp. Đằng vào đến nơi liền thưa:

–  Trình lên ngài tuần phủ, hạ chức có tâm phúc báo cho biết tên Biện Nhạc ở Vân Đồn lúc trước đã kéo một lũ tay chân của hắn ở Tây Sơn về họp với dư đảng Truông Mây tế mộ. Chúng còn tìm giết và moi tim tổng đốc Hoàng Nhẫn, người có công hạ độc bọn Truông Mây, đem về làm vật tế. Đáng tiếc khi hạ chức kéo quân đến nơi thì bọn chúng đã bỏ trốn mất. Xin ngài tuần phủ cho bắt tên Biện Nhạc về đây vấn tội.

Khắc Tuyên hỏi:

–  Ngươi không có bằng chứng trong tay thì lấy cớ gì để bắt hắn?

Đằng thưa:

–  Mấy tháng nay dân chúng khắp nơi đồn ầm lên chuyện Nguyễn Nhạc được trời sắc phong làm vua và ban cho ấn kiếm, cho nên hắn chiêu mộ bá tánh trong thiên hạ lên An Khê tụ tập làm phản. Hắn còn dám về Truông Mây tế mộ bọn phản nghịch, công việc Biện lại của hắn cũng không làm tròn. Thuế má ở Vân Đồn hai năm nay hắn giao nộp khi thiếu, khi đủ. Từ hơn nửa năm nay hắn không nộp lên huyện xu nào. Với bao nhiêu việc đó, ý đồ tạo phản của hắn đã rõ, tuần phủ nên bãi chức và bỏ tù hắn ngay trước khi hắn trở thành một thằng Lía thứ hai.

Khám lý Phan Chính Trung nói:

–  Đốc trưng nói đúng, thưa tuần phủ. Tên Biện Nhạc này đã nợ công quỹ một khoảng thu rất lớn chưa giao nộp, chúng ta nên lệnh bắt hắn giao nộp khoản tiền nợ ngay, nếu không nộp đủ, bãi chức và bỏ tù hắn lập tức, đừng để hắn trốn mất.

Khắc Tuyên nói:

–  Nếu đúng như thế, ta giao việc này cho đốc trưng xử lý. Buộc hắn nộp trả số tiền nợ ngay lập tức, nếu không bắt hắn giải về đây cho ta. Việc hắn có ý đồ tạo phản để ta cho người dò xét rồi mới quyết định.

Đốc trưng Đằng mừng rỡ thưa:

–  Xin tuần phủ yên tâm, hạ chức quyết hoàn thành nhiệm vụ trong thời gian ngắn nhất.

Hắn cúi đầu bái tạ lui ra, sau đó tức tốc kéo quân lên Kiên Thành tìm Biện Nhạc. Trong khi đó Nguyễn Nhạc đang ở An Thái cùng Giáo Hiến bàn bạc việc khởi nghĩa. Nhạc nói:

–  Hôm trước tên đốc trưng Đằng bắt hụt chúng tôi chắc là hắn chưa chịu bỏ qua. Gần đây đồng bào đói khổ quá nên tiền thuế gần hai năm nay tôi không nỡ thu của họ, việc này thế nào thằng Đằng cũng lợi dụng để thóc mách quan trên. Người của tôi trên phủ mới báo về, e rằng chúng sẽ ra tay bắt tôi. Thầy coi thu xếp gia đình lên Tây Sơn thượng ngay, bọn chúng không bỏ qua cho thầy đâu.

Giáo Hiến nói:

–  Tôi cũng liệu trước việc này nên đã chuẩn bị. Ông Cả về thu xếp việc nhà, chúng tôi tự lo được.

Đang nói chuyện thì có người từ Kiên Thành chèo thuyền xuống báo:

–  Bọn đốc trưng Đằng đang làm khó dễ mấy người ở nhà. Hắn đòi ông Cả Biện phải nộp hết số thuế nợ lên huyện ngay lập tức, nếu không chúng sẽ bắt ông Cả về phủ.

Nhạc mỉm cười nói với Giáo Hiến:

–  Vậy là chúng chỉ mới nhắc tới chuyện nợ thuế chứ chưa biết việc mình làm. Thầy lo thu xếp đi ngay cùng với tôi, cả nhà tôi đã lên đó hết rồi. Cứ để mấy anh em ở nhà cò cưa với thằng Đằng.

Không mất bao lâu, cả nhà Giáo Hiến đã tay nải gọn gàng trên ba con ngựa cùng Nguyễn Nhạc và ba hộ vệ lên đường, nhắm Tây Sơn thượng thẳng tiến. Đó là ngày đánh dấu sự ly khai triều đình Chúa Nguyễn của ba anh em Tây Sơn để chuẩn bị cuộc khởi nghĩa, nhằm mùa Thu năm Tân Mão, 1771, Vua Lê Hiển Tông năm thứ 31, Chúa Trịnh Sâm năm thứ 4 và Chúa Nguyễn Phúc Thuần năm thứ 6.

Đốc trưng Đằng hay tin Nguyễn Nhạc đã đem cả gia đình lên Tây Sơn thượng liền cấp báo về phủ Quy Nhơn. Nguyễn Khắc Tuyên ra lệnh tịch thu hết nhà cửa của Nhạc và những người đồng lõa, lại sai tổng binh Phan Triều Long cùng hai phó tướng lãnh một đạo binh hai ngàn nhân mã tiến đánh Tây Sơn thượng cố ý dẹp tan bọn phản loạn từ trong trứng nước. Đốc trưng Đằng nghe lệnh liền tịch thu ruộng đất của Nguyễn Nhạc, lại cho phóng hỏa đốt sạch Tây Sơn Hội Quán và sòng bạc Phát Tài. Hắn còn truy lùng những người thân của Nhạc nhưng tất cả đã lên Tây Sơn thượng từ trước.

Phan Triều Long nhận lệnh của tuần phủ, điểm hai ngàn nhân mã tiến đến gần chân đèo An Khê thì trời sắp tối nên cho hạ trại gần núi Đồng Phong nghỉ ngơi chờ sáng mai vượt đèo. Quân thám mã báo tin lên Tây Sơn thượng, Nguyễn Nhạc cho họp các tướng bàn việc đối phó. Nhạc hỏi Huệ:

–  Bấy nay việc tập luyện nghĩa binh thế nào?

Huệ đáp:

–  Em định chờ cho gia đình thầy ổn định xong sẽ tổ chức thao diễn quân sĩ để anh Cả và thầy duyệt qua xem có chỗ nào chưa vừa ý thì sửa đổi. Nhưng bọn giặc đã đến sớm, em xin anh Cả cho em đưa quân xuống thử sức trận đầu này để rút tỉa kinh nghiệm được không?

Nhạc nhìn Giáo Hiến dò ý. Giáo Hiến vốn hiểu rất rõ Nguyễn Huệ nên nói:

–  Ông Cả cứ để cho anh Huệ thử nghiệm. Tôi tin mọi việc sẽ khả quan.

Nhạc nói:

–  Chú cần bao nhiêu nghĩa binh để đối phó với đạo binh hai ngàn nhân mã của Phan Triều Long?

Huệ đáp:

–  Phan Triều Long nhờ thân thế nên được thăng chức tổng binh, đạo binh ấy chỉ cần một ngàn nghĩa quân cũng đủ tiêu diệt. Có điều anh em bấy lâu luyện tập khó nhọc ai cũng nức lòng muốn ra trận, bởi vậy em xin hai ngàn nghĩa quân để đánh dẹp bọn giặc.

Nhạc nói:

–  Được. Mai chú đem hai ngàn anh em xuống phá bọn giặc một trận tan tành để chúng kinh sợ không dám bén mảng lên đây. Có như vậy chúng ta mới an tâm chuẩn bị.

Huệ nói:

–  Không phải ngày mai mà ngay đêm nay. Bọn giặc mới đến, lều trại vừa căng xong thế nào cũng mỏi mệt nghỉ ngơi. Chúng ta đánh ngay lúc này thì chỉ một tiếng hò reo là phá được giặc.

Giáo Hiến gật gù tán thành:

–  Rất hay. Đánh ngay tối nay tất thắng lớn.

Huệ nhận lệnh cùng các tướng kiểm điểm binh mã tập họp tại giáo trường chuẩn bị xuất quân. Nguyễn Nhạc và Giáo Hiến đứng trên đài cao nhìn thấy đội nghĩa binh mới thành lập giáo gươm sáng lòa, hàng ngũ chỉnh tề, ngàn người bước đi như một, khí thế hùng dũng như một đạo binh thiện chiến từng trải qua trăm trận thì không khỏi ngạc nhiên và thán phục. Nhạc hớn hở nói với Giáo Hiến:

–  Không ngờ mới mấy tháng mà chú Huệ có thể biến một đám đông ô hợp thành một đạo binh có quy củ như thế này, chú nó quả có tài làm tướng chỉ huy ba quân.

Giáo Hiến nói:

–  Tướng lãnh có nhiều thứ bậc. Có người có thể chỉ huy ngàn quân, có người chỉ huy được vạn quân. Riêng đối với anh Huệ, quân càng đông càng thích hợp với khả năng của anh ta. Ông Cả có Huệ và Thất Hổ tướng dưới tay, tôi tin chắc đại nghiệp sẽ sớm thành.

Nhạc mừng rỡ:

–  Chỉ mong được như lời thầy nói. Nhưng thầy nhìn xem, một đạo quân như thế nếu có thêm một rừng cờ phụ họa vào có phải uy thế sẽ tăng lên gấp bội không?

–  Ông Cả đã hình dung ra hình thức và màu sắc cho lá cờ đó chưa?

–  Để kích thích lòng hăng hái, không gì bằng màu đỏ. Tôi lại được Thần Hỏa giao cho thanh thần kiếm. Một lá cờ màu đỏ, khuôn vàng chữ nhật, chính giữa là một mặt trời vàng rực cho quân Tây Sơn, thầy nghĩ có thích hợp không?

Nét vui mừng hiện trên mặt Giáo Hiến:

–  Quả là một sự ứng hợp lý thú do trời ban. Ông Cả khởi nghĩa ở Tây Sơn. Phía Tây thuộc Kim, rừng cờ màu đỏ thuộc Hỏa. Hỏa khắc Kim tất thành đại khí, ứng hợp với mạng Thủy của ông Cả. Hơn nữa, màu đỏ là màu của Vua Hỏa, ta dùng màu đỏ làm màu cờ và màu áo thì người dân tộc sẽ tin tưởng mà theo về.

Nguyễn Nhạc cố giấu niềm phấn khích nói:

–  Tôi chỉ suy nghĩ theo con mắt thông thường không ngờ lại có sự ứng hợp như vậy.

–  Đó là chữ vận. Vận đỏ. Người đang vận đỏ, nói gì, nghĩ gì đều hợp với lòng trời, lòng người, do đó chữ vận mới được xếp hàng đầu.

Nhạc nghe Giáo Hiến giải thích lòng mừng không kể xiết, niềm tin vào sự nghiệp đấu tranh mang hạnh phúc cho bá tánh càng vững mạnh. Trong khi hai người đứng trên đài nói chuyện, bên dưới Huệ phân phối kế hoạch tấn công. Huệ nói:

–  Anh Lộc lãnh năm trăm anh em theo sườn núi Ông Nhạc qua dốc Trắc, xuống khỏi ngoẹo Cây Khế men theo mé núi chờ nghe tiếng trống vang lên thì la ó tấn công vào sườn phía Nam trại địch.

–  Anh Tuyết lãnh năm trăm anh em theo lối Cửu An qua dốc Ván, eo Gió xuống dưới chân núi Ông Bình khi nghe tiếng trống trận vang lên thì tấn công vào hông phải của trại giặc phía Bắc.

–  Anh Diệu và anh Hưng lãnh năm trăm anh em tấn công chính diện trại giặc.

–  Anh Bưu lãnh ba trăm kỵ binh đi liền sau toán quân anh Diệu, đợi khi quân địch tháo chạy thì truy sát.

–  Tôi, anh Tú, anh Sở và anh Kim sẽ cùng hai trăm anh em đoạn hậu thúc trống lệnh tấn công. Tất cả phải chờ nghe tiếng trống lệnh mới được xuất chiến, không nên vọng động sớm. Đây là lần ra quân thử nghiệm đầu tiên, anh em hãy cố gắng lên, đánh cho bọn binh triều không còn manh giáp để chúng đừng bao giờ héo lánh đến vùng Tây Sơn này. Xuất quân!

Tất cả nghĩa binh bấy nay luyện tập khổ cực, nay có dịp ra trận người người háo hức lập công nên lệnh xuất quân vừa ban ra, tất cả reo hò mừng rỡ theo chân chủ tướng hăng hái tiến phát. Toán hậu quân của Nguyễn Huệ đi sau, dùng một cỗ xe lớn chở một giàn trống mười hai chiếc, đích thân Huệ cầm dùi đợi đúng thời điểm sẽ thúc trống lệnh tấn công. Giáo Hiến và Nguyễn Nhạc đứng trên cao vẫy tay chào đoàn quân trẩy ngang trước mặt, hai ngàn người ngựa diễn qua rầm rập như cùng một bước đi. Nhạc hân hoan nói với Giáo Hiến:

–  Quân uy và khí thế như thế này, bọn lính bát nháo dưới kia làm sao chống nổi. Hôm nọ chú Huệ nói cho chú ấy vài ba năm chuẩn bị thì con sóng dữ nào chú cũng sẽ đạp nhầu. Lời nói đó không ngoa chút nào.

Giờ Hợi đêm đó từ trên dốc đèo An Khê bỗng vang lên từng hồi trống trận, dội khắp cả núi rừng Tây Nguyên tĩnh mịch. Tiếp liền theo đó là tiếng quân la ó vang trời nghe như có cả hàng vạn người, từ ba mặt doanh trại của Phan Triều Long tấn công vào. Toán quân của Triều Long đã lâu không chinh chiến, lại toàn là bọn lính già, lính kiểng nên khi nghe tiếng trống trận và tiếng la ó vang trời của quân Tây Sơn, tên nào tên nấy hồn bất phụ thể, bỏ chạy tán loạn không còn hàng ngũ gì nữa. Phan Triều Long và hai phó tướng đêm đó không dám cởi chiến y, khi nghe tiếng quân reo vội vàng chụp lấy vũ khí lên ngựa xông ra hô hoán quân sĩ chiến đấu. Nhưng mặc cho tướng lệnh, đám quân sĩ vì quá đỗi kinh hoàng trước tiếng quân địch la ó và tiếng trống rền vang nên đa số cắm đầu bỏ chạy thoát thân. Quân Tây Sơn ba mặt tấn công vào, thế như thác lũ, chém giết quân triều không biết cơ man nào mà kể.

Nguyễn Văn Lộc từ phía nam cưỡi ngựa xông vào trại vừa gặp Phan Triều Long liền vung cây roi sắt tấn công ráo riết. Triều Long võ nghệ cũng khá nhưng vì trong lòng hoang mang, cây roi của Nguyễn Văn Lộc lại quá thần tốc, bởi vậy chưa đầy năm hiệp, Triều Long đã trúng một đầu roi vào ngực văng xuống ngựa. Đám anh em Tây Sơn đang hăng máu liền xông tới chém nhầu. Triều Long bỏ mạng tại trận.

Đám binh triều lúc này như rắn mất đầu, hai tên phó tướng phóng ngựa chạy trốn trước tiên, đám tàn binh kéo nhau chạy theo sau về Tây Sơn hạ. Toán kỵ binh của Lý Văn Bưu rầm rập vó ngựa rượt theo chém giết thêm một trận nữa đến gần sáng mới kéo nhau về. Huệ kiểm điểm lại binh mã thấy có gần trăm anh em bị thương nhẹ, bên địch bỏ xác lại trận địa hơn ngàn tên, quân Tây Sơn thu được hơn ngàn vũ khí các loại cùng lương thảo. Huệ cho đào một hố lớn, thu dọn những thi thể chôn thành một nấm mồ chung dưới chân núi Ông Bình. Công việc xong ra lệnh rút quân về tới Tây Sơn thượng lúc trời vừa đúng Ngọ.

Trận ra quân đầu tiên thắng lợi một cách dễ dàng của nghĩa binh Tây Sơn đã làm cho hào khí của phong trào tăng cao ngùn ngụt, niềm tin của tướng sĩ đối với vị chỉ huy trẻ tuổi Nguyễn Huệ càng thêm mãnh liệt. Trong khi đó tại phủ Quy Nhơn, Nguyễn Khắc Tuyên kinh hãi rụng rời, ông vội vã ra lệnh tăng cường các đồn lính ở Xuân Huề, An Thái đề phòng quân Tây Sơn tấn công xuống phủ thành. Từ đó, đám quan binh tuyệt không dám bén mảng lên vùng rừng núi Tây Sơn. Nguyễn Nhạc an tâm xây dựng căn cứ địa, chiêu mộ thêm nghĩa quân và những người tài giỏi về Tây Sơn tụ nghĩa. Thanh thế Tây Sơn vang dội khắp dinh Quảng Nam.

Hôm sau, Nguyễn Nhạc cho người bí mật mang thư mời bọn Nguyễn Thung, Huyền Khê, anh em Châu Văn Tiếp và bà chúa Thị Hỏa ở Phú Yên sau bảy ngày nữa lên An Khê gặp mặt, mừng Tây Sơn khao quân. Mặt khác ông cho người xuống đồng bằng tìm mua thật nhiều vải đỏ, vàng, cấp tốc may một số đại kỳ và cờ nhỏ cho nghĩa quân.

Hôm sau Nguyễn Nhạc cho họp hết các tướng cùng Giáo Hiến bàn bạc. Ông nói:

–  Lần này chúng ta mời bọn Nguyễn Thung lên dự buổi khao quân là có ý phô trương thanh thế Tây Sơn. Ngoài Châu Văn Tiếp ra tôi chưa dám chắc, bọn còn lại tôi tin với cá tính của  họ và lực lượng của chúng ta hiện nay, không cần phải đôi co giành giật, bọn chúng cũng sẽ xếp giáo chịu theo dưới cờ một cách tự nguyện. Thầy Giáo có gì khuyên bảo không?

Giáo Hiến đáp:

–  Ông Cả làm như vậy vừa tránh được mất hòa khí với các thủ lĩnh khác, vừa thu phục được bọn họ. Kế sách này rất hiệu quả.

Huệ nói:

–  Nghe nói bọn Lý Tài, Tập Đình rất hung dữ và tự phụ. Lần này nếu chúng tỏ vẻ bất phục, anh Cả nên mớm ý để anh em đây ra oai một lần, nhiếp phục tinh thần bọn chúng trước, sau này dễ điều khiển hơn.

Nhạc cười nói:

–  Ý hay. Lâu nay tài sức của những anh em khác đều đã phô diễn qua, chỉ có anh Tú và anh Sở là chưa lộ diện. Lần này giao cho hai anh nhé.

Võ Đình Tú điềm nhiên nói:

–  Dạ, anh Cả.

Nhạc lại hỏi:

–  Đôi tượng binh và nữ binh của cô Xuân đến nay thế nào rồi?

Bùi Thị Xuân đáp:

–  Mới được hai mươi con voi và ba trăm nữ binh. Thời gian tới, anh Cả phải vận động các buôn làng để có thêm voi chiến. Việc huấn luyện chúng để có thể ra trận chiến đấu mất khá nhiều thời gian.

Nhạc nói:

–  Tôi sẽ giúp cô Xuân việc đó. Việc quân như vậy tạm ổn, bây giờ chúng ta nói đến chuyện vui. Cô Xuân muốn nghe không?

Bùi Thị Xuân ngạc nhiên hỏi:

–  Chuyện vui của em à?

–  Đúng vậy.

–  Anh nói nghe đi.

Nhạc đổi sắc mặt nghiêm chỉnh nói:

–  Bỗng dưng tôi lại muốn lãnh cái ngu thứ nhất trong thiên hạ nên hôm trước tôi có ghé nhà gặp ông bà thân của cô.

Bùi Thị Xuân nhướng mắt hỏi:

–  Ngu thứ nhất là cái gì? Sao lại gặp cha mẹ em?

Lý Văn Bưu cười ha hả đáp thay:

–  Người ta thường nói: “Ở đời có bốn cái ngu. Mai dong, lãnh nợ, gác cu, cầm chầu”. Anh Cả đây muốn làm ông mai dong nên ghé nhà cô Xuân đấy. Ha… ha…

Sắc mặt Bùi Thị Xuân đỏ bừng lên vì thẹn. Cô hốt hoảng hỏi:

–  Sao lại làm mai mà ghé nhà em?

Nhạc đáp:

–  Vì tôi muốn làm mai cho cô Xuân.

Bùi Thị Xuân lạnh người, mặt càng đỏ hơn:

–  Trời ơi, em chưa muốn lấy chồng đâu. Ai thèm lấy em mà anh Cả đi làm mai?

Lý Văn Bưu lại lên tiếng:

–  Thì còn ai ngoài cái anh chàng mặt đỏ giết cọp chung với cô nữa mà hỏi.

Bùi Thị Xuân và Trần Quang Diệu nghe nói không hẹn mà bốn mắt nhìn nhau rồi cúi đầu xuống không dám nhìn mặt mọi người, cả hai mặt đỏ như gấc chín, ngồi chết lặng một lúc lâu không nói được tiếng nào. Nhạc nói nhanh:

–  Chú thím rất vui lòng về sự tác hợp này. Ngày mai anh Diệu trở về quê mời hai huynh trưởng lên đây. Sau lễ khao quân chúng ta sẽ làm lễ cưới.

Đối với tất cả những người đang có mặt tại vùng An Khê, lời nói của Nguyễn Nhạc bây giờ là mệnh lệnh, hơn nữa Quang Diệu và Thị Xuân từ ngày gặp nhau trong lòng mỗi người đều yêu thích đối phương nhưng không dám nói ra. Nghe Cả Nhạc tuyên bố, cả hai vừa mừng vừa thẹn, Bùi Thị Xuân vội đứng lên cúi đầu chạy nhanh ra ngoài. Trần Quang Diệu đến một lúc sau mới hết thẹn, chắp tay xá Nguyễn Nhạc:

–  Đa tạ anh Cả đã chu toàn.

Nhạc cười:

–  Không cần đa lễ. Anh thu xếp lên đường ngay đi. Phải có mặt hôm khao quân đó nhé. Cả anh Lộc và cô Hương, anh Tuyết và cô Lan nữa, chúng ta mừng hỉ sự cho ba người cùng một lúc.

Nguyễn Văn Lộc và Nguyễn Văn Tuyết mừng rỡ nói:

–  Cảm ơn sự quan tâm của anh Cả.

Sắc mặt Lý Văn Bưu bỗng đỏ gay, lên tiếng:

–  Anh Cả đã làm mai cho ba người thì xin ra ơn giúp cho em luôn thể.

Mọi người đều ngạc nhiên nhìn Lý Văn Bưu. Nhạc cười ha hả hỏi:

–  Chú cũng muốn cưới vợ luôn phải không? Là đám nào vậy? Tôi đã lỡ lãnh tiếng ngu thì ngu luôn thể cho xong.

Bưu nói nhỏ:

–  Dạ, tiểu thư nhà họ La ở Phù Cát.

–  Tưởng ai xa lạ. La Xuân Kiều với tôi là chỗ bạn thân. Được, tôi sẽ giúp chú. Muốn làm cùng một lúc hay là chậm lại mai mốt?

Bưu ngập ngừng:

–  Chỉ sợ … anh Cả không có thời gian lúc này.

–  Không sao. Tôi cũng đang muốn gặp La Xuân Kiều để mời về trên này tụ nghĩa. Một công hai chuyện, mai tôi sẽ đi.

Lê Văn Hưng nói:

–  Em sẽ đi cùng anh Cả cho an toàn, nhơn tiện trên đường về em muốn ghé Kiên Dõng đón mẹ lên luôn thể.

Quang Diệu vỗ vai Lý Văn Bưu:

–  Đó nhé, cười người hôm trước hôm sau người cười là vậy đó.

Mọi người đều vui mừng vì đại hỷ sự này.

*

………….

Mời xem tiếp vào thứ bảy 14-11-2015.

Lời Giới Thiệu – Nhất Thống Sơn Hà

LỜI GIỚI THIỆU

Tiểu thuyết lịch sử NHẤT THỐNG SƠN HÀ.

ntsh tron bo

   Sau khi hoàn tất xuất sắc công việc biên soạn, xuất bản và ra mắt phần một Én Liệng Truông Mây của bộ trường thiên tiểu thuyết lịch sử  Tây Sơn Tam Kiệt, nhà văn Vũ Thanh đã miệt mài gần hai năm dài để hoàn thành tiếp phần hai Nhất Thống Sơn Hà mà quý độc giả đang có trong tay. Ðây là tác phẩm đồ sộ đã được tác giả nghiên cứu thật tỉ mỉ, sâu rộng và diễn dịch qua hàng ngàn tài liệu lịch sử từ Việt Nam, Tây Phương và Trung Quốc để sáng tác nên bộ tiểu thuyết lịch sử này. Một tiểu thuyết lịch sử mà phần lớn những sự kiện dựa vào chính sử, được tác giả khéo léo hư cấu thêm những tình tiết để câu chuyện thêm phần hấp dẫn và lý giải những khúc mắc trong chính sử đã không làm rõ.

   Tiếp nối tinh thần cách mạng của Chàng Lía và điều kiện thuận lợi của xã hội Đại Việt sau khởi nghĩa Truông Mây vào cuối thập niên 60’s của thế kỷ thứ 18, đã được mô tả trong phần một ÉN LIỆNG TRUÔNG MÂY, ba anh em họ Nguyễn ở đất Tây Sơn đã tập họp nhân tài, hào kiệt, đứng lên chống lại chính quyền Phú Xuân và chiếm được thành Quy Nhơn năm 1771, từ đó dần dần dẹp tan hai thế lực chúa Nguyễn Ðàng Trong và chúa Trịnh Ðàng Ngoài. Sau hơn 30 năm dựng nghiệp, nhà Tây Sơn đã thống nhất được đất nước sau khi đánh tan quân Xiêm La ở miền Nam, dẹp tan quân Thanh xâm lược từ miền Bắc, và phát triển đất nước trên mọi mặt. Chính sử, dù một số sử kiện đã bị nhà Nguyễn Gia Long sau này bóp méo, làm sai lệch, nhưng cũng không thể phủ nhận được những thành qủa vĩ đại của Nhà Tây Sơn đã để lại cho hậu thế. Ngoài tài cầm quân bách chiến bách thắng của người anh hùng áo vải Quang Trung – Nguyễn Huệ đã được thế giới ca tụng là một thiên tài quân sự vĩ đại vào bậc nhất của nhân loại, vua Quang Trung còn là một nhà ngoại giao khôn khéo, một lãnh tụ có tầm  nhìn xa trong việc cải cách và phát triển đất nước. Thêm vào đó, dưới ngòi bút tài tình của nhà văn Vũ Thanh, ngoài thiên tài quân sự, Quang Trung Hoàng Ðế còn được mô tả như là một nhà văn hóa lớn, người có tư tưởng cao thâm, với một tinh thần dân tộc tiến bộ; một nhà lãnh đạo rất am tường về tâm lý quần chúng, biết trong dụng nhân tài cho đất nước, biết  động viên để đoàn kết dân tộc thành một khối hầu tiến hành những công cuộc cải cách sâu rộng và giữ vững cõi bờ. Qua câu chuyện nhiều lần ra Bắc để mời cho được La Sơn Phu Tử ra giúp nước, Quang Trung đã chứng tỏ cho sĩ phu Bắc Hà thấy chủ trương cầu hiền của mình là quốc sách và là chiến lược hàng đầu để thu phục nhân tâm của cả hai miền sau hơn 200 năm đất nước bị chia đôi. Đối với Quang Trung, thống nhất đất nước không chỉ là thống nhất lãnh thổ mà cái chính là phải thu phục và đoàn kết được lòng mọi người dân. Có được một đại khối dân tộc thống nhất sau lưng, ông đã đứng thẳng người thách thức các nước lân bang, từ đó tạo nên một tinh thần và một hào khí Quang Trung uy nghi, lẫm liệt để lại cho cháu con hậu thế.

   Qua câu chuyện dài Nhất Thống Sơn Hà, Vũ Thanh đã không nhằm viết lại lịch sử mà dùng tư liệu lịch sử để lý giải những nguyên nhân đưa đến kết quả tốt đẹp trong quá trình mở cõi của dân tộc và những thành quả to lớn trong thời gian cai trị ngắn ngủi của nhà Nguyễn Tây Sơn. Bàng bạc trong gần 1.700 trang sách chia đều cho 4 tập, Vũ Thanh đã cho độc giả thấy rõ quá trình Nam tiến của dân tộc ta diễn ra hoàn toàn bằng con đường văn hóa và sự dung hợp đầy tình người. Tác giả đã nêu rõ tính ưu việt của nền Minh triết Việt có tự ngàn xưa, và với cá tính đặc thù của văn hóa Việt, người Việt đã sống Thuận rồi Hóa để rồi dung hợp với các dân tộc phương Nam. Với cái nhìn sâu thẳm vào tâm hồn Việt, tác giả đã khẳng định rằng: “Người Việt ta có một đức tính rất đặc biệt, rất quý, có thể gói gọn trong một chữ, đó là chữ Dung. Dung là chứa, là bao dung, là dung hòa, là trung dung. Cái gì mới nhập vào cũng được dung chứa, sự thù hằn do khác biệt mới lạ nào cũng được bao dung, rồi như tính cách của nước, chúng ta hòa tan, dung hợp mọi thứ, sau đó dùng làm của mình. Và cuối cùng là giữ một mức sống trung dung. Cho nên nhìn bề ngoài, xã hội Việt có cuộc sống rất hiền hòa, đa dạng, cả về văn hóa, tinh thần, tín ngưỡng, nhưng tiềm tàng bên trong là một sợi chỉ vàng nối liền những tâm thức của người Việt với nhau. Nhờ thế mà mỗi khi nước biến, ý chí tự cường bộc phát, sợi chỉ vàng kia đã cột chặt các điểm son tâm thức Việt lại thành một khối thống nhất, hùng mạnh, không gì phá vỡ nổi. Do đó mà Nguyễn Trãi đã mạnh dạn nói:vận nước có lúc cường lúc nhược, nhưng anh hùng thì đời nào cũng có”.

Bằng những suy luận hết sức logic, tác giả đã giải thích rất rõ ràng tại sao đã không có cảnh “nồi da xáo thịt” khốc liệt giữa ba anh em nhà Tây Sơn như sử gia nhà Nguyễn đã viết khi người anh cả Hoàng đế Thái Đức Nguyễn Nhạc tự thoái vị xuống làm Tây Sơn vương, trao quyền cho người em út Nguyễn Huệ được đăng quang Quang Trung Hoàng đế để có thể hiệu lịnh và đoàn kết dân tộc trong công cuộc đối kháng với quân Thanh xâm lược. Không những thế, ông còn lý giải một cách rõ nét sự hình thành lòng thù hận của Nguyễn Ánh đối với nhà Tây Sơn hầu giải thích một phần lý do vì sao khi lên ngôi vua, Nguyễn Ánh đã trả thù những người Tây Sơn một cách tàn khốc mà đến nay hậu thế mỗi khi nhắc lại vẫn phải chau mày. Qua Nhất Thống Sơn Hà, chúng ta nhận rõ mối tình giữa Ngọc Hân Công Chúa và Nguyễn Huệ không đơn thuần chỉ là việc cưới gả chính trị giữa kẻ thắng và người thua mà là mối nhân duyên ngàn dặm của đôi trai tài gái sắc, của sự tương thông tri kỷ giữa Hào Kiệt và Giai Nhân. Đặc biệt hơn hết, qua tài liệu từ bộ Cao Tông Thực Lục đời nhà Thanh, tác giả đã cho ta thấy câu chuyện về vua Càn Long, dù rất uất hận do thất bại nhục nhã trong việc xua quân xâm lăng Ðại Việt, đã phải đổi thù thành bạn và dành cho vua Quang Trung tình cảm như cha con, tổ chức tiếp đón vô cùng long trọng, một phần là nhờ vị Hoàng đế Ðại Việt khéo dùng tài ngoại giao, nhưng phần lớn cũng bởi cái anh khí lẫm liệt của vị tướng bách thắng Long Nhương ở nước nhỏ phương Nam đã uy phục con người và nước lớn phương Bắc.

   Trong Nhất Thống Sơn Hà, Vũ Thanh đã xây dựng hình tượng và nhân cách của Nguyễn Huệ một cách hết sức khéo léo và thành công. Từ một thanh niên nông dân dù ít học, nhưng với cá tính giản dị, ham học hỏi, sống tận tụy, yêu thương, hòa đồng, dễ gần gũi đã giúp ông từ một tướng lãnh của “đám giăc cỏ” đã trở thành một nhà lãnh đạo đại tài trong giai đoạn đất nước nhiễu nhương. Bằng sự hình thành nhân cách từ thuở thiếu niên của Nguyễn Huệ cho đến khi trở thành Hoàng đế Quang Trung, Vũ Thanh đã nêu bật hết sức rõ nét “tinh thần Quang Trung”, một tinh thần bất khuất, tự cường, không hề khiếp sợ trước bất kỳ thế lực thù địch nào, dù kẻ thù đó có mạnh đến đâu đi chăng nữa. Đặc biệt hơn hết là tinh thần bài trừ Hán học, cái học “hủ nho” đã đẩy dân tộc ta vào vòng lệ thuộc người Hán gần hai ngàn năm. Ông đã mạnh dạn dùng chữ Nôm để làm quốc ngữ thay chữ Hán. Khi phát hiện ra sự xuất hiện của chữ La tinh, ông đã nhìn thấy ngay lợi ích to lớn của nó trong việc tạo cho dân Việt một chữ viết riêng, tách khỏi hẳn ảnh hưởng của người Hán, con người sáng suốt này đã nhiệt liệt hưởng ứng và khuyến khích việc phát triển loại chữ viết mới này. Tên gọi dòng sông La Tinh ở huyện Phù Mỹ, tỉnh Bình Định, là một minh chứng nơi phát tích chữ viết Quốc ngữ La tinh của chúng ta ngày nay. Nó còn là dấu ấn thực tiễn ghi nhận tầm nhìn sáng suốt, sâu rộng của vị vua Quang Trung vĩ đại của chúng ta đã để lại một di sản to lớn cho dân tộc.

  Tiếc thay, với định mệnh trớ trêu của dân tộc, với thù trong giặc ngoài, với những hoài bảo to lớn dành cho đất nước, với khối công việc đồ sộ đè nặng trong tim óc, nhà vua đã vắn số. Vua Quang Trung băng hà, công cuộc kiến thiết đất nước bỏ dở dang, nhà Tây Sơn sụp đổ, đưa nước Việt đến bao thăng trầm, tủi nhục, đau thương cho đến tận hôm nay. Nhiều nhà viết sử đã khẳng định chỉ cần Vua Quang Trung sống thêm 10 năm nữa thì Việt Nam đã có một Minh Trị Thiên Hoàng, đi trước Nhật Bản rất xa trong công cuộc chấn hưng đất nước.

  Đoạn Kết! Vũ Thanh tâm sự, ông đã viết bằng nước mắt. Và nỗi đau xé lòng của tác giả trải trên trang sách đã khiến cho chúng ta nhỏ lệ cùng với ông khi đọc đến đoạn nói về cái chết của vua Quang Trung: “Lời than vãn ai oán trong khúc bi ca Ai Tư Vãn không chỉ là tiếng nức nở của riêng Bắc Cung hoàng hậu Ngọc Hân khóc chồng, nó chính là tiếng nấc bi thương của toàn thể nhân dân Đại Việt trước sự ra đi đột ngột của vua Quang Trung, sự ra đi đã cắt đứt sợi dây neo con thuyền định mệnh của dân tộc vừa mới được nhà vua dùng nó để cột chặt toàn dân vào dải non sông mới được thống nhất. Người ra đi. Dây neo đứt. Giấc mộng “Nhất Thống Sơn Hà” vừa mới được thực hiện đã vỡ tan. Con thuyền định mệnh của dân tộc lại tiếp tục lênh đênh theo vận nước nổi trôi. Toàn dân Đại Việt, những người anh em trong cùng bào thai Mẹ Âu Cơ một lần nữa lại cảm thấy bấp bênh và lo sợ. Họ cùng nhau cất tiếng gọi Bố Lạc Long Quân trở về, như những người dân Âu Lạc tự thuở xa xưa vẫn thường gọi Bố mỗi khi có nạn lớn:

–  Bố ơi. Bố ở đâu, hãy mau về cứu chúng con”.

   Lịch sử hơn 200 năm trước, nay đã lập lại, vì áp lực của nước lớn từ phương Bắc ngày nay một lần nữa lại đè nặng trên vai dân tộc. Nhất Thống Sơn Hà ra đời giúp người dân Việt đọc lại lịch sử thời Tây Sơn để phục dựng lại hào khí Quang Trung, để ngẩng cao đầu hãnh diện, để không bị khiếp nhược, không chịu nhục và dũng cảm đứng lên sẵn sàng chống lại ngoại xâm, giữ vững cõi bờ tổ quốc. Cha ông ta đã làm được, hậu thế chúng ta cũng sẽ làm được. Lịch sử nước Việt cũng có lắm kẻ bán nước như Lê Chiêu Thống nhưng cũng không thiếu những anh hùng như Quang Trung. Chiều dài 4.000 năm của lịch sử đất nước ta là bài học, là tấm gương soi cho hậu thế, bởi vậy người Việt phải thuộc sử Việt.

  Câu chuyện dài trong Nhất Thống Sơn Hà mà tác gỉa Vũ Thanh đã cống hiến chúng ta cũng chỉ dành nhắc lại một thời đại vàng son trong hơn 4.000 năm dựng nước và giữ nước của dân Việt.

  Nhất Thống Sơn Hà mang một thông điệp rất rõ ràng: “Trách nhiệm giữ nước là của toàn dân, nhưng trách nhiệm đoàn kết được toàn dân là của giới lãnh đạo. Khi người dân một nước đồng thuận một lòng thì lo gì việc giữ yên cõi bờ và phát triển đất nước”.

   Xin trân trọng giới thiệu cùng quý độc giả bộ truyện thứ hai của trường thiên TÂY SƠN TAM KIỆT tức NHẤT THỐNG SƠN HÀ, một bộ trường thiên tiểu thuyết lịch sử quý giá, hiếm hoi của dân tộc. Bộ truyện này sẽ mang lại cho quý độc giả nhiều cảm xúc đa chiều và sâu sắc, đặc biệt là trong bối cảnh đương đại của đất nước.

Horsham – Pennsylvania.

Ngày giỗ thứ 223 của vua Quang Trung:

29-7-Nhâm Tí (1792) – 29-7- Ất Mùi (11-9-2015).

Nguyên Lương

 

*** Mọi chi tiết liên quan đến tác phẩm xin liên hệ:

Vũ Thanh

3096 Bayberry Way

Margate, FL 33063

Email:  thanhquang57@gmail.com

ĐT:  954-684-1875.

*** Sách phát hành tại Hoa Kỳ bởi:  CreateSpace an Amazon company:

Order tại:    CreateSpace eStore   và    Amazon.com

Key word to order:  “vu thanh”   hay  “nhat thong son ha”

Ở Châu Âu order tại:

http://www.amazon.fr/Nhat-Thong-Son-Ha-Thanh/dp/099611131X

Các nơi khác và Hoa Kỳ:

http://www.amazon.com/Nhat-Thong-Volume-Vietnamese-Edition/dp/099611131X

Tác giả trân trọng kính mời.

NTSH – Hồi thứ tư (tt)

Kỳ 181:

……….

Cả hai lại tiếp tục con đường thiên lý, vừa đi Tín Nhi vừa dạy võ nghệ cho Hoàng Nhi. Thằng bé thông minh và lanh lợi cực độ, lại có chữ nghĩa cha mẹ nó đã dạy và chút căn bản võ nghệ từ Hoàng Bá truyền lại nên tiến bộ rất nhanh. Về đến Quy Nhơn, Tín Nhi liền đến lò rèn của Hồ Thiết Thủ. Trên đường đi, chàng để lại ký hiệu cho toán thám báo cũ biết, lại nhờ anh em Hành Khất dùng bồ câu thông tin cho những anh em ở Thuận Hóa, Quảng Nam, Quảng Ngãi, hẹn nhau đúng ngày Truông Mây gặp nạn, hai mươi bốn tháng hai, về tế mộ anh em. Vừa hay năm nay tiết Thanh Minh lại rơi đúng vào hôm đó. Hồ Thiết Thủ bưng chiếc hộp có ướp trái tim Chú Nhẫn ngửa mặt cười ha hả:

–  Trời xanh có mắt. Ha… ha… Tên phản bạn rồi cũng phải có ngày hôm nay. Cháu giỏi lắm Tín Nhi. Ha… ha…

Trong khi Năm Sức không cầm được nước mắt, hai hàng lệ mừng vui và thương tiếc chảy dài trên hai má phúng phính thịt của hắn. Dứt trận cười Thiết Thủ nói:

–  Cháu đã liên lạc hết anh em cũ chưa? Phải cùng nhau tề tựu đông đủ để mừng ngày nhìn thấy trái tim thằng phản bạn bị ướp muối. Để chú nhắn bọn thằng Ba Lực và Tư Lửa cho chúng biết. À! Còn thằng bé con này là ai đây?

Tín Nhi nói:

–  Cháu đã nhờ anh em Hành Khất nhắn họ rồi. Đây là Hoàng Nhi, em của Hoàng Bá, cháu gặp nó lang thang một mình ở Nhà Bè nên rủ về đây.

Hoàng Nhi chào Thiết Thủ và Năm Sức, nó hỏi:

–  Lúc trước có lần anh Bá khoe ở Truông Mây có bác Thiết Thủ tay không bốc được thanh sắt nung đỏ chắc là bác đây phải không?

Thiết Thủ khoái chí cười:

–  Thằng Bá vậy mà cũng biết khen tao há. Đúng rồi đó bé con à. Có muốn học nghề bốc sắc nung đỏ của bác không?

Hoàng Nhi lắc đầu:

–  Dạ thôi. Nghề của bác suốt ngày ở trong bếp lửa, chán chết. Cháu phải học cái nghề đánh kiếm, cưỡi ngựa ra trận giết giặc của anh Tín Nhi mới thích.

Thiết Thủ cười ha hả vỗ vai thằng nhỏ có vẻ chịu tính cách của nó lắm.

Giờ Tỵ hôm tiết Thanh Minh rừng Truông Mây nắng ấm rất đẹp, trên trời từng đàn én bay liệng ríu rít kêu vang. Hai năm qua nơi đây vắng vẻ không một bóng người, hôm nay lần lượt từng nhóm nhỏ nối tiếp nhau tránh mặt quan quân địa phương tụ về rất đông. Quan Quốc phó vốn rất hận bọn Truông Mây đã làm thiệt mất hơn vạn tinh binh của phủ Chúa nên dù đã hai năm nay, tại Lại Khánh vẫn còn nhiều toán lính vũ trang chia nhau đóng ở các đồn Trường Tân, Đình Chí để chận bắt những nghĩa sĩ Truông Mây còn sống sót trở về tế mộ.

Hơn một trăm nghĩa sĩ Truông Mây, đa phần thuộc nhóm thám báo và thợ rèn, kẻ mang rượu, người mang nhang đèn, người mang thực phẩm cùng nhau bày bàn hương án trước nấm mồ chung chờ đúng Ngọ thì chính thức đem trái tim của Chú Nhẫn ra tế lễ. Mọi người đang chuẩn bị, bỗng một đoàn người ngựa ước mươi lăm người từ phía Kim Sơn tiến vào. Tín Nhi và anh em nghĩa sĩ hoảng kinh nghĩ rằng bọn quan binh kéo tới nên tất cả tay kiếm sẵn sàng chờ đợi. Khi đoàn người đến gần, Tín Nhi nhận ra người đi đầu là Nguyễn Huệ mới an lòng, vội chạy lại đón. Nguyễn Huệ nhảy xuống ngựa ôm chầm Tín Nhi giọng mừng rỡ:

–  Anh Tiểu Phi dùng phi vũ truyền thư cho ta hay tin này. Ngươi giỏi thật, cuối cùng đã tìm ra tên phản bạn. Có gặp nguy hiểm gì không?

Tín Nhi nói:

–  Cũng nhờ ngươi mách lối. Xuýt nữa bỏ mạng vì viên đạn súng hỏa điêu của hắn.

Huệ nói:

–  Chúc mừng ngươi và anh em đã trả được thù, để ta giới thiệu với ngươi anh Cả Nhạc của ta, ảnh nghe nói anh em tế mộ Truông Mây nên muốn đến để thắp nén hương.

Lúc ấy đoàn người đã xuống ngựa, Huệ giới thiệu với anh em Truông Mây. Thì ra là nhóm Nguyễn Nhạc cùng bọn Võ Văn Dũng, Quang Diệu, Văn Bưu, Văn Lộc, Đình Tú, Văn Tuyết và Ngô Văn Sở cùng một số anh em trên Tây Sơn thượng. Nguyễn Nhạc ôm quyền nói với Tín Nhi và Thiết Thủ:

–  Được biết anh em tế mộ các nghĩa sĩ nên chúng tôi cũng muốn đến để tỏ chút lòng thành kính và ngưỡng mộ những người anh hùng đã hy sinh, chắc không có điều gì phiền phức chứ?

Thiết Thủ cười ha hả nói:

–  Sao lại có điều phiền phức chứ, chúng tôi rất hoan nghênh những ai nghĩa khí tương đồng. Anh là Cả Nhạc ở Tây Sơn à?

Nhạc nói:

–  Nguyễn Nhạc chính là tôi. Nghe chú Huệ hết mực ngợi khen Hồ Thiết Thủ anh là tay luyện kiếm bậc nhất thời nay chẳng kém gì Cao Lỗ thời xưa khiến tôi náo nức muốn gặp cho biết mặt anh tài.

Thiết Thủ cười ha hả nói:

–  Chú Huệ nó quá lời rồi. Ha… ha… Có điều tôi cũng có chút ngón riêng là có thể bốc sắt nung bằng hai bàn tay thịt này. Ha…ha…

Nhạc quay sang Tín Nhi:

–  Những việc làm của huynh đệ, Nhạc tôi không thể chỉ một vài lời có thể nói ra được hết, sau lễ tế, mời ghé lại Tây Sơn hàn huyên một thời gian được chăng?

Tín Nhi nói:

–  Anh Cả cứ coi em như anh Huệ là được rồi, không cần phải nhiều lễ như vậy đâu. Em sẽ đến cùng anh và các anh ở đây uống một bữa. Chú đi với cháu chứ chú Thiết Thủ?

Huệ không chờ Thiết Thủ trả lời vội nói ngay:

–  Làm sao thiếu chú ấy được. Chú mà không đi thì cháu sẽ bám theo chú suốt ngày dùng nước dập tắt lò rèn của chú mỗi khi nhóm lên, chú nghĩ kỹ đi.

Thiết Thủ lại cười:

–  Hai con Thiết Phụng này tụi bay định hùa nhau ăn hiếp ta sao. Được, đi thì đi chứ ngại gì. Có rượu uống là khoái rồi.

Tín Nhi nói:

–  Đã đúng Ngọ, chú và anh Cả thay mặt anh em làm chủ lễ tế được rồi.

Thiết Thủ nói:

–  Tao chỉ biết thổi lửa chứ chữ nghĩa đâu mà tế. Anh Cả Nhạc thay tôi việc này đi.

Nguyễn Nhạc ngần ngại nhìn anh em Truông Mây. Tín Nhi vội nói:

–  Anh Cả đừng ngại, bọn em đều là những người tuổi nhỏ lại ít chữ, có anh thay cho việc này là may lắm rồi.

Nguyễn Nhạc nói:

–  Đã vậy tôi xin thay mặt tất cả anh em.

Đoàn người Tây Sơn đem những đồ cúng tế họ mang theo bày chung lên mộ, sau đó tất cả đứng im lặng cúi đầu trước mồ. Nguyễn Nhạc đốt hương xong rót một bát rượu, lớn tiếng khấn:

Hôm nay nhằm Tiết Thanh Minh năm Tân Mão, trước nấm mồ chung của nghĩa sĩ Truông Mây, Nguyễn Nhạc tuy không có duyên đứng dưới cờ nhưng từ lâu chí vẫn đồng khí, nay xin thay mặt toàn thể anh em còn sống sót thành kính dâng hương, kính cáo cùng tất cả anh em dưới mộ:

Than ôi! Mới ngày nào thành Truông Mây sừng sững, rực rỡ tinh kỳ, anh em chung vai sát cánh thề đồng sinh tử, nguyện cùng nhau thực hiện câu tuyên ngôn “lấy của nhà giàu phân phát cho nhà nghèo, xóa sạch bất công, phá tan ách cường quyền bóc lột”, thế mà nay âm dương đôi ngả, kẻ ra đi ngậm ngùi tức tưởi, người ở lại cánh cánh tiếc thương, lòng nặng trĩu khối căm hờn.

Thương thay! Chỉ vì lòng trời ghét bỏ khiến xui cho kẻ xấu xa đang tâm phản bạn, để cho thành Truông Mây sụp đổ, máu anh em hòa cùng gạch vụn xây nấm mồ chung.

Ô hô! Nơi đây ngày nào tiếng quân reo dậy đất, hào khí ngút trời, vậy mà nay chỉ còn văng vẳng tiếng khóc than của những oan hồn chưa tán chỉ vì chí cả chưa thành, lòng oán hận tên phản bội chưa nguôi.

May thay! Lưới trời lồng lộng tuy thưa, nhưng nghĩa khí phủ dày vũ trụ cho nên trái tim kẻ phản bạn dù đập lén tận chân trời cũng đã được anh em moi ra mang về trước mộ.

A ha! Hôm nay tất cả anh em còn sống sót tề tựu về đây cùng thắp nén nhang, dâng lên chén rượu, cầu mong anh em dưới mộ hiển linh trở về chứng giám.

Hôm nay thù nhỏ đã trả xong nhưng đại thù còn đó, chí nguyện xưa của anh em vì nửa đường gãy gánh nên vẫn dở dang. Bởi vậy những người có mặt nơi đây, mượn chén rượu này để thay lời nguyện. Nguyện rằng:

–  Dẫu tan xương cũng phải tiếp tục thực hiện chí hướng của anh em cho đến lúc hoàn thành.

–  Dầu nát thịt cũng phải đập tan bọn cường quyền tham bạo, đem ấm no cho những kẻ khốn cùng.

Hồn tử sỹ hiển linh

Thỉnh đăng đàn thượng hưởng.

Giọng Nguyễn Nhạc càng về sau càng như bị tắc nghẹn vì cảm xúc trào dâng lên đến tận cổ, hai dòng lệ anh hùng chảy tràn xuống má khiến cho hơn trăm nghĩa sĩ đang quỳ sau lưng cũng lệ nhỏ ròng ròng. Nhạc khấn xong bưng bát rượu lớn rưới tràn trước mộ, sau đó phục lạy bốn lạy, anh em cũng đồng loạt làm theo. Sau đó lần lượt từng người bước lên thắp nhang vái lạy trước mồ.

Thù đã trả xong, lời nguyền đã thỏa, Tín Nhi rút thanh trủy thủ cắt mái tóc dài của mình đặt trước mồ, lệ anh hùng lại nhỏ ròng ròng. Chờ mọi người lễ xong, Hồ Thiết Thủ chắp tay xá Nguyễn Nhạc giọng khích động:

–  Thiết Thủ tôi xin thay mặt anh em Truông Mây cảm ơn Cả Nhạc. Lời khấn tế của anh quá sức cảm động, hơn nữa lòng thành của anh đã làm chúng tôi không cầm được nước mắt.

Nhạc ôn tồn nói:

–  Không cần nói vậy đâu. Nhạc tôi vốn chữ nghĩa không nhiều, cũng là nhờ trước khi đi thầy Giáo Hiến đã dạy cho cách khấn tế mới được như vậy mà thôi.

Thiết Thủ nói:

–  Nhưng sự xúc động chân thành thì không thể nào giả được đâu.

–  Tôi và Lía quen nhau từ lúc hai đứa còn ở truồng tắm sông Côn. Hôm nay đọc lời khấn tế, chợt nhớ tới những kỷ niệm xưa thật không khỏi thương tâm, sa lệ.

Hoàng Nhi là đứa trẻ lanh miệng, nó đang đứng cạnh Nguyễn Nhạc chợt lên tiếng hỏi:

–  Anh Cả Nhạc là bạn thân của Chú Lía, sao lúc trước không lên Truông Mây giúp đỡ Chú Lía một tay?

Câu hỏi tuy ngộ nghĩnh nhưng rất hóc búa của thằng bé làm mọi người vừa ngạc nhiên vừa thích thú vì trong thâm tâm mọi người không ít thì nhiều đều thắc mắc như vậy. Nguyễn Nhạc mỉm cười đưa tay vịn vai Hoàng Nhi đáp:

–  Câu hỏi của em có lẽ cũng là câu hỏi của bao nhiêu người khác ở đây, mà cũng là điều ray rức của anh trong suốt thời gian qua.

Ông nhìn mọi người nói tiếp:

–  Thật ra tuy là bạn cùng lứa nhau nhưng lúc đó hoàn cảnh của tôi và Lía có chút khác biệt, chính vì sự khác biệt đó, Lía lại là người tự trọng nên đối với tôi không thân thiết lắm, nhất là khi chúng tôi lớn lên. Khi Lía thành lập Truông Mây, cá nhân tôi rơi vào hoàn cảnh gia đình khó khăn, cha tôi mất sớm, tôi phải thay mặt đảm đương gia đình để lo cho mẹ già và ba đứa em nhỏ. Lúc tôi ra đời bươn chải, chú Huệ này mới có bảy tuổi.

Thiết Thủ vội kéo tay Hoàng Nhi ra sau, cười đỡ lời:

–  Thằng bé vô tâm hỏi bậy, anh Cả Nhạc không cần quan tâm làm gì.

Nhạc cười:

–  Không sao, tôi cũng muốn nói ra điều này để chúng ta hiểu nhau hơn.

Tín Nhi nghe Nguyễn Nhạc nói nghĩ thầm: “Người này khí độ hiên ngang lại rất thành thật không ưa điều sỉ diện hão đáng để mình theo”. Bèn nói với anh em nghĩa sĩ cũ của Truông Mây:

–  Giới thiệu với tất cả anh em, anh Cả Nhạc hiện đang có một vùng đất tình thương ở Tây Sơn thượng dùng làm nơi bảo bọc những người cùng khổ khắp thiên hạ. Anh Cả có chí muốn tiếp tục sự nghiệp dang dở của Đại ca Lía, dựng lại ngôi thành khác như thành Truông Mây ở An Khê, anh em nào muốn tiếp tục dâng hiến sức mình cho trăm họ thì đi cùng tôi lên đó, còn không, chúng ta chia tay nhau tại đây.

Tất cả anh em Truông Mây khẳng khái lên tiếng:

–  Chúng tôi sẽ theo đội trưởng về với Tây Sơn.

Đang nói chuyện bỗng phía đèo Màn Lăng có một viên pháo bắn vọt lên cao, phía sông Lại Dương cũng có pháo hiệu bắn lên. Nguyễn Nhạc hỏi:

–  Pháo gì vậy?

Tín Nhi mỉm cười đáp:

–  Là pháo hiệu anh em bắn lên cho mình biết hiện đang có hai toán binh triều tiến vào Truông Mây. Chúng ta mau giải tán nếu không muốn chạm trán với họ.

Bọn nghĩa sĩ Truông Mây lòng vẫn nuôi căm thù bọn quan binh nên lớn tiếng nói:

–  Hãy chờ chúng đến giết một trận cho hả mối hận trong lòng. Sợ gì.

Nguyễn Huệ vội nói:

–  Không nên. Mong anh em hãy giữ mối căm thù đó đến khi chúng ta chuẩn bị xong mọi sự, bạo động sớm sẽ có hại cho việc khởi sự của phong trào.

Tiếng nói của Huệ trước đám đông tuy nhỏ nhẹ nhưng người nghe có cảm tưởng chẳng khác nào một mệnh lệnh, tất cả đều có một cảm giác chung không thể không tuân theo. Lúc ấy ở cả hai phía lại có pháo hiệu bắn lên, Tin Nhi nói gấp:

–  Đó là dấu hiệu báo quân địch rất đông. Chúng ta phải rút nhanh.

Huệ nói với Tín Nhi và mọi người:

–  Tạm thời chúng ta rút về lò rèn. Hôm nay chúng ta mang hết số binh khí ở đó lên Tây Sơn.

Mọi người vội vàng theo Thiết Thủ rút nhanh về phía lò rèn, sâu trong núi. Trước khi đi, Tín Nhi lấy ra một mảnh giấy, dùng bút than viết mấy chữ “Tặng trái tim tên phản bội Chú Nhẫn lại cho các ngươi”, dùng chiếc hộp đựng trái tim đè lên, cùng Nguyễn Huệ phá lên cười ha hả phóng ngựa đi.

Mọi người vừa rút đi thì phía rừng Kim Sơn một toán kỵ binh khoảng hai trăm người phóng tới, dưới nhánh sông Kim Sơn năm chiếc thuyền cập vào bờ, một toán quân lính hàng trăm tên đổ bộ lên, tiến thẳng vào Truông Mây. Viên tướng đi đầu đoàn kỵ binh chính là tên đốc trưng Đằng, bên cạnh hắn là Thiết quyền Quách Triệu Dũng, cả hai đang lãnh nhiệm vụ giữ kho lương Càn Dương, và một võ tướng của đồn binh Phù Ly. Nhìn quang cảnh vắng tanh của Truông Mây, đốc trưng Đằng vỗ tay vào đùi tiếc rẻ:

–  Bọn này nhanh chân thật, mới đây đã biến mất không còn tên nào. Tôi nghe báo có cả tên Nguyễn Nhạc ở Kiên Thành tới dự lễ tế mộ. Tiếc thật, dù sao lần này tôi cũng báo lên phủ để hạch tội tên Biện Nhạc này.

Một tên lính nhảy xuống ngựa lấy tờ giấy đặt dưới chiếc hộp đưa cho đốc trưng Đằng:

–  Quan Đốc coi, chúng để lại tờ giấy này.

Đốc trưng Đằng đọc xong sắc mặt đỏ lên vì giận, hắn nói với viên tướng Phù Ly:

–  Bọn chúng đã tìm ra Chú Nhẫn và moi tim đem về tế mộ. Thật là một đám cướp vô thiên, chúng muốn làm loạn trở lại hay sao đây. Tướng quân phải báo lên huyện để có biện pháp truy lùng và bắt cổ hết bọn chúng mới được.

Viên tướng nói:

–  Việc này tôi sẽ lo, đốc trưng an tâm.

Đốc trưng Đằng nhảy xuống đất, bước lại đá các đồ vật tế lễ tung tóe khắp nơi rồi hằn học phóng lên ngựa phất tay ra lệnh kéo về.

Trong khu lò rèn, Nguyễn Nhạc khi thấy số binh khí và các lò rèn thì không khỏi giật mình kinh ngạc. Ông nhìn Hồ Thiết Thủ bằng con mắt khâm phục:

–  Chú Huệ đã không nói quá về anh chút nào cả. Tây Sơn nếu được anh về giúp cho một tay thì hiệu quả sẽ được nhân lên gấp bội.

Thiết Thủ cười hề hề nói:

–  Thiết Thủ tôi không vợ, không con, suốt đời sống ở chỗ lò rèn. Nếu việc làm của Tây Sơn là vì hạnh phúc của bá tánh nghèo khổ thì anh Cả có đuổi tôi cũng không đi.

Nhạc cười nói:

–  Anh đã nói như vậy thì Nhạc tôi có chết cũng phải làm theo. Hôm nay chúng ta dời toàn bộ vật dụng nơi đây lên Tây Sơn thượng chứ?

Thiết Thủ nói:

–  Tất nhiên rồi.

Tín Nhi hỏi Nguyễn Huệ:

–  Ngươi đã tới chỗ sư phụ ta chưa?

Huệ đáp:

–  Chưa. Ta chờ ngươi.

Tín Nhi nói:

–  Hôm nay mình ghé đó luôn thể.

*

Năm nay Nguyễn Nhạc tổ chức ngày giỗ cha mình lớn hơn mọi năm. Ông cho mời rất đông khách khứa mọi nơi và bà con quanh vùng Phú Lạc đến dự. Sau đêm dự đám giỗ, tất cả bà con vừa bàng hoàng kinh sợ, vừa mừng thầm trong bụng vì những chuyện xảy ra trong đêm hôm đó. Họ kể cho nhau nghe câu chuyện Nguyễn Nhạc được vị thần trên núi Trưng Sơn mang chiếu chỉ của Ngọc Hoàng xuống sắc phong “Nguyễn Nhạc Vi Vương”, đồng thời trao cho Nguyễn Nhạc hai thanh thần kiếm, một thanh của Vua Hỏa Tây Nguyên, thanh thứ hai chính là Thuận Thiên bảo kiếm ngày xưa Lê Thái Tổ đã lấy được từ đó dựng nghiệp nhà Lê, dặn Nguyễn Nhạc dùng kiếm thay trời cai trị nhân dân miền núi và đồng bằng.

Câu chuyện như thần thoại kia nhanh chóng được loan truyền khắp nơi, chẳng bao lâu cả xứ Nam Hà đều hay biết. Dân chúng bấy lâu nay sống khổ cực dưới ách tham quan, giờ nghe điềm trời báo có minh chúa ra đời nên người người lòng mừng khấp khởi, hướng về Tây Sơn trông ngóng ngày vị chân chúa kia khởi sự để giải phóng cuộc đời họ ra khỏi ách gông cùm, xiềng xích của chế độ mục nát nhà Nguyễn.

*****

Hồi thứ năm

Giữa giáo trường,  Lê Văn Hưng xứng danh Thất Hổ

Luyện hùng binh, Nguyễn Huệ đáng mặt Nguyên nhung

NTSH – Hồi thứ 4

Kỳ 180:

2015-10-21 04.17.05

HỒI THỨ TƯ

Tổng Kiến Hòa, Tín Nhi moi tim Chú Nhẫn

Rừng Truông Mây, Nguyễn Nhạc khóc tế oan hồn

Vượt đèo Cù Mông, leo qua đèo Cả, con Hãn Huyết câu đã chở Tín Nhi ngốn năm sáu trăm dặm đường để đến Trấn Biên. Càng vào Nam, tiết trời càng ấm áp dần lên. Tín Nhi hỏi thăm đường xuống đò sang Cù Lao Phố để ghé thăm Thần Quyền Môn. Đại Kỳ gặp mặt Tín Nhi lần đầu không khỏi ngạc nhiên buộc miệng khen:

–  Nhị đệ có được một người học trò quý hóa thế này chốn suối vàng hẳn cũng ngậm cười.

Tín Nhi nói:

–  Cảm ơn sư bá nghĩ tốt cho con.

Trần Hồng Liên gặp lại Tín Nhi mừng lắm, nàng hỏi đủ thứ câu hỏi về trận chiến cuối cùng của Truông Mây, cái chết của sư thúc Hồng Liệt, sự mất tích của Trần Lâm và Chú Lía v.v… Đại Kỳ cắt ngang những câu hỏi của nàng:

–  Con hỏi từ từ chứ, hỏi liên tục như vậy làm sao Tín Nhi nhớ mà trả lời.

Tín Nhi mỉm cười nói:

–  Không sao đâu sư bá, con nhớ mà.

Rồi đem tất cả câu chuyện kể lại cho mọi người nghe, cuối cùng Tín Nhi thở dài buồn bã nói:

–  Con vì nóng lòng đi tìm tung tích của sư phụ nên thoát khỏi độc thủ của Chú Nhẫn. Có điều tất cả anh em đều hy sinh chỉ mình con sống sót, nghĩ lại đau đớn vô cùng. Bởi vậy con quyết chân trời góc bể phải tìm  bằng được tên phản bội, moi tim hắn đem về tế trước nấm mồ tập thể Truông Mây.

Đại Kỳ hỏi:

–  Lần này con vào Nam cũng vì việc đó phải không?

–  Dạ. Con và anh em bang Hành Khất đã tìm khắp các phủ huyện miền ngoài đó, có lẽ hắn đang trốn trong miền Nam bao la, ít tai mắt của hành khất này.

Đại Kỳ gật đầu:

–  Suy luận rất đúng. Con dự tính hành động thế nào? Cần gì thì nói sư bá giúp cho nhé.

–  Cảm ơn sư bá. Con cần ít ngân lượng để chi phí dọc đường, khỏi phải ghé thăm mấy nhà trọc phú.

Hồng Liên cười khúc khích:

–  Đệ vẫn còn giở ngón nghề đó để kiếm tiền à?

Tín Nhi mỉm cười:

–  Chỉ nhắm vào bọn ác bá thôi, những khi cần thiết.

Hồng Liên hạ giọng:

–  Trông đệ bây giờ thật khác xưa kia, ít nói, ít cười, tóc để dài như một đầu đà trẻ tuổi. Tín Nhi lúc trước đâu có như vậy.

–  Đệ chỉ sợ nói cười nhiều, khối căm hờn trong lòng sẽ tiêu tán bớt đi. Còn mái tóc này đệ sẽ không cắt cho đến khi mang được trái tim tên phản bội về Truông Mây.

–  Đệ định ở đây chơi bao lâu?

–  Đệ ghé thăm sư bá và Hồng tỷ cùng các sư huynh đệ một hôm, sáng mai sẽ đi.

Hồng Liên ngạc nhiên:

–  Gấp vậy sao?

–  Ngày nào chưa trả được thù, đệ không thể an nhiên mà sống. Vả, đệ cũng có ít việc phải làm cho người bạn ở ngoài đó.

Hôm sau Tín Nhi từ giã mọi người ở Thần Quyền Môn lên đường xuống Nhà Bè. Chàng dừng ngựa ở tửu quán Bến Nghé bên bờ sông, khu phố cảng này bán buôn sầm uất chẳng kém Cù Lao Phố. Vừa cột ngựa để bước vào quán, chợt một tên ăn mày nhỏ từ bên trong chạy ra đâm sầm vào người chàng. Thằng bé lên tiếng xin lỗi ríu rít rồi định phóng chạy đi. Tín Nhi mỉm cười vói tay thật nhanh chộp vào cổ nó kéo lại. Thằng bé bù lu, bù loa:

–  Ơ cái anh này! Tôi lỡ đụng phải, đã xin lỗi rồi còn đòi gì nữa. Mau thả tôi ra, mẹ tôi đang bịnh nặng ở nhà đấy. Tôi xin lỗi anh lần nữa vậy. Làm ơn đi.

Nghe giọng nói của nó Tín Nhi biết ngay là người miền Quảng Ngãi, Quy Nhơn mới vào Nam. Chàng mỉm cười nói:

–  Mẹ em đang bịnh nặng à? Thôi đi đi.

Rồi buông tay. Thằng bé ăn mày mừng quá ba chân bốn cẳng chạy tuốt. Tín Nhi mỉm cười bước vào trong quán tìm chỗ ngồi trong góc. Quán khá đông khách, chỉ còn lại vài bàn trống. Vừa ngồi xuống đã thấy thằng bé ăn mày quay trở lại, nó nhìn quanh rồi đi nhanh lại bàn Tín Nhi vòng tay lễ phép nói:

–  Em có mắt không tròng, gặp cao nhân mà còn giở ngón. Em trót dại, xin đại ca tha tội, cho em xin lại cái túi nhỏ. Đó là di vật độc nhất của mẹ em để lại. Xin đại ca.

Giọng nói của nó rất thành thực. Tín Nhi vờ ngạc nhiên hỏi:

–  Chú nhỏ mày đùa với anh hay sao? Chú mày đụng vào người anh mày, anh mày đã không bắt lỗi còn quay đòi của nữa là sao?

Thằng bé năn nỉ:

–  Thôi mà đại ca, em lỡ dại mà. Túi tiền của đại ca em lỡ lấy, đại ca đã thu lại rồi. Cái túi kia không đáng giá gì đâu, chỉ là di vật của mẹ em nên em mới năn nỉ đó thôi.

Thì ra lúc nãy nó xông vào người Tín Nhi đã giở trò móc túi, nhưng vừa bỏ túi tiền của Tín Nhi vào túi mình thì nó bị Tín Nhi móc trở lại mà nó không hay, đến khi chạy đi một lúc, sờ lại túi mình nó mới hoảng lên nên quay lại tìm. Tín Nhi nhìn nó mỉm cười:

–  Tài nghệ chú em mày còn non lắm, làm nghề này có ngày bị thiên hạ treo cổ lên đó. Bỏ đi, kiếm việc khác đàng hoàng hơn mà làm.

Rồi móc cái túi vải trả lại cho thằng bé. Thằng nhỏ mừng quá chắp tay vái dài:

–  Hôm nay đệ mới sáng mắt ra. Tài nghệ của đại ca quả nhiên siêu quần bạt tụy, chẳng thua gì Tiểu Thâu Nhi ngày xưa.

Tín Nhi ngạc nhiên hỏi:

–  Tiểu Thâu Nhi là ai?

Thằng bé vênh mặt lên:

–  Đại ca ở trong nghề này mà không biết đến đại danh của Tiểu Thâu Nhi à? Kỳ thiệt!!

–  Ta không biết thật, nói nghe thử coi.

Nó hít một hơi dài, mặt trang trọng:

–  Tiểu Thâu Nhi tức là tiểu anh hùng Nhất Kiếm Chấn Mộ Hoa Tiểu Thâu Nhi Tín Nhi, một chiêu Nhất Điểm Hồng nhanh như sấm chớp, “véo!”, đâm thủng yết hầu Quảng Ngãi Đệ Nhất Cao Thủ Qủy Kiếm Ma Đao Lương Bát Vạn, thêm một mũi tên lửa nhanh như tên bắn đốt sạch kho lương Long Phượng khiến cho quân triều đình nhịn đói nhăn răng nên bị đánh tan tành.

Nó nói một hơi dài, nét mặt rất nghiêm chỉnh, tỏ rõ sự ái mộ và khâm phục nhân vật Tiểu Thâu Nhi. Lúc nói đến chiêu kiếm Nhất Điểm Hồng nó còn dùng ngón tay đâm vào yết hầu Tín Nhi làm ví dụ khiến Tín Nhi vừa buồn cười vừa lấy làm lạ hỏi:

–  Chà! Anh chàng Tiểu Thâu Nhi này quả nhiên ghê gớm. Em gặp mặt anh ta chưa?

Thằng bé đáp, vẻ mặt hiu hiu tự đắc:

–  Sao lại chưa? Trong nghề này mà chưa gặp mặt Tiểu Thâu Nhi thì chưa xếp vào hạng “thâu” được.

Tín Nhi mỉm cười:

–  Em đã được xếp vào hàng “thâu” chưa?

Nó vênh mặt:

–  Sao lại chưa?

–  Vậy em là gì “thâu”?

–  Hoàng Thâu Nhi. Em thèm cái biệt danh Tiểu Thâu Nhi lắm nhưng sợ mạo phạm nên tự đặt cho mình, à không, giang hồ tặng cho em danh hiệu là Hoàng Thâu Nhi.

Nó nói mà nét mặt tỉnh khô, ra chiều đắc ý. Tín Nhi cố nín cười, giả bộ như hâm mộ lắm:

–  Hoàng Thâu Nhi cũng oai rồi. Mà em gặp Tiểu Thâu Nhi ở đâu? Có thể giới thiệu cho anh với, được không?

Hoàng Thâu Nhi vênh mặt làm ra vẻ quan trọng:

–  Em thì sẵn sàng thôi, nhưng mà Tiểu Thâu Nhi như là…là… cái gì … long ẩn

–  Là thần long lúc ẩn lúc hiện

–  Đúng rồi, Tiểu Thâu Nhi như thần long lúc ẩn lúc hiện, khó mà gặp được. Mà còn phải xem đại ca đây có lớn phước không nữa. Còn em gặp ở đâu à? Bên hồ La Bích, lúc Tiểu Thâu Nhi bị thương hôn mê, em có đến cầm tay anh ta một lát để tỏ lòng ái mộ của mình.

Tín Nhi biết thằng bé nói láo, nhưng chàng tin chắc nó phải có người thân biết rõ việc Truông Mây. Chàng hỏi:

–  Em là Hoàng Thâu Nhi, vậy em họ Hoàng phải không?

–  Đúng vậy.

–  Nhà em lúc trước ở Bồng Sơn, gần bến đò Lại Dương, cha em làm thầy đồ nhưng mất sớm phải không?

Thằng nhỏ trợn mắt ngạc nhiên hỏi:

–  Sao đại ca biết hay vậy?

–  Hoàng Bá là gì của em?

Mặt Hoàng Thâu Nhi bỗng đổi sắc, nó sợ hãi nói:

–  Em không biết Hoàng Bá. Nhà em ở Bồng Sơn thật, nhưng em không biết người đó.

Tín Nhi đã đoán ra, chàng nói nhỏ:

–  Em đừng sợ, anh là người của Truông Mây chứ không phải quan lính đâu. Nói thật đi.

Hoàng Thâu Nhi lắc đầu nói:

–  Em đã nói em không biết thật mà. Đại ca không tin thì đành chịu.

Tín Nhi bèn cầm chiếc đũa trên bàn rồi nhanh như chớp dí đầu đũa vào yết hầu của Hoàng Thâu Nhi, thằng bé hết hồn, trợn mắt há hốc mồm, người như chết đứng. Tín Nhi hỏi:

–  Có phải Lương Bát Vạn bị một kiếm nhanh như vậy đâm vào yết hầu không?

Hoàng Thâu Nhi hoàn hồn, nhưng miệng vẫn còn há hốc một lúc mới đáp:

–  Hình như là vậy. Đại ca cũng biết chiêu Nhất Điểm Hồng nữa à?

Tín Nhi nhìn nó thân mật nói:

–  Trả lời đi rồi anh nói cho nghe.

Hoàng Nhi bỗng ưỡn ngực lên nói:

–  Thôi được. Cái mạng nhỏ xíu này kể bỏ. Tôi là Hoàng Nhi. Ừ, Hoàng Bá là anh của tôi đó. Nhưng ảnh chết trên đèo Thạch Tân rồi.

Tín Nhi mừng rỡ nắm tay Hoàng Nhi nói:

–  Là thật ư? Rồi sao em lạc vào tận trong này? Mẹ em đang đau nặng à?

Hoàng Nhi ngạc nhiên hỏi:

–  Sao anh hỏi kỹ vậy? Sao anh biết mẹ em?

–  Anh là Tín Nhi đây. Hoàng Bá là bạn đồng đội thân thiết của anh, anh có nghe nói về mẹ em vài lần.

Hoàng Nhi trợn mắt ngạc nhiên:

–  Anh là Tín Nhi?! Là Nhất Kiếm Chấn Mộ Hoa Tiểu Thâu Nhi ư?!!!

–  Ừ. Hôm đó anh và Hoàng Bá suýt chút nữa đều bỏ mạng. Giờ anh ấy đã chết, đau thật. Mà Truông Mây ai cũng đều đã chết hết rồi, chỉ còn mình anh.

–  Sao anh có thể thoát chết được? Nghe nói cả Truông Mây bị trúng độc chết hết mà?

–  Từ từ có dịp anh kể cho nghe, giờ nói đi, mẹ em đang đau nặng à?

Hoàng Nhi dàu dàu nét mặt đáp:

–  Đau nặng là lúc trước kìa, giờ mẹ đã chết rồi. Lúc nãy em nói dối anh đó.

–  Vì sao mẹ em chết.

–  Đói chết.

Tín Nhi thót người vì câu trả lời gọn trơn của thằng bé. Chính hai tiếng “đói chết” gọn lỏn kia mang nặng một nỗi hờn mát, đau buồn và uất hận vô cùng tận trong lòng nó. Chàng hỏi:

–  Bây giờ em ở đâu? Với ai?

– Em ở khắp nơi, nơi nào cũng là nhà em cả. Em chỉ có một mình với cái lược sừng này của mẹ để lại, mỗi lần chải đầu em sẽ nhớ mẹ.

Nó lấy trong chiếc túi lúc nãy ra một cái lược nhỏ bằng sừng, di vật quý nhất của mẹ nó, đưa lên chải mái tóc rối xù, bồng bềnh của mình. Tín Nhi thở dài:

–  Sao em và mẹ lại bỏ Bồng Sơn vào đây?

–  Thằng xã trưởng lúc trước bị anh Hoàng Bá đập cho một trận què mất một chân vì cái tội ăn hiếp dân lành. Sau Truông Mây tan rã, nó tới nhà tìm anh Bá trả thù, nghe nói ảnh đã chết, nó trút hận lên đầu mẹ con em. Mẹ sợ nó hại em nên dẫn em chạy trốn. Nghe nói miền Nam giàu có, mẹ vượt núi đưa em vào, dọc đường mẹ đói chết. Trước khi chết, mẹ căn dặn thế nào cũng phải vào cho tới miền Nam. Em lấp sơ xác mẹ rồi tiếp tục hành trình vào nam. Tưởng đã chết đói dọc đường như mẹ, cũng may ăn cỏ gấu, uống nước sương một thời gian cũng vào được trong này. Tưởng gì, cũng chỉ làm kiếp ăn mày. Nhớ tới những chuyện anh Bá kể về đại ca, em học nghề móc túi kiếm tiền nuôi miệng.

Tín Nhi an ủi:

–  Đừng buồn nữa. Từ nay đi với anh. Anh em mình có phúc cùng hưởng có họa cùng chịu.

Hoàng Nhi nhảy dựng lên:

–  Em được đi với anh?!! Được cùng với Tiểu Thâu Nhi có phúc cùng hưởng có họa cùng chịu ư?

–  Ừ.

Nó mừng quá cười toe toét:

–  Vậy là có phúc không chứ làm gì có họa. Hi… hi… Tiểu Thâu Nhi là vua kiếm tiền mà, làm gì có họa để cùng chịu. Hi… hi…

Tín Nhi cười:

–  Chưa chắc đâu. Để anh gọi cái gì anh em mình ăn nhé. Mừng gặp mặt. Biết uống rượu chưa?

–  Gặp mặt đại ca thì chưa uống sẽ được uống, không biết uống cũng phải biết chứ. Hì…hì…

Tín Nhi bèn gọi mấy món ăn ngon và một bình rượu Mai Quế Lộ loại nhẹ. Trong khi chờ thức ăn, Hoàng Nhi hỏi:

–  Đại ca lặn lội vào Nam chắc có chuyện phải không? Nói xem em có giúp gì được không?

Tín Nhi nhỏ giọng:

–  Đi tìm tên phản bội. Em biết chuyện đó mà, phải không?

–  Biết chứ sao không? Mẹ em nguyền rủa lão quỷ đó cho đến lúc nhắm mắt. Mà đại ca có biết lão ta đang ở đâu không?

–  Không. Anh đã tìm lão khắp cả miệt ngoài đó, giờ vào tìm trong này.

Bỗng Hoàng Nhi reo lên:

–  A! Sao đại ca không tới hỏi lão thầy bói Vạn Sự Thông thử coi. Lão nổi tiếng ở xứ này, chuyện gì lão cũng biết, hỏi gì lão cũng đáp được hết.

Tín Nhi cười:

–  Đại trượng phu, ai lại đi nhờ thầy bói, chú nhỏ?

–  Ậy, ở đây ai có việc gì khó khăn, cuối cùng cũng phải tới cầu lão cả đấy.

–  Em có chắc là hỏi gì lão cũng đáp được không?

–  Chắc chớ. Bởi vậy lão mới dám tự xưng là Vạn Sự Thông chớ.

–  Được, ăn xong em dẫn anh tới chỗ lão thử xem.

Thức ăn dọn ra, Hoàng Nhi không khách sáo, nó ăn ngấu nghiến một lèo hết sạch phần thức ăn của nó, còn làm ra vẻ anh hùng uống với Tín Nhi một hơi mấy ly rượu khiến mặt mày đỏ ké trông rất hoạt kê. Ăn xong nó dẫn Tín Nhi đến nhà lão thầy bói ở cuối một con đường nhỏ. Tấm bảng Vạn Sự Thông rõ lớn treo ngay trên cửa. Đó là một người Hoa tuổi trạc năm mươi, râu dài, trông rất thông thái, nói tiếng Việt rất sõi. Chào khách xong ông ta hỏi:

–  Công tử muốn nhờ tôi giải quyết chuyện gì? Nhìn sắc diện công tử, tôi đoan chắc không phải chuyện bình thường.

Tín Nhi đáp:

–  Tôi đang tìm một kẻ thù nhưng đã một năm nay chưa tìm ra. Nhờ ông mách giùm hắn ta đang trốn ở đâu.

Vạn Sự Thông hỏi:

–  Đàn ông à? Cỡ bao nhiêu tuổi?

– Hai vợ chồng giàu có, quyền thế. Chồng cỡ năm mươi, vợ khoảng ba mươi, rất xinh đẹp.

Vạn Sự Thông bèn dùng ba đồng tiền hai mặt, một mặt hào âm, một mặt hào dương để gieo quẻ. Lão nắm ba đồng tiền thật chặt giữa lòng hai bàn tay, nhắm mắt định thần một lúc mới gieo. Lần gieo thứ nhất theo quẻ Tiên thiên, được quẻ Đoài, lần thứ nhì theo Hậu thiên được quẻ Tốn. Tức được hai quẻ kép: Trạch Phong Đại Quá và Phong Trạch Trung Phu. Vạn Sự Thông nhìn Tín Nhi mỉm cười nói:

–  Chúc mừng công tử, mọi việc ắt sẽ hanh thông, tuy nhiên, quẻ Đại Quá nói đến sự hung hiểm. Bởi vậy mọi sự công tử phải cẩn trọng, đừng hành động quá sức mình hoặc táo cấp sẽ gặp họa, nhưng trong họa có phúc. Riêng quẻ Trung Phu ở Hậu thiên rất tốt. Trung Phu nói: “Trung phu: Đồn ngư cát, lợi thiệp đại xuyên, lợi trinh”. Nghĩa là trong lòng có đức tin đến cảm được heo, cá, tốt như vậy thì lội qua sông lớn cũng được, giữ đạo chính thì có lợi. Công tử đã có lòng thành, nếu việc trả thù của công tử là việc chính nghĩa thì tất được như ý. Tượng quẻ này theo tôi suy đoán, kẻ thù của công tử đang ở hướng Đông Nam, công tử vượt qua sông lớn sẽ tới. Theo vị trí chúng ta đang ngồi mà suy thì nơi đó tất thuộc tổng Kiến Hoà, trấn Định Tường bên dòng Tiền Giang. (Gò Công bây giờ)

Tín Nhi hỏi:

–  Từ đây đi lối nào đến đó tiện nhất thầy?

–  Miền này sông rạch rất nhiều, dùng thuyền ghe là tiện nhất. Cứ theo sông Nhà Bè này đổ xuống, rẽ phải vào sông Vàm Cỏ là đến Kiến Hưng, Kiến Hòa rồi. Nếu công tử muốn dùng ngựa thì phải xuống Long An, tới Cần Giuộc qua đò Vàm Cỏ tới Kiến Hưng. Đường bộ hơi xa một chút.

–  Cảm ơn thầy. Tiền tổ bao nhiêu, tôi gửi lại?

–  Gieo quẻ đại cát, mười quan ạ.

Hoàng Nhi nghe lão thầy bói đòi tới mười quan thì trợn mắt la lớn:

–  Mười quan?! Ông mới nói có mấy tiếng mà đòi tới mười quan. Ông biết tôi lang thang ăn xin suốt một ngày còn chưa được mười đồng kẽm nữa đấy.

Vạn Sự Thông cười nói:

–  Chú bé mày không biết phân biệt sự việc nặng nhẹ, khó dễ gì cả. Này nhé, nếu công tử mất mười quan mà không được việc thì cứ quay lại lấy cái đầu tôi mà trừ nợ. Đền ơn chú mày dẫn công tử đến đây, tặng chú mày một quan, lần sau giới thiệu nữa sẽ được thưởng tiếp. Đó, chú mày thấy không, ở đời nhiều khi làm ít mà hưởng nhiều là vậy.

Hoàng Nhi cầm quan tiền cười nói:

–  Lý lẽ đó đôi khi tôi cũng đã gặp, mà còn hưởng lớn nữa kìa. Hi … hi…

Nó đang nói tới những lần móc túi thiên hạ trúng lớn của nó. Tín Nhi chào ông thầy bói rồi kéo tay Hoàng Nhi ra đi. Chàng nói:

–  Bây giờ em quanh quẩn đâu đây một thời gian, chờ anh xong việc trở lại tìm. Chúng ta sẽ trở về Quy Nhơn làm lại cuộc đời.

Hoàng Nhi la lên:

–  Anh không cho em theo à? Em muốn giúp anh một tay.

–  Không được, nguy hiểm lắm. Em đi theo chỉ làm anh bận tâm thêm.

–  Vậy mà anh nói có phúc cùng hưởng, có họa cùng chịu. Chưa gì đã đổi giọng rồi.

–  Ê! Phải biết phân biệt nặng nhẹ chứ chú em. Đợi xong việc, anh dạy võ nghệ cho em đàng hoàng, chừng đó muốn hoạn nạn cùng chịu cỡ nào cũng được.

Hoàng Nhi sáng mắt lên:

–  Vậy nhé. Anh phải dạy em chiêu Nhất Điểm Hồng, “véo” một tên địch nhào xuống. Hì…hì… Anh đi đi, cẩn thận nhé, chúc anh thành công. Em chờ anh ở quán Bến Nghé.

Nó nói xong đưa ánh mắt lo lắng nhìn Tín Nhi rồi quay đầu đi thẳng. Vừa đi nó vừa tung hứng quan tiền lão thầy bói mới cho, miệng nghêu ngao bài vè Chú Lía:

     Có người ở phủ Quy Nhơn

Quán Phù Ly huyện gần miền Bích Khê

     Cha xưa lính thú thải về

Ăn cận nằm kề sinh được một trai…

 Tín Nhi nhìn theo hút bóng Hoàng Nhi, chợt thấy hình ảnh của mình ngày xưa nơi thằng bé nên thở dài lẩm bẩm: “Đất nước này không biết còn có bao nhiêu đứa trẻ lạc loài như nó và mình nữa?”. Chàng lên ngựa phóng đi. Thay vì đi ghe thuyền cho nhanh thì chàng lại chọn đường bộ, tuy xa hơn nhưng trên đường dò tìm các địa phương đi qua cho ăn chắc. Lão thầy bói có vẻ rất tự tin về điều ông ta nói, nhưng biết đâu được.

Kiến Hòa là một vùng đồng bằng phì nhiêu, bát ngát nằm giữa lưu vực ba con sông lớn, Nhà Bè, Vàm Cỏ và Tiền Giang, vùng cửa Tiểu, cửa Đại đổ ra biển Đông. Đồng bằng rộng lớn nhưng dân cư còn thưa thớt, Tín Nhi tìm đến thị trấn, ghé vào một tửu điếm nằm ngay ngả tư chính để thuê phòng. Một nhân viên phục vụ tửu điếm thấy khách lạ vội chạy ra niềm nỡ hỏi:

–  Công tử chắc từ phương xa đến. Mời nghỉ lại với chúng tôi, ở đây được coi là tươm tất, tiện nghi nhất huyện này. Để tôi đưa ngựa ra sau. Chà, con Huyết câu này mới thật là hùng dũng. Mời công tử vào trong, ở đây chúng tôi phục vụ quý khách rất chu đáo, đừng lo.

Tín Nhi trao cương ngựa cho người phục vụ, bước vào trong. Thực khách của quán khá đông, ai nấy đều có giọng nói và nụ cười mộc mạc, thân thiện. Chủ điếm niềm nỡ chào hỏi:

–  Chào mừng công tử tới thăm xứ sở đồng nước mênh mông này. Công tử định thuê phòng phải không? Tôi còn đúng hai phòng hạng nhất, chắc chắn công tử sẽ vừa ý.

Tín Nhi nói:

–  Tôi lấy một phòng. Ông chủ giới thiệu món đặc sản của xứ này xem nào. Nghe nói rượu đế Gò Đen là tuyệt phẩm miền Nam phải không, tôi muốn thử.

–  Công tử hỏi đúng rồi. Đế Gò Đen tuy mới ra đời nhưng đúng là hảo phẩm của miền sông nước này. Ở đây chủ yếu là hải sản cá, cua, tôm, mực. Nhưng tôi muốn mời công tử thưởng thức món nghêu đặc biệt ở đất Kiến Hòa này, sau đó cũng nên nhắm qua món vọp để biết thế nào là sản phẩm vùng nước lợ. Ăn hai món này uống đế Gò Đen là tuyệt hảo.

–  Ông chủ cho tôi hai món đó và một hũ Gò Đen.

Chủ quán vui vẻ quay vào trong. Tín Nhi chợt nghe bốn người đàn ông ngồi bàn kế bên, chắc là người bản xứ, đang nói chuyện huyên thuyên với nhau. Một người nói:

–  Kỳ này lão tổng đốc bị một vố đau quá nên mới xử nặng như vậy chớ gì.

Một người khác cười:

–  Còn cái gì đau hơn nữa chứ. Có bà vợ trẻ đẹp như vậy lại để một anh cai đội dưới tay lén phéng, thà chết sướng hơn. Mà anh chàng cai đội này bảnh trai thật, tôi nghiệp, ham của quý nên phải bị treo lên giá chờ hành quyết.

Người nữa chen vào, nhưng nhỏ giọng xuống:

–  Ậy. Tôi mà ở vào trường hợp đó, treo cổ tôi cũng chịu. Hì..hì… Mấy anh không thấy bà tổng của chúng ta đẹp cỡ nào sao? Hề…hề…

Người thứ tư nói:

–  Anh thì cái tật không chừa. Nhưng lão tổng đâu có xử chết viên cai đội vì tội lén phéng bà vợ bửu bối của mình. Ông ta buộc viên cai đội này về tội thông đồng với bọn cướp Phạm Chàm và bọn Chà Và Vinh Ly Ma Lô, bọn người Cao Mên Ốc Nha Ghê làm loạn ở Hà Tiên hôm tháng bảy vừa rồi. Viên cai đội này vốn quê ở Vũng Thơm, Cần Bột, cùng quê với Phạm Chàm nên lão tổng ghép vào tội thông đồng với giặc. Một tội vu khống lảng xẹt vậy mà trên trấn họ cũng tin để cho lão tổng xử chết người ta mới là oan chứ.

Tín Nhi hiếu kỳ hỏi vói sang:

–  Xin lỗi bốn chú, cháu từ xa mới tới nên không biết nội vụ. Xin hỏi chừng nào xử án vậy?

Một người trong bàn thấy Tín Nhi dáng cách phong trần hiệp sĩ nên đem lòng ngưỡng mộ, lịch sự đáp:

–  Ngày mai, ở quảng trường của tổng, cuối con phố này. Công tử từ xa đến đây có việc à?

Tín Nhi lễ phép đáp:

–  Dạ, cháu ở miền ngoài vào thăm người bà con bên tổng Kiến Thuận, nghe nói Kiến Hòa phong vật xinh tươi, con người rất thân thiện, hiếu khách nên ghé thăm để mở rộng kiến thức. Vị tổng trấn của chúng ta tên họ là gì vậy chú?

Người nọ đáp:

–  Trương Thiện Nhân. Ôi, xứ này xưa nay vốn rất hiền lành, yên ổn, nay mới có một vụ động trời thế này đó. Từ ngày lão tổng đốc mới này đổi về mọi chuyện bắt đầu xấu đi. Cứ xem bọn vệ sĩ của lão tên nào tên nấy mặt mày đanh ác như hung thần là phát khiếp rồi. Thiện Nhân đâu chưa thấy, chỉ thấy chuyện ác nhân.

Tín Nhi hỏi:

–  Nghe các chú nói vị tổng đốc phu nhân rất xinh đẹp làm cháu cũng hiếu kỳ muốn nhìn qua cho biết.

Người thứ ba lên tiếng lúc nãy cười đáp:

–  Công tử hiếu kỳ là phải. Bà tổng phải nói là sắc đẹp mê hồn. Người đẹp, cái tên Quỳnh Dao cũng đẹp nữa mới chết chàng cai đội trẻ kia đó chứ.

Tín Nhi nghe hai tiếng Quỳnh Dao thì thót người, chàng cố giữ bình thản nói:

–  Cảm ơn mấy chú. Mai cháu phải ghé coi vụ xử án này mới được.

Quảng trường của tổng Kiến Hòa là một khu đất rất rộng, lúc Tín Nhi đi bộ đến nơi, bà con trong tổng đã kéo tới coi xử án đông nghịt. Chàng tìm cách len lỏi đến gần khán đài. Trên đài, ngồi giữa là vị quan Tổng đốc, sau lưng có hai tên vệ sĩ đeo kiếm, mặt mày hung tợn, hai bên còn có bốn viên chức trong tổng, dưới nữa là chiếc bàn của vị quan Án sát xử án. Trời cuối đông, gió lạnh, mưa lất phất bay nhưng bà con cũng bu chật quảng trường vì nghe nói đây là vụ xử chém đầu tiên ở tổng này. Tín Nhi đến được gần khán đài, vừa nhìn thấy mặt viên Tổng đốc thì máu trong người chàng đã sôi lên, mắt như tóe lửa. Chàng cố trấn tĩnh bằng cách hít vào một hơi thật sâu, hai bàn tay nắm thật chặt vào nhau, những móng tay bấm vào da thịt tạo cảm giác đau điếng để giúp tỉnh táo hơn.

Viên Tổng đốc không ai khác hơn là Chú Nhẫn, tên phản bội. Dù trên mặt ông ta nay để thêm bộ râu, áo mũ phẩm phục, nhưng Tín Nhi vừa nhìn  đã nhận ra ngay. Gần đúng ngọ, viên Án sát đọc bản án xong ném lệnh xử trảm xuống quảng trường. Nơi bục trói tử tội, một ánh đao nhoáng lên, một chiếc đầu rời khỏi cổ lăn xuống nền đất, nhiều tiếng rú kinh hãi từ đám đông bà con đi xem vang lên. Gia đình nạn nhân bấy giờ đứng xa than khóc, lúc này mới được phép chạy vào thu nhặt xác đem về chôn. Bà con bắt đầu giải tán, họ không ngớt xì xào bàn tán về cái chết của tên tử tội. Sự bất mãn hiện rõ trên nét mặt và trong lời nói của mọi người.

Viên Tổng đốc có hai tên vệ sĩ đeo kiếm đi kèm hai bên cùng đoàn quan chức trở vể tổng đường. Tín Nhi lặng lẽ đi theo sau đến khi viên Tổng đốc và hai tên vệ sĩ vào bên trong một ngôi nhà thật lớn, có tường cao bao quanh, toán quân canh vũ trang đóng cửa lớn lại. Tín Nhi nghĩ thầm: “Ngươi cải tên đổi họ, lại mướn cả bọn sát thủ Trung Hoa theo bảo vệ, nhưng đêm nay sẽ là đêm cuối cùng của ngươi. Tên phản bội!”.

Màn đêm buông xuống. Lão chủ quán khá ngạc nhiên khi nghe Tín Nhi hỏi lấy ngựa để đi dạo, nhưng rồi ông ta cũng sai người dẫn ngựa ra. Tín Nhi lên ngựa, thả chầm chậm qua con phố, sau đó đem ngựa dấu ở một nơi cách mé đông tường nhà tổng đốc không xa, sau đó chàng nương theo bóng đêm băng mình đến ngôi nhà lớn. Mấy năm nay võ công của chàng đã tăng tiến vượt bực, nhất là thân pháp Truy Phong Vô Ảnh của chàng. Bọn lính canh không ngừng đi lại tuần tra nhưng Tín Nhi đã dễ dàng lọt vào bên trong, phóng người lên nóc nhà rồi băng mình tới nơi có ánh đèn lóe ra bên dưới. Chàng nép sát tai xuống mái nhà lắng nghe động tịnh. Bên dưới có tiếng cãi vả của phụ nữ vang lên:

–  Ông định làm gì tôi? Ông chặt đầu hắn một cách vô cớ như vậy chưa đủ sao. Ông định giết tôi luôn phải không?

Tín Nhi trườn mình đến mép mái nhà định dùng thế Đảo quyển châu liêm nhìn vào trong thì nghe bên đưới mái nhà có tiếng đàn ông nói, giọng lơ lớ:

–  Vợ chồng họ cãi nhau mình đứng ngoài nghe làm gì. Đi, chúng ta qua bên kia làm vài ly, hơi đâu chầu chực ở đây.

Hai tên vệ sĩ kéo nhau qua bên ngôi tiểu đình cạnh hàng rào bày rượu ra uống. Tín Nhi an tâm móc người ngược trên mái nhìn vào trong. Chú Nhẫn đang hầm hầm tức giận đi qua đi lại trong phòng, rồi đột nhiên đứng lại chỉ vào mặt một thiếu phụ trẻ đẹp ngồi trên chiếc ghế tràng kỷ, bà ta có lẽ là Quỳnh Dao, Tín Nhi chưa từng thấy qua nên không biết mặt. Hắn gằn giọng:

–  Bà phải biết rằng chúng ta là những người đang lánh mặt. Bà lúc nào cũng muốn chường mặt ra cho thiên hạ biết cái nhan sắc của bà, nay lại còn dám qua mặt tôi dan díu với một thằng cai đội quèn. Bà làm nhục cái chức tổng đốc của tôi, bà là thứ…

Thiếu phụ hét lên:

–  Tôi là thứ gì. Ca kỷ, gái lăng loàn phải không? Còn ông? Ông là thứ gì? Một tên cướp, một tên phản…

Chú Nhẫn không nhịn được nữa bước nhanh tới vung tay tát một cú như trời giáng vào mặt thiếu phụ. Bà ta ôm mặt la lớn:

–  Ông giết tôi luôn đi để từ nay không còn ai ở đất này biết ông là một tên phản bội.

Chú Nhẫn lại vung tay tát thiếu phụ một cú nữa, gương mặt đẹp của bà ta giờ sưng húp, máu miệng trào ra hai bên mép. Bà đứng dậy xông sát vào Chú Nhẫn điên tiết gầm lên:

–  Ông giết tôi đi. Giết tôi đi.

Chú Nhẫn thấy mặt thiếu phụ sưng húp, máu hòa nước mắt dàn dụa thì chùn tay, lão đặt hai tay lên vai thiếu phụ nhỏ nhẹ:

–  Xin lỗi bà. Bà cũng biết tôi rất yêu qúi bà, chỉ là đừng bao giờ nhắc tới chuyện đó. Tôi đã dặn bà bao nhiêu lần rồi.

Thiếu phụ thấy chồng xuống nước bèn lên giọng:

–  Ông giỏi thì giết tôi luôn cho dứt chuyện. Tôi không muốn sống nữa. Từ ngày theo ông, đêm nào ông cũng uống rượu cho đến say rồi ngủ mê, ngủ sảng như một tên điên. Tôi còn trẻ, còn đẹp, sao lại phải sống cảnh phòng không lạnh lẽo ở cái xứ cò ho khỉ gáy này. Ông giết tôi đi.

Chú Nhẫn kéo vợ sát vào người, vỗ vỗ vào lưng năn nỉ:

–  Bà bớt giận, tha lỗi cho tôi. Từ nay tôi sẽ chăm sóc bà tốt hơn. Thôi bà vào trong đi.

Ông dìu thiếu phụ vào bên trong. Tín Nhi vội thả người xuống đất, nhanh chóng bật cửa lẻn vào bên trong, ngồi chễm chệ trên chiếc trường kỷ. Vói tay lấy bình rượu đang để trên bàn, chàng rót ra hai chén ngồi chờ. Một lúc sau Chú Nhẫn bước ra, vừa nhìn thấy một tên thanh niên lạ mặt, tóc xỏa dài như người rừng thì giật mình đánh thót, nhưng rồi ông lấy lại bình tĩnh hỏi:

–  Ngươi là ai? Sao vào được đến nơi đây?

Tín Nhi mỉm cười chỉ chiếc ghế trước mặt nói:

–  Không cần vội. Mời ngài Tổng đốc ngồi xuống trước đã.

Chú Nhẫn mắt vẫn nhìn chằm chằm vào khuôn mặt bị che khuất một nửa bởi mái tóc như cố nhận ra hắn là ai, trong khi chân bước đến ngồi vào ghế. Ông hỏi:

–  Ngươi đang đêm đột nhập vào dinh tổng đốc, ngươi có biết tội gì không?

Tín Nhi mỉm cười đáp:

 –  Ông định kết tôi vào tội thông đồng với giặc để xử chém như tên tình địch của ông ban sáng phải không? Mời uống rượu.

Nói xong chàng bưng hai ly rượu lên, đưa một ly sang cho Chú Nhẫn. Chú Nhẫn cũng là tay gan dạ, hắn ung dung đỡ ly rượu rồi uống cạn. Tín Nhi mỉm cười hỏi:

–  Ngài Tổng đốc không sợ tôi bỏ chất độc Bán Nhật Vô Hương Nhuyễn Cốt Tán vào ly rượu vừa rồi à?

Chú Nhẫn vừa nghe nói tới tên thuốc độc đó thì hai mắt như đứng tròng nhìn sững vào người lạ mặt, tay run run, chiếc ly rớt xuống hai bắp đùi trên ghế ngồi. Một lúc lâu hắn cất tiếng run run hỏi:

–  Anh bạn trẻ là ai?

Tín Nhi đưa tay vén phần tóc che một bên mặt ra mỉm cười hỏi:

–  Chú Nhẫn có nhìn ra cháu không?

Giọng Chú Nhẫn vẫn run:

–  Tín Nhi phải không?

–  Trí nhớ của chú còn tốt đó chứ, cháu lại tưởng tiền tài, địa vị, mỹ sắc đã làm trí óc chú mờ mịt, lú lẫn hết rồi.

Chú Nhẫn như đã lấy lại được bình tĩnh, ông lấy ly rượu trong lòng đặt lại lên bàn, thở dài nói:

–  Không ngờ cháu còn sống. Tôi biết ngày này rồi cũng sẽ đến. Cháu định trả thù cho anh em phải không?

–  Chú có biết là ở Truông Mây, đêm đêm vẫn còn rất nhiều tiếng khóc than của những oan hồn chưa tiêu tán không? Họ còn ở lại để nhắc nhở cháu phải báo cho được mối thù này. Và cháu đã hứa với họ nhất định phải mang trái tim của kẻ phản bội về tế trước mộ để linh hồn họ siêu thoát. Vì vậy hai năm nay cháu đã đi khắp mọi nẻo đường đất nước để tìm kiếm chú.

Chú Nhẫn thở dài, nhắm mắt lại nói:

–  Hai năm nay tôi sống không bằng chết. Đêm nào cũng gặp ác mộng thấy anh em về đòi mạng. Nay cháu đã đến thì cứ tự nhiên ra tay. Tôi chết ngàn lần cũng chưa đủ để đền tội.

Tín Nhi rót thêm rượu ra hai ly mời:

–  Cháu uống với chú ly rượu này để nhớ một thời cùng nhau làm nghĩa sĩ Truông Mây.

Chú Nhẫn bình thản đưa tay đón ly rượu uống cạn, ông nói:

–  Tôi có món quà này gởi lại cháu nhờ đem giùm về Truông Mây đặt trước mồ anh em.

Nói xong ông đứng lên bước lại giá sách gần đó. Tín Nhi lặng lẽ ngồi yên quan sát. Hai con dao nhỏ xíu đã nằm gọn giữa lòng hai bàn tay chàng. Chú Nhẫn lấy một cuốn sách trên giá rồi quay lại. Một khẩu súng hỏa điêu ngắn đã nằm gọn trong tay ông. Ông mỉm cười nói:

–  Tôi định gởi món quà này nhờ cháu mang đi, nhưng thôi, tôi tự mang đi cũng được.

Tín Nhi liếc qua khẩu súng rồi nhìn thẳng vào mắt Chú Nhẫn mỉm cười:

–  Chú thật đúng là chân nhân bất lộ tướng, đáng tiếc loại chân nhân như chú còn sống ngày nào, thế gian này khổ thêm ngày ấy.

Chú Nhẫn bình thản nói:

–  Có điều sức mọn như cháu mà đòi đi trả thù cho anh em thì hơi tự coi trọng mình quá đấy. Xin lỗi nhé. Cháu xuống gặp anh em cho tôi hỏi thăm. Vĩnh biệt!

Ánh mắt Chú Nhẫn láy động, ngón tay siết cò. Nhanh hơn ngón tay siết cò một chút, tay phải của Tín Nhi máy động, ánh chớp lóe lên, Tín Nhi phóng người sang bên. Một tiếng nổ chát chúa vang lên, Chú Nhẫn tay run run thả khẩu súng hỏa điêu rơi xuống đất, miệng thều thào:

–  Vô . . . Ảnh… Phi… Đao…

Cả thân người của ông ta ngã xuống, một lưỡi phi đao nhỏ đã cắm sâu vào giữa trái tim. Tín Nhi tuy phản ứng rất nhanh nhưng viên đạn cũng đã trúng bên hông đau nhói, máu phún ra ướt cả vạt áo. Chàng phóng nhanh đến bên xác Chú Nhẫn dùng lưỡi phi đao đang găm nơi trái tim rạch một vòng rồi thò tay vào móc trái tim tên phản bội bỏ vào chiếc túi đeo xéo nơi bụng. Quỳnh Dao từ bên trong nghe tiếng súng nổ vội chạy ra, vừa nhìn thấy cảnh Tín Nhi móc trái tim của Chú Nhẫn bà kinh hãi rú lên một tiếng. Con dao nhỏ trong tay trái của Tín Nhi nhoáng lên, Quỳnh Dao ngã nhào lên xác Chú Nhẫn chết ngay lập tức. Tín Nhi nói:

–  Các ngươi chết chung với nhau có đôi như vậy cũng đã tốt số lắm rồi.

Chàng sửa soạn phóng người ra thì có nhiều tiếng chân người chạy đến trước cửa. Cánh cửa mở tung, hai tên kiếm thủ người Hoa phóng vào, Tín Nhi vung tay một phát, lưỡi phi đao vô ảnh lại cắm đúng giữa trái tim tên đi đầu, hắn la lên một tiếng té nhào xuống đất, tên thứ nhì lao tới, thanh kiếm trong tay xuất một chiêu sấm sét bắn tới Tín Nhi. Phóng xong lưỡi phi đao, trong tay Tín Nhi đã có thanh nhuyễn kiếm, chàng vung kiếm lên đỡ thế công của địch thủ và xuất luôn chiêu Nhất Điểm Hồng. Tên kiếm thủ oặc oặc lên mấy tiếng rồi ngã lăn ra đất. Bên ngoài tiếng quân lính la ó vang trời, một toán xông vào. Tín Nhi không ham giết người vô tội, chàng phóng mình qua cửa sổ, nhảy lên nóc nhà rồi băng mình phóng đi trong đêm tối tìm đến chỗ con Huyết câu. Con ngựa cất cao bốn vó phóng đi, phía sau một toán lính chạy bộ đuổi theo nhưng chỉ sau một lát, những tiếng hò reo im lặng dần.

Tín Nhi rạp mình trên lưng ngựa phóng miệt mài trong đêm tối. Bầu trời đen kịt, thỉnh thoảng một vài tia chớp nhoáng lên từ phía biển Đông. Vết thương bên hông bị động mạnh nên máu ra rất nhiều, chàng vội dừng ngựa, lấy thuốc kim san bên mình ra, mò mẫm rịt vào vết thương rồi xé vải quấn ngang bụng để cầm máu. Không may, con Huyết câu trong lúc phóng đi thay vì chạy ra bến sông Mỹ Lợi trên sông Vàm Cỏ lúc vào Kiến Hòa, nó lại rẽ trái sang một lối khác, bởi vậy khi đến bờ sông, nhìn dòng nước mênh mông vắng tanh không một bóng thuyền chàng mới giật mình, biết mình đã lạc lối. Tín Nhi hơi lo trọng bụng vì vùng đất này bao quanh bởi sông rạch và biển cả, nếu không sang được bên kia bờ sẽ bị quan binh truy tìm đến nơi. Tín Nhi thả ngựa dọc theo bờ sông để tìm thuyền, nhưng đi mãi đến khi nghe tiếng gà gáy từ phía trước vọng lại vẫn không thấy một bóng thuyền hay nhà cửa. Phương Đông đã tờ mờ sáng. Chợt Tín Nhi thấy xa xa có một xóm nhà ven sông bèn giục ngựa chạy nhanh đến nơi. Ngôi nhà nằm gần bờ sông có ánh đèn le lói, có lẽ chủ nhân đã thức dậy. Tín Nhi cho ngựa vào sân nhà, ngôi nhà lá mái ba gian khá lớn nằm lọt trong một vườn cây anh đào rậm rạp. Chàng xuống ngựa bước đến gõ cửa. Trời bắt đầu đổ mưa tầm tã. Có tiếng của một thiếu nữ trẻ hỏi vọng ra:

–  Ai đó? Sao gõ cửa sớm vậy?

Tín Nhi đáp:

–  Tôi bị lạc đường, muốn sang sông nhưng không tìm ra thuyền nên ghé hỏi thăm.

Cánh cửa mở, một khuôn mặt xinh xắn của thiếu nữ hiện ra trong ánh sáng lờ mờ buổi sớm mai. Cô gái vừa trông thấy bộ dạng của người lạ thì hoảng kinh la lớn:

–  A! Ông là ai?

 Tín Nhi vội trấn an:

–  Xin cô nương đừng sợ, tôi là người lương thiện lỡ đường, không phải giặc cướp gì đâu.

Có tiếng đàn bà phía sau vọng lên:

–  Hoài Quân à, ai đến mà la hoảng lên vậy con?

Cô gái tên Hoài Quân đáp:

–  Dạ, một người bị thương mẹ ạ. Mẹ lên xem.

Một thiếu phụ ăn mặc lối nhà quê nhưng không dấu được vẻ quý phái trên khuôn mặt xinh đẹp và phúc hậu từ nhà sau bước lên, tay bưng một cây đèn. Nhìn thấy chàng thanh niên máu nhuộm đỏ một bên người, bà hoảng hốt nói:

–  Mau vào đây, công tử bị thương ở đâu, có nguy lắm không? Trời ơi, mất nhiều máu thế này, nguy quá. Hoài Quân, mau đi lấy thau nước sạch và muối vào đây.

Cô gái tên Hoài Quân “dạ” một tiếng rồi đi nhanh ra phía sau lấy nước. Thiếu phụ kéo Tín Nhi đến ngồi lên chiếc chõng tre đặt gần cửa sổ ra dấu bảo chàng nằm xuống, bà nói:

–  Công tử vén áo lên tôi xem, trời ơi, bị súng bắn à? Viên đạn còn nằm ở đây, phải rạch da lấy ra mới được, để lâu thịt sẽ thối ra là nguy. Nhà lại không có con dao nào sắc mới hại đây chứ.

Tín Nhi nhìn thấy vẻ lo âu của thiếu phụ, trong lòng chợt trào dâng một cảm giác ấm áp lạ thường. Suốt đời chàng chưa bao giờ được một người đàn bà đáng tuổi mẹ lo lắng, chăm sóc như thế bao giờ. Chàng cảm động nói:

–  Cháu có con dao nhỏ đây. Thím có thể dùng nó để mổ.

Bèn co chân lên, vói tay lấy thanh trủy thủ Thiết Phụng ra đưa cho thiếu phụ, vừa lúc Hoài Quân mang thau nước muối lên. Thiếu phụ múc nước muối rửa sạch vết thương, sau đó dùng con dao cẩn thận rạch một đường nhỏ cạnh vết đạn, xong nhón hai ngón tay cắp viên đạn ra. Tín Nhi cắn răng chịu đựng không một tiếng rên. Thiếu phụ nói:

–  Ráng chịu đau một chút, để tôi rửa nước muối sát trùng lần nữa rồi rịt thuốc vào. Công tử có thuốc dấu trị thương bên mình không?

–  Dạ có.

Chàng lấy trong túi ra hộp cao lúc nãy đã dùng đưa cho thiếu phụ. Hoài Quân mang thau nước đỏ ngầu vì máu ra phía sau. Thiếu phụ nhìn hộp cao và ngửi mùi thuốc cao trong hộp liền nhớ đến việc cũ, bà vừa rịt thuốc vào chỗ vết thương vừa nói:

–  Tình trạng công tử bây giờ giống năm năm trước tôi cũng đã từng cứu một thanh niên trạc tuổi công tử. Lần ấy còn nguy kịch hơn bây giờ, tôi cứ tưởng anh ta sẽ chết vì mấy vết kiếm chí mạng. Vậy mà nhờ vào mấy viên thuốc anh ta mang bên người cùng loại cao giống như hộp cao này, hai hôm sau Lâm nhi đã có thể ra đi. Cháu tên gì?

–  Cháu là Tín Nhi. Thím cũng cứu anh ta ở đây à?

–  Không, lúc ấy chúng tôi còn sống ở Cù Lao Phố.

–  Vậy ra thím là người trên thành phố. Vì sao thím và Hoài Quân lại bỏ phố về đây?

Thiếu phụ buồn bã đáp:

–  Sau hai cơn biến loạn ở Cù Lao Phố, tôi chán ngán cảnh thị thành nên đem Hoài Quân về quê. Đây là khu đất ông bà ngoại của Hoài Quân để lại.

Tín Nhi nhớ tới chuyện Trần Lâm bị thương ở Cù Lao Phố năm xưa nên hỏi:

–  Người thanh niên tên Lâm nhi họ gì thím?

–  Họ Trần. Lâm nhi là một thanh niên tài giỏi, hiền hậu và tuấn tú vô cùng.

Tín Nhi nghe tên Trần Lâm thì “a!” lên một tiếng:

–  Là Lâm ca à? Trần Lâm là đại ca của cháu.

Thiếu phụ mừng rỡ hỏi:

–  Vậy sao? Lâm nhi bây giờ thế nào rồi?

Tín Nhi nhắm mắt thở dài buồn bã, thiếu phụ lo lắng hỏi:

–  Lâm nhi gặp việc gì bất trắc hay sao?

Tín Nhi nghẹn lời đáp:

–  Anh ấy đã chết cùng với mấy ngàn nghĩa sĩ Truông Mây hai năm trước rồi.

Hoài Quân từ dưới nhà sau vừa lên tới, nghe nói Trần Lâm đã chết cô hỏi nhanh:

–  Anh Trần Lâm chết rồi à? Ôi, anh ấy thật hiền lành, dễ mến vô cùng.

Thiếu phụ thở dài nói:

–  Người tốt thường hay yểu mạng, ông trời thật bất công. Tôi có nghe một vài bà con ngoài đó chạy vào đây định cư, họ hát bài vè Chàng Lía và kể lại câu chuyện hào hùng của các hiệp sĩ Truông Mây. Không ngờ kết cuộc lại thê thảm như vậy. Còn cháu, vì sao bị bắn đến trọng thương thế này?

–  Anh em Truông Mây bị một kẻ đầu não phản bội bỏ độc ám toán nên tất cả đã hy sinh. Cháu may mắn thoát khỏi độc thủ nên đi tìm tên phản bội lấy tim hắn đem về tế mộ anh em. Đêm qua cháu giết được hắn nhưng bị bắn trúng một viên đạn. Trái tim của hắn cháu còn bỏ trong chiếc túi này.

Chàng lấy chiếc túi đeo bên hông phải cầm nơi tay. Mùi máu tanh từ chiếc túi bốc lên làm Hoài Quân phải nhăn mặt. Tín Nhi nói:

–  Xin lỗi đã làm nhơ bẩn ngôi nhà xinh xắn của thím và Hoài Quân. Cháu muốn hỏi xin một ít muối để ướp trái tim này cho khỏi hư, thím còn nhiều muối không?

–  Xứ này gần biển, muối đâu có hiếm. Đưa đây, tôi ướp cho. Cháu nghỉ ngơi, tôi nấu cháo ăn đỡ đói đã nhé. Làm sao cháu biết kẻ thù ở xứ này mà tìm tới? Là ai ở đây vậy?

–  Cũng may mắn thôi. Hắn chính là quan tổng đốc Kiến Hòa này.

Thiếu phụ kinh ngạc la lên:

–  Là quan tổng đốc mới đổi về đây à?

–  Dạ đúng. Hắn phản bội anh em, triều đình ban hắn ngàn vàng, một mỹ nhân và cái ghế tổng đốc. Mất hai năm cháu mới tìm ra hắn.

Thiếu phụ lo lắng:

–  Những tên phản bạn chết là đáng, nhưng cháu giết quan tổng đốc là có tội lớn với triều đình. Phải mau sang sông trốn đi thật nhanh. Xứ này bao bọc bởi sông nước, dùng ngựa không tiện lợi tí nào cả đâu. Chà! Nhưng đang bị thương thế này làm sao ra đi?

–  Ở nhà có ghe thuyền gì không thím?

–  Có một chiếc ghe nhỏ Hoài Quân dùng nó để chở trái anh đào xuống chợ bến Mỹ Lợi bán. Cháu đang bị thương nặng thế này không thể đi được, nếu gặp quan binh làm sao chống đỡ.

–  Cảm ơn thím lo lắng, nhưng cháu ở lại đây sẽ liên lụy đến thím.

–  Không hề gì. Nhà này quan quân không ai đến được đâu, cháu khỏi lo.

Tín Nhi ngạc nhiên hỏi:

–  Sao vậy thím?

Thiếu phụ mỉm cười nói:

–  Không có gì. Tiên phu tôi trước kia coi việc võ bị cho Trấn Biên bị tử trận. Nay triều đình truy tặng đặc ân, hơn nữa quan tổng trấn Định Tường là chỗ thâm giao với tiên phu lúc sinh tiền nên ra lệnh địa phương phải bảo vệ chúng tôi và coi nhà tôi là nơi bất khả xâm phạm.

–  Ra là vậy? Dù sao cháu cũng phải rời khỏi nơi này sớm chừng nào hay chừng ấy.

–  Cháu đừng ngại, cứ tịnh dưỡng vài ba hôm rồi hãy tính. Để tôi xuống làm ít thức ăn, cháu cần phải ăn nhiều để bù vào số máu đã mất.

Bà đứng lên dặn Hoài Quân:

–  Con lấy chăn đắp cho Tín Nhi kẻo bị gió lạnh. Trời đã tạnh mưa, con ra dắt con ngựa đem cột giữa vườn anh đào để người ta khỏi thấy, nhớ xóa các dấu chân ngựa cho sạch.

Rồi bà xuống nhà sau làm thức ăn, Hoài Quân vào trong mang ra một tấm chăn đắp lên người Tín Nhi, cô nở nụ cười thật tươi nói:

–  Hồi đó anh Trần Lâm bị thương ngất xỉu ngoài tiểu đình cũng do Hoài Quân nhìn thấy, lần này anh bị thương cũng do Hoài Quân mở cửa, thật là ngộ.

–  Lúc đó chắc Hoài Quân còn bé tí phải không?

Cô gái tròn xoe đôi mắt nói:

–  Mười tuổi chứ bé tí sao được.

Tín Nhi mỉm cười:

–  Ừ, mười tuổi là bé lớn rồi mới đúng chứ, tôi nói sai.

–  Anh Tín Nhi năm nay bao nhiêu?

–  Mười tám.

–  Vậy là anh lớn hơn Hoài Quân ba tuổi. Để Hoài Quân dắt ngựa đi giấu đã, anh nằm nghỉ nhé.

Hoài Quân đi rồi, Tín Nhi đưa mắt nhìn hai bức tranh treo trên tường nhà. Một bức vẽ một vị tướng quân mặc võ phục, bức kia vẽ một đứa bé còn trong nôi. Cả hai bức vẽ, nét bút thật sinh động, tài tình. Bên ngoài mưa đã tạnh, mặt trời đã lên cao. Bỗng có tiếng vó ngựa vọng từ xa tới, lát sau có tiếng nhiều người nói chuyện ngoài đường. Tín Nhi nhổm dậy nhìn ra cửa sổ. Một đoàn quân kỵ khoảng mười lăm tên vũ trang đang dừng trước cổng sân nhà, một tên trong bọn đang nói chuyện gì đó với hai mẹ con Hoài Quân, sau đó chúng phóng ngựa đi mất hút. Lát sau thiếu phụ từ dưới bếp bưng lên một tô cháo khói bốc nghi ngút:

–  Cháu ngồi dậy ăn bát cháo trứng gà này cho đỡ đói. Phải ăn nóng, nếu không trứng nguội sẽ tanh lắm.

Tín Nhi ngồi lên đỡ bát cháo hỏi:

–  Bọn lính đi lùng tìm cháu ngoài kia phải không thím?

–  Ừ. Chúng hỏi thăm thôi, bỏ đi hết rồi.

Ăn xong bát cháo, Tín Nhi hỏi:

–  Con muốn biết tên của thím để ghi nhớ vào lòng.

Thiếu phụ mỉm cười:

–  Võ Liên Chi.

Hai hôm sau vết thương bắt đầu khép miệng, Tín Nhi từ giã mẹ con Liên Chi ra đi. Hoài Quân dùng chiếc ghe nhỏ chở chàng và con Huyết câu sang sông. Dòng nước Vàm Cỏ êm đềm trôi xuôi với ngọn gió trong lành buổi bình minh. Xa xa từng đàn nhạn trắng bay lượn trên đồng lúa xanh bát ngát.

Hoài Quân vừa chèo vừa hát vang mấy câu hò miền đồng ruộng. Giọng nàng trong trẻo, êm ái như suối tóc nàng đang bay nhẹ trong gió sớm:

Hò… ơ… Sông nào sâu cho bằng sông Vàm                     Cỏ

Trái nào đỏ cho bằng trái anh đào

Anh sống sao cho đáng mặt anh hào

Thì dù con nước lớn..hờ…

Hò.. ơ.. ơ..Dù con nước lớn em cũng chống                     sào đón anh.

Nàng hò xong, đôi mắt tròn xoe nhìn Tín Nhi cười khúc khích. Mấy hôm nay khối hận thù bấy lâu đè nặng trong lòng Tín Nhi đã được trút bỏ, sự chăm sóc thân tình như ruột thịt của Liên Chi và tính cách tự nhiên, thân thiết của Hoài Quân đã khơi mở trái tim chàng rồi đong đầy tình cảm vào đó. Lúc này ngồi phía trước mũi thuyền quay mặt lại chèo phụ, nhìn dáng người thon nhỏ với nét mặt xinh xắn và hồn nhiên của Hoài Quân khiến lòng chàng thấy nao nao. Cảm xúc chợt trào dâng, chàng vô tình ráp nối những hình ảnh trước mắt và những ý nghĩ đang hiện lên trong đầu thành một bài thơ và cất tiếng ngâm nga:

Anh về nhớ gái Gò Công

Nhớ đàn nhạn trắng nhớ đồng lúa thơm

Nhớ câu hò những chiều hôm

Tóc thề cô lái gió nồm nhẹ bay

Cho dù biển Bắc, trời Tây

Thế nào anh cũng về đây thăm nàng…[1]

Hoài Quân nghe Tín Nhi ngâm xong reo lên:

–  Bài thơ hay quá. Không ngờ anh Tín Nhi lại biết làm thơ. Anh nhớ đấy nhé, anh hứa là sẽ trở về đây thăm Hoài Quân đấy nhé.

Tín Nhi cười nói:

–  Lần đầu tiên tự dưng buộc miệng đọc tràn lại được bài thơ. Tôi sẽ trở lại thăm Hoài Quân và thím.

Giọng Hoài Quân bỗng trở nên buồn bã:

–  Anh nhớ trở lại, không được như anh Trần Lâm đi là đi mãi chẳng bao giờ về thăm mẹ và Hoài Quân.

–  Tôi hứa nhất định sẽ về thăm mà. Có dịp vào Nam, việc đầu tiên là ghé thăm Hoài Quân, chịu không?

–  Hứa thì nhớ giữ lời đấy.

Chiếc ghe cập bờ bên kia, Hoài Quân tháo chiếc khăn đỏ quấn cổ của nàng đưa cho Tín Nhi nói:

–  Khi anh trở lại không cần qua đò ở bến Mỹ Lợi, cứ đến chỗ này cột chiếc khăn đỏ trên nhánh cây kia, Hoài Quân nhìn thấy sẽ sang đón anh.

Tín Nhi cầm chiếc khăn hỏi:

–  Lỡ như Hoài Quân hai ba ngày không nhìn sang đây, tôi phải đứng đây chờ hai ba ngày phải không?

Hoài Quân nói, giọng qủa quyết:

–  Hoài Quân nhất định sẽ nhìn thấy ngay mà. Hàng ngày Hoài Quân sẽ ra bờ sông nhìn sang thăm chừng.

Tín Nhi xúc động nói:

–  Tôi chỉ nói đùa thôi, chưa biết khi nào mới trở lại được, Hoài Quân đừng mất công trông chừng hàng ngày. Khi trở lại, tôi có đứng chờ hai ba ngày hay cả tháng cũng không sao mà.

Họ quyến luyến chia tay. Tín Nhi chờ cho con đò ra đến giữa dòng mới lên ngựa phóng đi. Chàng trở lại quán Bến Nghé tìm Hoàng Nhi, cả hai lên Cù Lao Phố, ghé Thần Quyền Môn báo cho Đại Kỳ và Hồng Liên biết tin. Hồng Liên giữ hai người ở lại đón Tết Tân Mão. Khi vết thương Tín Nhi đã lành lặn, cả hai từ giã Thần Quyền Môn lên đường trở lại Quy Nhơn. Hoàng Nhi nay đã biết cưỡi ngựa, nó có lẽ là chàng kỵ sĩ nhỏ tuổi nhất vượt qua gần ngàn dặm đường xa.

Qua khỏi trấn Thuận Thành là nơi trước kia mẹ nó chết, Hoàng Nhi trở lại tìm nấm mồ định thắp cho mẹ nén hương nhưng mồ đã bị mưa gió làm mất đi dấu tích, chỉ còn lại hòn đá và khúc cây lúc trước nó đóng trước mồ. Nhìn những chiếc xương người vung vãi gần đó, nó hoảng hốt nói với Tín Nhi:

–  Mồ mẹ em bị thú hoang bới lên ăn rồi. Trời ơi, chỉ tại em không chôn mẹ sâu hơn.

Rồi quỳ xuống vừa khóc nức nở vừa thu nhặt những lóng xương bỏ vào chiếc túi đeo bên hông. Tín Nhi ứa lệ nhặt phụ với nói. Hoàng Nhi nhặt xong ngồi ôm chiếc túi sụt sùi khóc mãi. Tín Nhi để cho nó khóc một lúc lâu mới bước tới đỡ đứng dậy an ủi:

–  Người chết là hết, không bị thú hoang ăn thì dòi bọ cũng đục khoét, em đừng buồn nữa.

Hoàng Nhi mếu máo:

–  Nhưng lỗi do em không đào nổi một cái huyệt cho sâu chôn mẹ, để mẹ chết mà không toàn thây.

–  Em không có lỗi gì đâu, lúc đó em còn nhỏ quá mà. Dù sao em còn diễm phúc hơn anh, có mẹ để chôn, có hài cốt để lưu giữ, không như anh, cha mẹ là ai cũng chẳng biết, cứ như từ đất nẻ chui lên vậy. Thôi chúng ta đi.

………….

Mời xem tiếp vào thứ bảy 31-10-2015.  

[1] Trích Trường thi Hòn Vọng Phu – Vũ Thanh.

NTSH – Hồi thứ ba (tt)

Kỳ 179:

………….

Dòng Côn Giang cuối đông nước đang cuồn cuộn chảy. Trên chiếc thuyền có mái che, bốn bên để trống vách neo tại một bến vắng bên bờ gần làng An Thái, cha con Giáo Hiến, Văn Đa và ba anh em Nhạc, Lữ, Huệ đang ngồi uống rượu luận bàn thế sự. Nguyễn Huệ châm rượu ra năm chiếc ly mời thầy và các anh. Nhạc nói:

–  Mời thầy. Trong năm chữ mà hôm trước thầy nhắc đến, chữ “thời” là chữ mà chúng tôi chưa được nghe giảng. Hôm nay thầy có thể giảng cho chúng tôi nghe được không?

Giáo Hiến uống xong ly rượu hỏi:

–  Ông Cả chỉ hỏi về chữ thời tất bốn chữ kia đã có, tôi muốn biết các anh đã làm được những gì?

Nhạc đáp:

–  Về “nhất vận”, tôi và chú Huệ vừa vô tình mà cùng một lúc thu về thanh thần kiếm của Vua Hỏa và bí kiếp Ô Long đao cùng cuốn Binh Thư Yếu Lược của Đức Thánh Trần. Thầy nghĩ xem như thế có phải đã được chữ “vận” chưa?

Giáo Hiến nghe Nhạc nói không khỏi ngạc nhiên hỏi:

–  Thật thế ư? Nói xem các anh đã được những báu vật này như thế nào?

Nguyễn Lữ mở gói vải quấn quanh thanh kiếm ra, Nhạc cầm đưa sang cho Giáo Hiến xem. Giáo Hiến rút kiếm ra khỏi vỏ quan sát thật kỹ, nét mặt không dấu được sự vui mừng, trong khi Nguyễn Huệ từ từ kể những sự việc xảy ra cho Giáo Hiến và Văn Đa nghe. Giáo Hiến nghe xong nói:

–  Thật là một vận may hiếm có. Cơ duyên này ngàn năm chỉ có một. Chữ “vận” như vậy là quá đủ rồi. Chữ “tam phong thủy” thì khỏi phải nói tới, nhưng “tứ âm công” thì sao?

Huệ lại đem những việc anh Cả mình tráo long huyệt ở Hoành Sơn như thế nào kể cho thầy nghe. Giáo Hiến mừng rỡ nói:

–  Thật vừa hay vừa may. Nếu không, địa linh của chúng ta lại trở thành lợi khí cho bọn Tàu thì nguy hiểm vô cùng. Còn “ngũ độc thư”?

Nhạc nhìn Giáo Hiến nghiêm trang nói:

–  Có Thầy Giáo đây mà ngũ độc thư còn chưa đạt được hay sao?

Giáo Hiến mỉm cười đáp:

–  Anh coi trọng tôi quá rồi. Một mình tôi cáng đáng sao hết việc của các anh đề ra. Phải có ít nhất năm sáu người như tôi mới tạm gọi là đủ, sau đó thì phải có hàng trăm người nữa mới gọi là đạt.

Nhạc nói:

–  Tôi có một vài người bạn thân là Trương Mỹ Ngọc ở An Nhơn, La Xuân Kiều ở Phù Cát, Nguyễn Văn Kim ở Quảng Ngãi. Mới đây Võ Văn Dũng lại giới thiệu tôi anh Võ Xuân Hòe ở Phú Phong, họ đều là những người có khả năng, đáng mặt kẻ sĩ trong thiên hạ.

Huệ chen vào:

–  Hôm trước em có gặp bốn anh em của Kỳ Sơn Tiều Hiệp Võ Thăng. Mấy anh Võ Thục, Võ Chất ở Nhạn Tháp có nhắc tới chuyện họ là bạn chữ nghĩa của mấy anh Mỹ Ngọc, Xuân Kiều, qua đó rất hâm mộ thầy.

Giáo Hiến nói:

–  Cảm ơn anh. Như vậy cũng tạm đủ cho bước khởi đầu nhưng các anh không được lơ là việc tìm cầu kẻ sĩ trong thiên hạ. Việc trên Tây Sơn thượng thế nào?

Lữ hớn hở thưa:

–  Thưa thầy rất tốt ạ. Chúng ta hiện đã có hàng ngàn mẫu đất canh tác, số lương thực thu hoạch có thể vừa nuôi bà con vừa nuôi một đội quân hai, ba ngàn người trong vòng nửa năm. Về lực lượng thanh niên có thể trở thành chiến binh nay lên đến hơn ngàn người, chưa kể số chiến binh của các tộc thiểu số Tây Nguyên tình nguyện theo ta. Gom họ lại cũng phải trên ngàn người thiện chiến.

Giáo Hiến hỏi:

–  Như vậy là các anh đã thu phục được tất cả các sắc tộc ở Tây Nguyên rồi phải không?

Lữ đáp:

–  Thưa thầy đúng vậy. Cả bộ tộc Sê Đăng cũng đã bị anh Cả làm cho quỳ xuống tung hô “Đức Thầy Cả vô thượng”, “Đức Thượng Sư vô thượng” rồi.

Trương Văn Đa hỏi:

–  Các anh làm thế nào thu phục người Sê Đăng được vậy? Nghe nói bọn chúng rất hiếu chiến và cứng đầu vô cùng.

Lữ bèn kể lại chuyện Nhạc dùng bầy ngựa cái đã thuần hóa để dụ đàn ngựa thần ở núi Hiển Hách thế nào cho cha con Giáo Hiến nghe. Kể xong Lữ nói:

–  Mà cũng lạ lắm, thưa thầy. Con ngựa trắng đầu đàn từ lúc bị anh Cả thu phục nó bỗng ngoan ngoãn vô cùng, y như là ngựa được chủ nuôi dưỡng thuần hóa từ nhỏ trong chuồng vậy. Con ngựa thật kỳ vĩ, đúng là thần mã.

Giáo Hiến thầm phục cơ trí và sự quyền biến của Nguyễn Nhạc. Ông nói:

–  Ngựa hay cũng như hào kiệt thường chọn đúng chủ để thờ. Ông Cả là người có đại mạng nên con Bạch mã bất trị kia mới bị oai khí trấn áp.

Nhạc nghe Giáo Hiến nói không khỏi mừng thầm trong bụng, vội nói:

–  Thầy quá khen rồi.

Ông Giáo lại hỏi:

–  Nghe nói lực lượng của Nguyễn Thung và Huyền Khê ở Tuy Viễn và Phù Ly khá lớn, anh Nhạc đối phó với họ thế nào?

–  Tôi giao thiệp với họ trong tư thế thân hữu, đôi khi phải nhún mình cố tránh những điều đụng chạm dù nhỏ nhặt để tránh hiềm khích hầu thu phục họ dễ dàng hơn sau này. Trong khi đó tôi đã thuyết phục được anh em Chu Văn Tiếp ở Phú Yên và bà chúa Chàm Thị Hỏa ở miền núi trong đó.

Giáo Hiến hỏi tiếp:

–  Anh định dùng cách gì để thu phục bọn Nguyễn Thung?

–  Nguyễn Thung có tiền, có tài, lại có lực lượng, nhất là sau ngày hắn chiêu dụ được bọn cướp biển Lý Tài, Tập Đình để thao túng nguồn muối lậu nên rất tự tin và đã lộ rõ tham vọng. Tôi sợ rằng hắn sẽ sanh tâm khởi sự trước mình thì mối nguy không nhỏ. Lúc trước tôi có hơi lo, nhưng đến hôm nay thì tôi đã có chủ kiến rồi.

Giáo Hiến hỏi:

–  Chủ kiến thế nào?

Nhạc quay qua bảo Huệ:

–  Chú kể lại những thành quả trong chuyến đi của chú vừa rồi cho thầy Giáo nghe trước đi.

Huệ đem những điều mình thu được trong thời gian qua kể lại cho mọi người nghe, xong chàng nhìn Giáo Hiến nói:

–  Hai việc mà con đánh giá cao đó là sự hợp tác của bang Hành Khất của anh Tiểu Phi và đội thám báo của Tín Nhi. Với hai lực lượng này, nếu làm cho họ lớn mạnh hơn nữa, huấn luyện thêm võ nghệ cho họ, ta sẽ biết được mọi động tịnh của những kẻ đối lập, từ đó mới có thể áp dụng câu “biết địch biết ta trăm trận trăm thắng” được.

Văn Đa hỏi:

–  Tín Nhi có phải là đệ tử của bác Hồng Liệt không?

Huệ đáp:

–  Đúng rồi.

Giáo Hiến nghe nhắc đến người bạn thân thuở trước, ngậm ngùi cất tiếng thở dài:

–  Bác Liệt của con là một người sống hào hùng, chết lẫm liệt. Tín Nhi cũng đáng khen không kém gì thầy của anh ta. Tín Nhi bây giờ ở đâu anh Huệ?

–  Anh ta đang trên đường vào Nam lùng tìm tên phản bội Chú Nhẫn và hứa khi nào đem được trái tim hắn về tế mộ anh em Truông Mây xong sẽ lên An Khê tìm con.

Huệ quay sang Nhạc hỏi:

–  Còn kho vũ khí ở Truông Mây và kho bảo vật của bác Hồng Liệt ở Trưng Sơn anh Cả tính sao?

Nhạc đáp:

–  Chú Lữ về trên đó bảo Tuyết mang theo một số anh em và ngựa thồ, bí mật xuống mang hết về An Khê. Còn bọn Hồ Thiết Thủ thì sao? Chừng nào họ mới về với chúng ta?

Huệ đáp:

–  Chờ hết mùa xuân mà Tín Nhi vẫn chưa về theo lời anh ta nói, em sẽ ra Phù Ly mời anh em Hồ Thiết Thủ. Người này đúng là một thợ rèn tài ba nhất thời đại này, anh ta đang nghĩ cách sáng chế một loại vũ khí đa dụng, chưa biết thế nào.

Nói xong Huệ rút thanh trủy thủ Thiết Phụng trong ống giày ra đưa cho Giáo Hiến xem. Giáo Hiến khen:

–  Đúng là bậc thầy trong nghề luyện kiếm. Tôi còn giữ cây Thanh Long kiếm của Cao Lỗ, nó được rèn cùng lúc với Ô Long đao. Lê Thái Tổ được thanh kiếm này dựng nên nhà Lê, tôi định khi nào các anh khởi sự sẽ trao cho ông Cả đây.

Giáo Hiến dứt lời, Văn Đa mở một gói vải lấy thanh kiếm ra. Giáo Hiến đưa tay rút thanh kiếm khỏi vỏ, một ánh sáng xanh biếc rực lên, hàn khí tỏa ra lạnh buốt. Nhạc mừng rỡ nói:

–  Vậy là chúng ta đang giữ cả những báu vật trong thiên hạ rồi còn gì nữa. Nhưng Nhạc tôi đã được Thần Hỏa ban cho thanh thần kiếm, thanh kiếm Thanh Long thầy cứ trao cho chú Huệ. Làm tướng lãnh chỉ huy hàng vạn binh lính và tướng tá phải có thanh kiếm báu này trong tay, nhờ anh linh tổ tiên tăng thêm uy thế cho vị chủ soái chứ.

Huệ nói:

–  Anh Bảy chuyên về kiếm, nên giữ thanh kiếm đó đi.

Bảy Lữ nói:

–  Anh phụ trách việc hậu cần lấy kiếm báu làm gì. Anh Cả đã giao cho chú tức là giao luôn cả trách nhiệm lớn điều binh khiển tướng sau này, chú nhận là phải rồi.

Giáo Hiến nói:

–  Như vậy cũng hay. Một vị tướng lãnh giỏi không cần phải ra giữa chiến trường mà phải biết vận trù quyết sách, hoạch định cơ mưu, uy nghiêm tướng lệnh cho thuộc hạ thi hành. Đó là điều người xưa thường nói “Ngồi trong màn trướng quyết thắng ngoài ngàn dặm”. Ông Cả đã nói vậy thì anh Huệ cứ nhận lấy để làm thanh kiếm lịnh trước ba quân.

Huệ nói:

–  Thầy và hai anh đã bảo thế, con xin nhận lấy kiếm và trách nhiệm này.

Giáo Hiến nghĩ thầm: “Đây có lẽ là sự sắp xếp của tổ tiên Việt tộc chăng?“. Ông thở ra một hơi khoan khoái nói:

–  Lúc nãy ông Cả nói đã có chủ kiến đối phó với Nguyễn Thung là sao, xin nói rõ cho?

Nhạc đáp, không dấu được vẻ hân hoan trên nét mặt:

–  Thầy đã nhìn thấy sáu người anh em mà chú Huệ giới thiệu về hôm qua rồi phải không? Thêm Nguyễn Văn Tuyết, bảy người họ như bảy con mãnh hổ, thêm một con phụng hoàng Bùi Thị Xuân nữa, mỗi người một vẻ, một tính cách nhưng đều là tay kiệt hiệt đời nay. Người bạn tôi là Nguyễn Văn Kim ở Quảng Ngãi cũng là tay văn võ song toàn. Nguyễn Thung và Huyền Khê chỉ thị vào đám cướp biển hung dữ Lý Tài để lên mặt. Tôi dự tính sang năm mới sẽ mời họ và bọn Chu Văn Tiếp đến Kiên Thành gặp mặt một lần. Nguyễn Thung nhìn thấy lực lượng chủ chốt của chúng ta mà không bở vía, xếp mình thì thầy phạt sao tôi cũng chịu.

Giáo Hiến mỉm cười:

–  Đúng là một chủ kiến hay. Tôi tin anh đúng.

Nhạc nói:

–  Tôi chỉ còn chờ thầy nõi rõ về chữ “thời” nữa là tôi vững chí tiến hành thực hiện câu sấm “Tây khởi nghĩa, Bắc thu công” của thầy truyền rao.

Giáo Hiến bưng ly rượu Huệ vừa rót hớp một hơi, chậm rãi nói:

–  Cuộc chiến Truông Mây tuy thất bại nhưng đã để lại những hệ quả to lớn, có lợi cho những người muốn kế tục cuộc đấu tranh chống bọn cường thần. Những hệ quả đó như sau:

– Thứ nhất: Hào khí Truông Mây vẫn còn hừng hực trong lòng người dân Đàng Trong, đặc biệt là tầng lớp bá tánh cùng khổ đông đảo. Tạo cho họ một mối hận thù sâu sắc với triều đình và sự tin tưởng đối với những nghĩa sĩ đã vì họ đứng lên. Hệ quả này giúp các anh có thể thu phục họ dễ dàng hơn nếu mình chứng tỏ cho họ thấy mục đích cuối cùng việc làm của mình hoàn toàn là vì hạnh phúc của họ.

– Thứ hai: Sau cuộc chiến Truông Mây những đội quân tinh nhuệ của triều đình bị tổn thất rất lớn, nhất là quân đội ba phủ Quy Nhơn, Quảng Ngãi và Phú Yên. Đám lính mới bổ sung sau này toàn là bọn lão nhược hay là con cái của những người cùng đinh không có tiền lo lót bọn quan trên. Bọn lính già thì sức đâu mà đánh, còn đám lính con nhà nghèo họ thù triều đình thấu xương nên khi ra trận họ không hết lòng. Chưa kể bọn quan tướng đều là những kẻ bất tài, vô học nhờ có tiền mua chức nên được lãnh đạo. Tóm lại, một đội quân như vậy thì chúng ta chỉ cần la ó ầm lên chúng đã quẳng giáo chạy dài, chưa cần xáp chiến.

Huệ nghe Giáo Hiến nói đến đây chợt mỉm cười. Giáo Hiến hỏi:

–  Anh Huệ có ý gì hay muốn nói phải không?

Huệ đáp:

–  Dạ không, con chỉ nghĩ đến sự trùng hợp về chữ la ó mà Tín Nhi và thầy đã dùng giống nhau khi nói tới vấn đề này mà thôi.

Giáo Hiến nói:

–  Sau này anh lệnh cho quân sĩ mỗi khi xung trận cứ la ó lên để tăng uy thế cho mình, gây khiếp đảm cho địch cũng là một lợi khí về tâm lý đó chứ.

–  Dạ.

Ông Giáo nói tiếp:

– Thứ ba: Sau khi chiến thắng Truông Mây, bọn Quốc phó hể hả, mặc sức làm càn, tạo thêm sự thù hận trong dân chúng. Lòng dân càng hận triều đình, sự lôi kéo của họ về phía chúng ta càng dễ. Điều quan trọng hơn là lòng kẻ sĩ trong thiên hạ cũng bắt đầu ngán ngẩm với nhà Chúa bây giờ. Thu phục lòng dân ta dễ thắng lợi. Thu phục được kẻ sĩ, thắng lợi của ta sẽ vững chắc, không bị hụt hẫng như Truông Mây. Muốn vậy, cuộc nổi dậy của các anh phải có chính nghĩa, không có chính nghĩa thì kẻ sĩ sẽ phản đối hoặc quay lưng. Với bá tánh cùng khổ, hãy đem cơm no áo ấm đến cho họ, còn với kẻ sĩ, phải mang lẽ phải, mang chính nghĩa để thu phục.

Giáo Hiến dừng lại bưng ly rượu Nguyễn Huệ vừa châm vào uống một hớp. Nhạc nóng ruột hỏi:

–  Còn những gì nữa thầy?

Giáo Hiến để ly rượu xuống nói tiếp:

–  Thứ tư: Trong khi triều chính Đàng Trong mục rữa vì Quốc phó Trương Phúc Loan thì ở Đàng Ngoài, Trịnh Doanh lại rất cường thịnh, dẹp yên những cuộc nổi loạn trong nước. Kế đến, ba năm trước, Trịnh Sâm lên ngôi Chúa (năm 1767) thì năm ngoái (1769), ông ta cũng đã dẹp yên hai cuộc nội loạn lớn của Hoàng Công Chất và Lê Duy Mật. Nói chung tình hình quân sự ở Bắc Hà nay rất hùng mạnh, họ đang có ý dòm ngó Đàng Trong. Tôi tin rằng một khi Đàng Trong có biến, Đàng Ngoài họ sẽ dấy động can qua, chừng đó Chúa Nguyễn sẽ lâm đại họa.

Huệ lên tiếng:

–  Như vậy, chúng ta nên tiên hạ thủ vi cường, đánh chiếm ngay toàn dinh Quảng Nam và miền Diên Khánh, Trấn Biên. Chừng đó quân Trịnh thấy Đàng Trong đang loạn tất thừa thế tràn vào, quân Nguyễn buộc phải lo chống đỡ đại thù mặt Bắc, chúng ta ở trong này củng cố cơ cấu hành chánh và quân sự ngồi chờ làm ngư ông thủ lợi. Phải vậy không thầy?

Giáo Hiến mỉm cười nhìn Huệ gật đầu khen:

–  Anh nhìn ra điều này quả là người có tầm nhìn chiến lược lớn. Đúng vậy. Nhưng mà vị ngư ông này sau đó sẽ phải đối đầu với một con sóng dữ, đó là cả xứ Bắc Hà đang hùng mạnh tràn vào.

Ánh mắt Nguyễn Huệ long lanh một tia lửa, giọng quả quyết:

–  Cho con một thời gian vài ba năm nữa để chuẩn bị thì con sóng Bắc Hà kia dù dữ đến đâu con cũng sẽ đạp nhầu.

Giáo Hiến nhìn Nguyễn Nhạc gật đầu rồi quay sang Huệ hỏi:

–  Anh vừa đi từ Quảng Nam vào phủ Quy Nhơn, tình hình dân chúng lúc này ra sao?

Huệ đáp:

–  Xóm làng xơ xác, nhà nhà nghèo đói, người người khổ cực, ăn mày nhan nhản khắp nơi. Có điều lạ là người dân bây giờ không còn than vãn nữa, họ sống im lặng và cam chịu.

Nét mặt Giáo Hiến lộ rõ sự vui mừng, ông nhìn Nguyễn Nhạc nói:

–  Anh bắt đầu khởi sự được rồi đó.

Nhạc hơi ngạc nhiên hỏi:

–  Thầy nghe nói dân chúng im lặng không phản đối triều đình nữa thì thầy hớn hở bảo tôi khởi sự ngay là sao?

–  Bá tánh một khi đã im lặng và cam chịu sống dưới ách bóc lột và áp chế hiện nay của triều đình, tức là sự phản đối và căm hận trong lòng họ đã lên đến cùng cực, nó như một ly nước đầy vun chỉ cần có một viên sạn nhỏ bỏ vào cũng sẽ tràn ra rồi nổ tung.

Nhạc vỡ lẽ, phấn chấn hỏi tới:

–  Như vậy chữ “thời” chúng ta cũng đã đạt được rồi phải không thầy?

–  Năm ngoái sao chổi xuất hiện, những điều truyền tụng trong dân gian nay đã hội đủ. Các anh đã thêm được chữ thời nữa rồi.

Nhạc hỏi:

–  Chúng ta bắt đầu thế nào?

–  Đẩy mạnh sự kêu gọi bá tánh và anh hùng về Tây Sơn tụ nghĩa. Chuẩn bị lương thực, rèn thêm vũ khí, huấn luyện binh sĩ và tướng lãnh cầm quân. Khi điều kiện chín muồi thì như một tiếng sét không kịp bưng tai phải lấy cho được ba phủ Quy Nhơn, Quảng Ngãi và Phú Yên làm căn bản cho phong trào, sau đó tuần tự nhi tiến mà lớn mạnh lên.

Nhạc hỏi:

–  Sao chỉ lấy ba phủ mà không lấy luôn Quảng Nam?

Giáo Hiến nói:

–  Quảng Nam là nơi trọng binh Chúa Nguyễn trú đóng, lại gần Phú Xuân. Chúng ta lấy đất để làm căn bản trước rồi sau đó phát triển thêm ra. Lực lượng ta còn non yếu, nếu lấy nhiều mà không giữ nổi thì chỉ tốn công sức và nhân mạng mà thôi.

Nhạc nói:

–  Nếu chúng ta khởi sự, tất cả những gia đình liên hệ buộc phải dọn hết lên Tây Sơn thượng để bảo đảm an toàn. Gia đình thầy cũng phải chịu khó vậy.

Giáo Hiến nói:

–  Khi nào ông Cả nói đi thì chúng tôi sẽ theo.

Huệ nhìn Nhạc hỏi:

–  Gần đây mấy tay hát bội cũ là Tứ Linh và Nhưng Huy đã rã gánh bỏ lên An Tượng tụ tập đồ đảng làm ăn cướp, em định ghé lên mời họ về hợp tác với mình, anh Cả thấy sao?

Nhạc nói:

–  Được đấy. Hai tên này nghe nói võ nghệ rất khá lại quen biết nhiều. Xong việc, chú lên trên thượng chuẩn bị việc huấn luyện quân sĩ là vừa.

Nhạc lại hỏi Giáo Hiến:

–  Số học trò của thầy sẽ theo về với phong trào chứ phải không?

Giáo Hiến đáp:

–  Tôi sẽ hỏi họ. Anh Huệ khi tuyển tướng nên chú ý đến Đặng Văn Long. Sau Lữ, và anh, Văn Long là đứa khá nhất.

–  Dạ, còn biết.

Nguyễn Nhạc bỗng sửa lại thế ngồi ngay ngắn, đưa mắt e dè nhìn Giáo Hiến. Giáo Hiến biết ý nên hỏi trước:

–  Ông Cả có điều gì khó nói phải không?

Nhạc đáp:

–  Có việc này muốn nhờ thầy thu xếp giùm nhưng hơi ngại nói.

Giáo Hiến mỉm cười:

–  Giữa chúng ta, ông Cả không cần e ngại. Tôi giúp được sẽ không từ nan.

Nhạc nói:

–  Chúng ta đang có trong tay những bảo vật trấn quốc của tổ tiên. Tôi muốn noi theo gương của Lê Thái Tổ để tạo thêm sự tin tưởng trong lòng dân chúng.

Giáo Hiến hiểu ý, vui vẻ nói:

–  Việc này rất nên. Hơn nữa, hai thanh thần kiếm cùng lúc về tay chúng ta là điều chỉ có trời ban cho mới được, ông Cả đâu cần e dè. Tôi sẽ thu xếp vụ này giúp các người.

Nhạc mừng rỡ hỏi:

–  Tôi cần phải chuẩn bị những gì?

Giáo Hiến hỏi:

–  Hình như sắp đến ngày giỗ của cụ thân sinh ông Cả phải không?

–  Đúng thế. Trí nhớ thầy còn tốt quá.

Giáo Hiến nói:

–  Ông Cả cho tổ chức giỗ vào chiều tối tại nhà cũ ở Phú Lạc, mời đông đảo bà con đến dự, sau đó cứ làm như vầy… như vầy…

Nhạc nghe Giáo Hiến bày kế, mừng rỡ trong lòng.

*****

Xem tiếp vào thứ bảy 24-10-2015

HỒI THỨ TƯ

Tổng Kiến Hòa, Tín Nhi moi tim Chú Nhẫn

Rừng Truông Mây, Nguyễn Nhạc khóc tế oan hồn

NTSH – Hồi thứ ba

BIA 1_AO VAI CO DAO (FIX) FB

Kỳ 178:

HỒI THỨ BA

Tây Sơn Quán anh hùng vui tương ngộ

Bến Côn Giang, Giáo Hiến luận chữ “thời”

Ba con tuấn mã phóng một mạch đến tờ mờ sáng thì tới chợ Nước Mặn. Bà mẹ của Lộc vì đang bệnh, lại phải đi ngựa trong đêm gió lạnh nên lên cơn ho liên tục. Lộc ôm mẹ sát vào lòng lo sợ nói:

–  Mẹ ráng chịu đựng, để con vào chợ tìm mua thuốc cho mẹ uống.

Huệ nói:

–  Anh đưa bác vào tiệm thuốc Nam đàng kia cho thầy coi mạch rồi nhờ thầy hốt thuốc luôn.

Bèn dẫn Lộc đến tiệm thuốc. Tiệm còn đóng cửa, Huệ xuống ngựa đến gõ mạnh cửa xong đứng chờ. Một lát sau có tiếng đàn ông làu bàu:

–  Ai mới sớm gõ cửa ầm cả lên vậy?

Tuy làu bàu nhưng cửa vẫn mở. Huệ vui vẻ chào:

–  Chào thầy Năm, cháu là Nguyễn Huệ đây, xin lỗi đã phá giấc của thầy Năm.

Ông thầy Năm tuổi trạc bốn mươi ngoài, vừa thấy Huệ đã niềm nỡ:

–  Cháu Huệ đó à! Sao xuống đây sớm vậy? Có ông Biện đi cùng không?

–  Dạ không. Nhưng có người bác gái bị ho dữ quá nên cháu tìm tới nhờ thầy coi mạch, hốt cho ít thuốc.

Thầy Năm vui vẻ nói:

–  Đem vào đây. Bệnh bao lâu rồi?

Lộc ẵm mẹ vào trong nhà. Bà cụ vẫn ho sù sụ không dứt, có cả máu trào theo cơn ho. Thầy Năm bắt mạch hồi lâu, thở dài nói:

–  Bệnh này chí ít đã kéo dài bốn, năm năm rồi phải không?

Lộc đáp, giọng lo lắng:

–  Dạ đúng, thưa thầy. Là ho gì vậy thầy? Có sao không thầy?

Thầy Năm đáp:

–  Tôi nghĩ lúc đầu chỉ bị cảm lạnh mà ho, nhưng không chịu uống thuốc, kiêng gió để cơn ho kéo dài làm phổi bị sưng. Phổi sưng lâu ngày nên biến chứng thành lao rồi.

Lộc nghe nói mẹ bị lao là một trong tứ chứng nan y nên tái mặt hỏi gấp:

–  Có thể chữa được không thầy? Mong thầy làm phước, cháu nguyện suốt đời làm trâu ngựa…

Thầy Năm xua tay:

–  Cậu có hoảng hốt cũng không thay đổi được gì đâu. Tôi làm thầy thuốc thấy bệnh thì cứu, đâu cần cậu phải làm này nọ. Nói thật cậu nghe nhé. Tôi có phương thuốc này có thể kéo dài tính mệnh của bà cụ, nhưng bệnh đã quá nặng, dẫu có uống thuốc cũng không quá ba tháng nữa đâu.

Lộc kinh hãi hỏi nhanh:

–  Thầy nói sao? Không quá ba tháng thôi à?

Thầy Năm điềm đạm nói:

–  Là tôi nể mặt cháu Huệ đây mới bốc liều thuốc này để bà cụ cầm thêm hơi, người khác tôi đã khuyên đem người bệnh về chuẩn bị hậu sự rồi. Tôi làm nghề này mấy mươi năm, chưa có ai lâm vào tình trạng này mà qua được cả. Cậu đừng buồn.

Mẹ Văn Lộc thều thào nói:

–  Thầy Năm nói đúng đó con, mẹ biết mình yếu lắm rồi, không qua khỏi đâu. Thôi con đừng nhận thuốc làm gì, để thuốc đó thầy cứu người khác.

Lộc ôm mẹ khóc to:

–  Con làm sao ngồi nhìn mẹ chết mà không cứu. Mẹ cứ ráng đi, được lúc nào hay lúc đó mẹ à. Chỉ tại con là một đứa vô dụng.

Bà cụ lắc đầu thều thào hỏi:

–  Con là đứa có chí, cố gắng lên sẽ thành hữu dụng.

Lộc nức nở:

–  Con hứa. Con hứa với mẹ sẽ cố gắng để thành người hữu dụng.

Giọng bà Lộc yếu ớt hỏi:

–  Ông Hai Phái đâu?

Hai Phái nghe hỏi liền bước tới lên tiếng:

–  Tôi đây chị. Chị có gì căn dặn tôi?

–  Tôi muốn hỏi cưới cô út Hương nhà ông cho thằng Lộc, mong ông chấp thuận cho.

Hai Phái cầm tay bà cụ nói:

–  Tôi chịu trốn đi theo nó là chị biết rồi. Tôi đồng ý.

Bà cụ nở nụ cười héo hắt trên môi nói:

–  Vậy ngay từ giờ phút này hai đứa nó đã thành vợ chồng, ông bằng lòng không?

–  Được, chị an tâm, tôi bằng lòng.

–  Út Hương đâu?

Út Hương vội bước tới quỳ xuống nắm tay bà cụ:

–  Dạ con đây.

–  Con đã là con…dâu của…mẹ rồi…nhé. Lộc, con nhớ…chôn mẹ…cạnh.. cha…con

Bà nói những tiếng cuối cùng rất nhỏ rồi ngoẹo đầu nhắm mắt. Lộc ôm mẹ khóc òa. Út Hương cũng thít thít khóc theo. Huệ nói với thầy Năm:

–  Xin lỗi đã quấy rầy thầy. Thầy có thấy chiếc thuyền nào của anh Cả cháu ở bến không?

–  Có, hôm qua chú Năm Ngạn vừa lấy thuốc men ở đây. Chắc còn ngoài bến.

Huệ mừng rỡ nói:

–  Vậy thì hay quá. Đang lúc giữa đường gấp rút, mong thầy Năm cho phép bà cụ nằm đỡ đây một lát, cháu chạy đi mua chiếc quan tài về liền nghe thầy.

Thầy Năm nói:

–  Không có gì đâu. Cháu cứ lo cho đủ đồ tẩm liệm đi. Tiệm thuốc chứa người bệnh chết là chuyện thường mà.

Huệ bèn nói với Lộc:

–  Thôi anh đừng buồn nữa, tôi và chú Hai đi mua mọi thứ để liệm bác gái. Anh đợi nhé.

Rồi cùng Hai Phái đi ra bến sông, may mắn, mấy chiếc ghe của Năm Ngạn vừa chất hàng xong sắp sửa trở lên Tây Sơn. Năm Ngạn gặp Huệ mừng rỡ hỏi ngay:

–  Ủa! Sao chú Huệ lại ở đây?

–  Em có ít chuyện dưới vùng này, không ngờ gặp lúc mẹ người bạn mất, đang định ghé tiệm hòm sắm quan tài và các thứ. Anh Năm còn thì cho em xin một ít ngân lượng, nhờ anh em theo phụ em một tay. À, đây là chú Hai Phái ở Kỳ Sơn, cha vợ của bạn em.

Năm Ngạn và Hai Phái chào nhau, sau đó ông gọi thêm mấy người trên ghe đi theo Nguyễn Huệ. Họ mang mọi thứ về tiệm thuốc, ông chủ tiệm hòm đi theo giúp phần sự tẩm liệm. Mọi việc xong, Huệ nói với Hai Phái và Năm Ngạn:

–  Bây giờ chú và chị Hương đi theo đoàn thuyền của anh Năm lên Tây Sơn, anh Cả cháu sẽ thu xếp mọi việc cho chú. Cháu và anh Lộc chôn bác xong sẽ về trên đó sau.

Hai Phái hỏi:

–  Hai cháu trở lại Kỳ Sơn lỡ gặp bọn lính ở đó thì sao?

–  Bọn cháu đợi đến tối trở về chắc không có gì đâu. Bọn ôn thần này khôn hồn thì đừng ra mặt phá rối.

Năm Ngạn nói:

–  Xong việc chú Huệ về liền nghen, anh Cả có ý trông chú lắm.

Huệ nói:

–  Dạ, bọn em sẽ về ngay. Anh Năm chu tất mọi thứ cho chú Hai nhé.

Tối đến Lộc đai quan tài của mẹ trên lưng, Huệ cột những dụng cụ đào huyệt vào ngựa rồi cả hai trở lại Kỳ Sơn, tìm đến khu gò mả tập thể. Đến nơi, hai chàng thanh niên hì hục cũng phải mất mấy canh giờ mới đắp xong ngôi mộ. Lộc thắp nhang đèn cho hai ngôi mộ của cha, mẹ xong quỳ dưới đất nức nở không cùng. Huệ để bạn khóc cho vơi niềm đau, đến gần sáng mới vỗ vai Lộc bảo đi. Hai người phóng ngựa trở lại Nước Mặn, sang sông tìm quán ăn lót dạ, sau đó lên đường về Tây Sơn. Khi đi qua khu chợ, Huệ thấy một đám đông bu quanh một cô gái đang ôm xác một ông già khóc lóc thảm thiết. Thoáng thấy dáng cô gái hơi quen, Huệ bèn ra dấu cho Lộc xong nhảy xuống ngựa bước lại gần nhìn vào. Vừa thấy mặt cô gái chàng đã kinh ngạc la lên:

–  Liên nhi. Là em phải không? Ủa! Ông Sáu bị sao vậy?

Cô gái nghe tiếng gọi ngẩng lên nhìn, vừa thấy Nguyễn Huệ cô mừng quá reo lớn:

–  A, anh Huệ. Trời ơi! Ông nội em chết rồi.

Huệ vẹt mấy người đang bu quanh bước vào ngồi xuống đỡ thân hình cứng đơ, lạnh ngắt của ông già đang nằm dưới đất mà trên tay vẫn còn giữ cứng cây đàn nhị. Chàng hỏi nhanh:

–  Vì sao nội chết? Sao hai người lại ở dưới này? Hai người không theo đoàn hát nữa sao?

Cô gái tên Liên sụt sùi đáp trong nước mắt:

–  Đoàn hát tan rã nửa năm nay rồi. Từ đó đến nay nội và em lang thang ca hát khắp nơi, hai tháng nay trời lạnh quá nên nội bị nhiễm lạnh, ho mãi, sáng sớm nay thì nội chết.

Cô nói xong lại nức nở khóc. Huệ an ủi:

–  Liên nhi đừng buồn nữa. Bây giờ phải lo chuyện chôn cất cho nội trước đã.

Liên nhi sụt sùi:

–  Chôn nội ở đâu bây giờ. Tiền đâu mua hòm mà chôn?

Huệ nói:

–  Những chuyện ấy để anh lo. Em đừng khóc nữa. Chúng ta đi.

Bèn bồng xác ông cụ lên, ra dấu cho Liên nhi và Lộc đi theo rồi giới thiệu với Lộc:

–  Ông cháu Liên nhi là người đánh đàn cho gánh hát bội Nhưng Huy, Tứ Linh. Ngày xưa có một thời gian tôi ham vui theo đoàn hát nên quen. Chúng tôi lúc đó như hai anh em vậy. Liên nhi, anh Lộc là bạn của anh, mẹ Lộc cũng mới mất hôm qua.

Liên nhi lau nước mắt chào. Lộc vội chào đáp lễ. Chàng thấy Liên nhi trạc mười sáu, trông tiều tụy nhưng vừa xinh đẹp vừa thùy mị, dịu dàng. Lộc an ủi:

–  Liên nhi đừng buồn nữa. Chúng ta là hai người cùng cảnh ngộ.

Liên nhi nói:

–  Cảm ơn anh Lộc. Mẹ anh cũng mới mất à?

Lộc thở dài:

–  Mới mất sáng qua.

Huệ nói:

–  Chúng ta sang sông đến tiệm hòm. Tối nay chắc phải trở lại Kỳ Sơn lần nữa để an táng cho ông nội.

Bèn kéo nhau sang sông mua quan tài tẩm liệm. Ông chủ trại hòm bán được hàng, nét mặt vui lắm nhưng giả bộ nói:

–  Tội nghiệp. Thời buổi này thiếu ăn, người cao tuổi một chút dễ chết đói, chết lạnh lắm. Dạo này hòm đóng không kịp bán, có người phải bó chiếu chôn vì không có hòm hoặc không đủ tiền mua. Để tôi giúp các cô cậu liệm ông già giùm cho. Liệm cây đàn nhị theo ông ấy luôn nhé?

Huệ mỉm cười:

–  Vậy là tiệm chú phát tài rồi. Chú cần phải cúng vái ông thần tài cho kỹ đó nhé.

Ông chủ tiệm hòm cười hề hề:

–  Ậy, cái nghề này mới nhìn thì thất đức nhưng nghĩ kỹ là nghề tạo phúc cho thiên hạ đấy. Cậu coi, không có tôi, có phải cụ già này chết không có quan tài chôn không. Mà rồi định đem chôn ông cụ ở đâu?

Huệ nói:

–  Họ ở tận miền ngoài. Cháu định đem vào gò mả công ở Kỳ Sơn an táng. Được không chú?

Ông chủ tiệm hòm nói:

–  Ở tận miền ngoài à? Thật là cảnh tha phương cầu thực, bỏ thây xứ lạ, tội nghiệp quá. Cậu đâu cần mang vào Kỳ Sơn chi cho xa, ở đây cũng có gò mả công cộng vậy, để tôi tới nói với ông Hương chỉ một tiếng là được ngay thôi. Chôn ở đây cho gần, đỡ mất công.

Huệ hỏi Liên nhi:

–  Chôn nội ở đây được không em?

Liên nhi buồn bã nói:

–  Em không biết nữa. Mà có đất để chôn là quý rồi, em đâu có quyền lựa chọn. Tùy anh Huệ.

Huệ nghe cô bạn gái nói bỗng mủi lòng, nước mắt anh hùng chợt lưng tròng. Chàng vỗ nhẹ vai Liên nhi nhỏ nhẹ:

–  Tạm thời chôn nội ở đây, mai này có điều kiện mình cải táng đến nơi mình muốn. Liên nhi đừng buồn nữa.

Liên nhi bỗng động lòng ôm mặt nức nở. Huệ quay qua nói với ông chủ tiệm:

–  Chú làm ơn thử hỏi ông Hương chỉ xem được không chú. Nếu được cháu sẽ chôn nội ở đây.

Ông chủ tiệm cũng tốt bụng, nghe Huệ nói liền vội vã đi ngay. Lát sau ông trở về nói:

–  Được, ông Hương chỉ nói đất ở gò mả còn rộng, cứ chôn. Đi! Tôi chỉ chỗ cho đào huyệt mộ. Để tôi gọi mấy đứa người làm theo phụ đào huyệt cho nhanh.

Lộc trên đầu còn vấn khăn tang mẹ, chàng thông cảm với nỗi buồn của kẻ mất người thân nên xung phong vác quan tài, Huệ thu thập các dụng cụ đi theo chủ tớ trại hòm. Đắp xong nấm mộ, ông chủ trại hòm đang định trở về bỗng nhìn quanh quất một lúc rồi nói với Huệ:

–  A! Ông cụ này vậy mà tốt phước ghê, khi không nằm đúng địa thế thật tốt. Này nhé ngôi mộ đầu thì gối lên Kỳ Sơn, mặt nhìn ra dòng Côn Giang rộng lớn, xa hơn nữa là biển Đông mênh mông, hai chân một gác lên hòn Triều Châu, một gác lên hòn Bà. Huyệt này năm bảy năm sau, con cháu sẽ phát lớn đấy.

Huệ mỉm cười nói:

–  Ông chủ nói chuyện vui cho khổ chủ đỡ buồn rồi. Cả họ Phạm nhà người ta chỉ còn mỗi một cô cháu gái này đấy. Bây giờ chỉ mong có miếng ăn chỗ ở là quý rồi, nghĩ gì đến chuyện phát lớn hả chú?

Ông chủ tiệm hòm cười:

–  Đó là theo kinh nghiệm phong thủy mà nói, còn tin hay không là tùy ở các cô cậu. Thôi tôi về.

–  Cảm ơn chú nhiều lắm. Chú tốt bụng như vậy sẽ được phúc lớn, giàu to.

Liên nhi đầu vấn khăn tang, quỳ trước mộ ông nội khóc hoài không nín, có lẽ nàng đang nghĩ đến tình cảnh bơ vơ không người thân, không nơi nương tựa của mình. Huệ và Lộc đến quỳ hai bên nàng, Huệ an ủi:

–  Em đừng khóc nữa. Dù sao nội cũng đã chết rồi. Khóc mãi sinh bệnh đó.

Một lúc sau Liên nhi thôi khóc, nàng lau nước mắt nói nhỏ:

–  Đời em chỉ có mình nội là người thân duy nhất, nội đi rồi, chỉ còn lại một mình em trơ trọi giữa đời. Em phải làm sao đây?

Huệ nói:

–  Để anh tính xem. Trước mắt, anh đưa em về nhà thầy anh ở tạm. Ngọc Lan con thầy cũng cỡ tuổi em, hai người làm bạn với nhau cho em đỡ buồn, sau đó anh đưa em lên An Khê sống với chị Cả hai của anh, chị Da Đố rất tốt bụng. Vậy là ổn rồi. Em đừng lo nữa.

Liên nhi nhìn Huệ bằng ánh mắt biết ơn:

–  Em cảm ơn anh Huệ. Nếu không gặp anh ở đây, không biết đời em sẽ ra sao.

–  Kể anh nghe đi. Tại sao em và nội phải đi hát rong thế này?

–  Hai chú Tứ Linh và Nhưng Huy thấy bà con đói khổ quá không có tiền coi hát nên nửa năm trước đã rã gánh. Nhưng khi rã gánh rồi lại không biết làm gì nên rủ nội lên An Tượng làm ăn cướp. Nội không chịu theo, dẫn em đi hát rong độ nhật. Nội nói, ngày xưa khi còn ở Hải Dương dòng họ Phạm của nội là dòng thư hương, danh đệ, chỉ vì bạo chúa đày ải mới ra thân phiêu dạt vào đây. Tuy cùng đường nhưng khí tiết nội vẫn phải giữ. Thà chết đói chứ không chịu để nhơ danh tiên tổ.

Giọng nói của Liên nhi pha miền ngoài nên vừa nhẹ nhàng vừa ngọt ngào nghe thật êm tai. Văn Lộc nghe kể khen:

–  Nội của Liên nhi thật là người tiết tháo. Tôi phải học cách làm người như nội.

Liên nhi nói:

–  Cảm ơn anh. Nội vẫn thường nói, sống tục thì dễ, sống thanh rất khó. Mẹ anh Lộc bị bệnh mất à?

Giọng của Lộc buồn buồn pha chút hổ thẹn:

–  Cũng chỉ vì tôi bất tài vô tướng nên không thuốc thang được cho mẹ để bệnh ho kéo dài đến biến chứng thành lao.

Huệ nói:

–  Không phải anh bất tài mà do cái xã hội thối nát này nó bó chân con người lại. Mẹ anh từng nói anh là người có chí, anh phải làm cái gì đó để bứt cho đứt sợi dây trói anh và mọi người đi để tất cả đều được no cơm, ấm áo, giảm bớt cảnh chết chóc vì người bệnh không thuốc uống, người đói không cơm ăn.

Huệ nói mà ánh mắt sáng ngời niềm tự tin và cương quyết. Lộc nhìn thấy ánh mắt đó bầu nhiệt huyết cũng sôi lên, giọng phấn khích:

–  Anh nói hay lắm. Anh đi trước, tôi nguyện theo sau anh cho đến chết, quyết không chùn chân.

Huệ đưa bàn tay ra, Lộc vỗ mạnh vào đó rồi siết chặt. Liên nhi chẳng hiểu hai chàng thanh niên đang có dự tính gì nên hỏi:

–  Anh Huệ có việc gì gấp hay không?

–  Chi vậy?

–  Em muốn ở lại thắp nhang cho nội vài ba ngày. Được không anh?

–  Cũng được. Chúng ta thuê phòng trọ ở bến sông, nơi ghe hàng bọn anh vẫn thường thuê.

Lộc nói:

–  Như vậy cũng hay. Tôi cũng muốn nhang khói cho mẹ tôi vài hôm nữa.

Huệ nói:

–  Nhưng anh phải cẩn thận đừng để bọn lính Kỳ Sơn gặp, khỏi phiền phức.

*

Ba hôm sau họ rời Nước Mặn lên đường trở về An Thái. Liên nhi từ bé chưa cưỡi ngựa nên Huệ phải để nàng ngồi phía trước lòng mình, nàng thẹn quá nói:

–  Nam nữ ngồi kiểu này thiên hạ cười chết.

Huệ cười:

–  Thiên hạ cười mặc họ, ngộ biến tùng quyền, quý hồ anh em mình thanh bạch là được rồi. Phải rồi, để anh dạy em cưỡi ngựa, như vậy là em chở, anh ngồi sau chứ đâu còn anh chở em ngồi trước nữa mà sợ cười.

Liên nhi nhoẻn miệng cười thật tươi:

–  Anh lúc nào cũng có ý lạ để làm vui lòng thiên hạ.

Huệ giao cương cho Liên nhi, chỉ cách cho nàng thúc ngựa và giữ cương. Sau một lúc bỡ ngỡ, Liên nhi cũng đã điều khiển được con ngựa, nó từ từ đổi nước kiệu sang nước đại phóng đi. Lộc cũng phóng ngựa đuổi theo. Xế hôm đó họ về đến trường học của Giáo Hiến ở An Thái. Ngọc Lan đang quét dọn trước sân, chợt hai con ngựa to lớn phóng vào sân thì sững người một lát khi thấy một thiếu nữ ngồi trên lưng ngựa, đến khi nhận ra Nguyễn Huệ ngồi phía sau, nàng reo lên:

–  Anh Huệ đó à? Làm Lan hết hồn, tưởng là ai? Ơ… bạn của anh Huệ hả?

Nàng nhìn cô gái lạ đầu vấn khăn tang ngồi trong lòng Huệ trên lưng ngựa, phần đuôi tóc rối tung vì vó ngựa đường dài nên không khỏi ngạc nhiên và bối rối. Nhìn sang chàng thanh niên trên con ngựa thứ hai cũng đầu vấn khăn tang càng khiến nàng ngạc nhiên hơn. Huệ phóng người xuống đất, nở nụ cười bẻn lẻn nói:

–  Chào Ngọc Lan, là tôi đây. Để tôi giới thiệu với Lan người bạn này.

Vừa nói chàng vừa đưa tay đỡ Liên nhi xuống đất. Lộc cũng nhảy xuống ngựa cúi đầu chào Ngọc Lan. Huệ nói tiếp:

–  Đây là Liên nhi, người bạn của tôi trong gánh hát bội lúc trước, anh Nguyễn Văn Lộc, bạn mới của tôi. Đây là Ngọc Lan, tiểu thư của thầy tôi.

Liên nhi cúi đầu chào:

–  Liên nhi xin chào chị Ngọc Lan. Liên nhi không biết cưỡi ngựa nên phải ngồi chung ngựa với anh Huệ, bêu xấu với chị rồi.

Ngọc Lan chào hai người:

–  Chào anh Lộc, chào chị Liên. Xin chia buồn với anh và chị. Chúng ta vào trong nhà đã, Lan lấy nước uống, đi đường xa chắc mệt lắm phải không chị Liên?

Rồi nắm tay Liên nhi thân mật kéo vào nhà. Huệ hỏi:

–  Thầy, cô và mấy anh em đâu hết mà vắng tanh vậy Ngọc Lan?

–  Ông Biện mời cha và anh hai lên Kiên Thành, các anh khác về quê ăn tết hết rồi. Mẹ em và hai đứa nhỏ đang ở phía sau. Anh Lộc và chị Liên ngồi nghỉ chân. Lan đi lấy nước.

Nàng quay ra sau bếp. Huệ giới thiệu với Lộc:

–  Đây là nhà thầy tôi, mé bên kia là lớp học, phía sau nữa là chỗ ở của đám học trò chúng tôi. Tôi và những anh em khác học văn, học võ với thầy ở đây.

Lộc nói:

–  Thích thật. Bạn học đông chắc vui lắm hả? Thầy tôi chỉ có một mình tôi, còn phải học ban đêm nữa, nhưng tôi học võ thì nhiều chứ chữ nghĩa ít lắm.

Ngọc Lan bưng nước ra, đi sau nàng là bà Giáo và hai đứa em trai nàng. Huệ vội vòng tay chào:

–  Con xin chào cô. Đây là hai người bạn của con, anh Lộc và Liên nhi.

Lộc và Liên nhi cũng vội vàng đứng lên vòng tay chào. Bà Giáo vui vẻ nói:

–  Tụi con tự nhiên. Hai đứa mới có chuyện buồn gia đình à?

Huệ đáp thay:

–  Thưa cô, mẹ anh Lộc mới mất năm hôm trước. Ông nội là người thân duy nhất của Liên nhi cũng mất hôm sau đó. Tụi con vừa an táng cho họ xong mới về đây.

Bà Giáo kéo tay Liên nhi lại gần an ủi:

–  Cháu xinh đẹp thế này, chả trách trời cao ganh tỵ. Phần số cả cháu ạ, đừng buồn. Bây giờ các cháu dự tính thế nào?

Huệ đáp:

–  Vợ anh Lộc và cha của chị ấy đã lên Kiên Thành cùng anh Năm Ngạn trước rồi, con nhờ anh Cả đưa họ lên An Khê. Chỉ còn Liên nhi, con muốn thưa với thầy cô…

Bà Giáo nói thay:

–  Con muốn xin cho Liên nhi ở lại đây với cô phải không? Được, nếu cháu thích Liên nhi ạ. Cô ngày xưa cũng là một đứa cô nhi lưu lạc từ Nghệ An vào. Tình cảnh cơ cực, lẻ loi chẳng khác gì cháu đâu.

Liên nhi rưng rưng nước mắt nói:

–  Con cảm ơn cô. Ông nội bất ngờ mất đi, con thật bơ vơ, may gặp lại anh Huệ. Nếu cô thương, con xin nương tựa thầy cô một thời gian.

Huệ nói:

–  Con định về nhà xem anh Cả có sai bảo gì nữa không, xong việc, con đưa Liên nhi lên An Khê sống với chị Da Đố, thưa cô.

Bà Giáo vuốt mái tóc rối của Liên nhi nói:

–  Con cứ ở lại đây đến khi nào muốn đi thì đi, không ngại gì cả. Lan à, con đưa Liên nhi vào trong thay đồ đi con.

Ngọc Lan “dạ” rồi nắm tay Liên nhi thân mật kéo vào trong. Bà Giáo nhìn theo mỉm cười nói:

–  Hai đứa giống như hai chị em sinh đôi vậy. Tụi con ăn uống gì chưa, cô dọn cơm ăn nhé, Huệ?

–  Dạ chưa. Cô có gì cho tụi con ăn cũng được.

Bà Giáo quay vào trong, hai đứa em trai của Lan bây giờ mới chạy tới kéo tay Huệ huyên thuyên hỏi:

–  Anh Huệ đi đâu mấy tháng nay vậy? Anh không học với cha nữa à? Anh không được bỏ học đâu đó. Tụi em thích anh học ở đây, có anh vui hơn.

Huệ ôm hai đứa nói:

–  Anh đâu có bỏ học, anh chỉ có chút việc phải làm. Nay mai anh trở lại học tiếp.

Thằng Chí lớn hơn, nheo mắt tinh nghịch:

–  Anh mà không trở lại học, có người buồn ghê lắm đó.

Huệ hỏi:

–  Ai buồn?

Thằng Thành nhanh miệng:

–  Thì chị Ba chớ còn ai nữa.

Ngọc Lan từ phía sau bước lên hỏi:

–  Hai đứa lại thóc mách cái gì đó?

Thằng Chí nói:

–  Thằng Thành nói nếu anh Huệ không trở lại học thì chị Ba buồn chết đó.

Thành cãi:

–  Ai biểu anh Bốn nói trước chi, em nói theo.

Chí cãi:

–  Tao đâu có nói chị Ba buồn, tao chỉ nói có người buồn thôi chứ, tại mầy thày lay…

Ngọc Lan thẹn đến đỏ mặt nạt hai đứa:

–  Hai thằng ranh con nhiều chuyện, có đi ra ngoài mau không hay chờ ăn roi.

Chí và Thành làm mặt ngáo ộp rồi chạy ù ra phía sau. Mặt Lan vẫn còn đỏ ửng, nàng nhìn Huệ nói:

–  Anh đừng nghe hai thằng nhỏ nói bậy. Anh học hay không đâu có mắc mớ gì tới Lan mà buồn. Mẹ nói mời hai anh xuống ăn cơm.

Huệ từ lâu vốn rất có cảm tình với Ngọc Lan, nàng là chiếc bóng đầu tiên in trong trái tim ngây thơ của chàng sau vài năm xuống ở học với thầy Giáo Hiến. Nhưng những rung cảm đầu đời thật lạ, chàng vốn là một thiếu niên hoạt bát, vui vẻ với tất cả mọi người, chỉ riêng với Lan, mỗi khi có mặt nàng thì không hiểu sao một người không sợ trời sợ đất như chàng lại cứ như một tên quê mùa, ngáo ộp, tay chân luống cuống, mặt đỏ nhừ lên không nói được điều gì suông sẻ cả. Ai nhắc đến chuyện tình cảm giữa chàng và Lan, chàng cứ một mực chối phăng, chả thế mà đã không biết bao nhiêu lần chàng phải tự nguyền rủa mình đần độn mỗi khi thấy Trần Lập, một thằng bảnh trai học dốt cùng lớp, tự do thoải mái nói cười với nàng. Cũng may, mấy tháng trước, Lập vì gia thế khó khăn đã nghỉ học xin lên làm việc với anh Lữ, nhờ vậy mà Huệ đỡ phải gặp cảnh bực mình, tuy nhiên sự vụng về của chàng đối với Ngọc Lan vẫn không thể nào biến cải được. Có lẽ trời gán cho chàng cái khuyết điểm đó để bù trừ bớt những ưu điểm ở những lĩnh vực khác mà chàng đã thụ hưởng chăng? Hôm nay cũng không ngoại lệ, vừa nghe Lan nói chàng đã lúng túng phân bua:

–  Ờ… Tôi không nghe bọn nhỏ đâu. Lan ăn cơm cùng chúng tôi chứ?

Rồi không chờ nàng trả lời, Huệ ra dấu cho Lộc đi ra sau bếp. Lan nhìn theo mỉm cười lẩm bẩm: “Con người trời đất không sợ lại nhát như thỏ, miệng cứ như là hến, chả bù với anh Lập, lúc nào cũng rôm rả nói cười. Mà sao thấy anh ấy lại có vẻ rất tự nhiên với Liên nhi thế nhỉ?”. Nghĩ thế nhưng nàng lại thấy trong lòng vui vui, có lẽ sự nhút nhát của một chàng trai kiêu hùng và thông minh nhất trong số những học trò của cha càng khiến nàng thích thú và mến hơn. Nàng theo sau hai chàng trai xuống bếp.

Liên nhi sau khi chải chuốt và thay bộ đồ mới của Ngọc Lan trông xinh hẳn lên. Ngọc Lan mỉm cười khen:

–  Chị Liên đẹp hơn em tưởng tượng nữa. Chị mặc bộ đồ của em đẹp quá.

Bà Giáo nói:

–  Con nói đúng. Hai đứa cùng tạng với nhau, tạm thời Liên nhi mặc đỡ của Ngọc Lan, mai mốt cô mua vải mới may cho vài bộ khác.

Liên nhi cảm động đến rưng rưng:

–  Cảm ơn cô và chị Lan. Con xin tạc dạ vậy.

Ngọc Lan cầm tay Liên nhi nói:

–  Chị đừng ngại. Thôi ăn cơm đi kẻo hai anh ấy đói chết mất.

Bữa cơm không chuẩn bị trước nhưng với Lộc và Liên nhi lại là bữa ăn rất ngon miệng. Sau bữa ăn, Huệ nói với bà Giáo:

–  Con và Lộc phải về ngay Kiên Thành, chắc anh Cả có việc cần đến con. Cảm ơn cô đã nhận lời cho Liên nhi ở lại.

Bà Giáo ôm ngực ho mấy tiếng, dứt cơn ho bà nói:

–  Hai đứa đi đi, đừng lo cho Liên nhi.

Huệ hỏi:

–  Cô bị ho à? Lâu chưa cô?

Bà Giáo đáp:

–  Cũng mới đây thôi, có lẽ mùa đông năm nay trời lạnh hơn mọi năm.

Lộc nói:

–  Cô nên cẩn thận, đừng để ho lâu ngày. Mẹ con…

Lộc nghĩ lại nên im lặng không nói tiếp. Bà Giáo mỉm cười:

–  Không sao đâu, hai đứa đừng lo. Người lớn tuổi nào chẳng ho khi trời lạnh.

Huệ và Lộc chào bà Giáo cùng hai cô gái xong cả hai ra ngựa phóng thẳng lên bến Trường Trầu. Họ qua đò về đến Tây Sơn Hội Quán đã thấy trong quán khách khứa rất đông, tiếng nói cười râm ran vọng ra tới bên ngoài. Thấy Huệ và Lộc bước vào, Nguyễn Nhạc đang ngồi cạnh Giáo Hiến ở đầu chiếc bàn lớn đã reo lên:

–  À, chú Út nhà tôi đã về tới. Huệ đưa người bạn mới vào đây, Nguyễn Văn Lộc ở Kỳ Sơn phải không?

Nói rồi đứng lên bước tới niềm nỡ đón Lộc vừa cùng Nguyễn Huệ vào đến nơi. Nhạc nắm tay Lộc nói:

–  Chia buồn cùng anh về việc bác gái mất. Tôi đã nhờ Năm Ngạn đưa anh Hai Phái và cô Hương lên An Khê, thu xếp chỗ ở cho họ rồi. Nay mai anh đi với chú Lữ nhà tôi lên đó để trang bị lại nhà cửa cho tươm tất hơn.

Lộc chắp tay nói:

–  Cảm ơn anh Cả và anh Huệ. Nguyễn Văn Lộc này suốt đời không quên.

Nhạc cười:

–  Đừng bận tâm những chuyện nhỏ nhặt ấy.

Huệ quay lại cúi đầu chào Giáo Hiến xong nói lớn:

–  Nguyễn Huệ xin chào các huynh trưởng. Ủa! Anh Quang Diệu, anh đã đến rồi à? Rất mừng được gặp lại anh ở đây.

Trần Quang Diệu vội đứng lên ôm quyền chào:

–  Mừng được gặp lại anh Huệ. Cũng nhờ lời giới thiệu của anh mà Diệu tôi hôm nay mới có cơ hội quen biết rất nhiều anh hùng hào kiệt.

Huệ nói:

–  Anh hùng vốn có sức hút với nhau, nếu tôi không giới thiệu cũng sẽ có lúc anh gặp những vị này. Chào chị Xuân, anh Văn Sở. Anh Dũng, giới thiệu cho em hai vị huynh trưởng này đi.

Võ Văn Dũng ngồi cạnh Trần Quang Diệu liền nói:

–  Đây là Phi Vân Báo Lý Văn Bưu ở Đại Khoang, bạn săn bắn của tôi và cô Xuân. Hôm cô Xuân và anh Diệu đánh chết cọp, chúng tôi có đi chung nên quen nhau từ đó. Còn con người suốt ngày ôm đống sách vở này là người em cùng họ của tôi, Võ Đình Tú bên Phú Phong.

Lý Văn Bưu vội đứng lên ôm quyền chào Huệ:

–  Nghe danh không bằng gặp mặt. Lý Văn Bưu này rất hân hạnh được biết anh em Tây Sơn Tam Kiệt.

Võ Đình Tú cũng đứng lên chào:

–  Hân hạnh.

Nguyễn Nhạc cười ha hả nói:

–  Khách sáo cả rồi. Huệ, chú giới thiệu người bạn mới này với anh em đi.

Huệ vịn vai Nguyễn Văn Lộc nói với mọi người:

–  Đây là Thần hành Nguyễn Văn Lộc ở Kỳ Sơn, tôi cũng mới quen năm sáu bữa nay.

Nhạc bảo:

–  Nói thêm về hai chữ Thần hành cho mọi người biết với được không?

Huệ nói lớn:

–  Chúng tôi gặp nhau ở Kỳ Sơn khi anh Lộc một mình đánh với ba, bốn chục tên lính vũ trang. Sau khi bọn lính bỏ chạy hết, tôi đến làm quen và mời Lộc ra Nước Mặn uống rượu. Tôi cưỡi con Ô Truy ra sức phóng nước đại, anh Lộc chạy bộ theo. Hai chúng tôi tới quán rượu cùng một lúc đấy.

Lý Văn Bưu đứng lên vỗ tay nói lớn:

–  Đúng là Thần hành, Bưu tôi mang tiếng là Phi Vân Báo nhưng chỉ nhờ ngồi trên lưng Thần mã mới có được sự mau lẹ mà thôi. Anh Lộc, Bưu tôi phải kính anh một ly mới được.

Nhạc vội nói:

–  Không được, không được.

Bưu chưng hửng, bưng ly rượu trên tay hỏi lớn:

–  Sao lại không được?

Nhạc đáp:

–  Phải để tất cả mọi người cùng kính vị Thần hành của chúng ta một ly với chứ, anh dành một mình anh sao được.

Nguyễn Văn Lộc từ nhỏ quen với kiếp sống tôi đòi, nay bỗng chốc đứng trước mặt bao nhiêu anh hùng hào kiệt, đường đường tướng mạo, lại nghe họ nói lời chúc tụng thì không khỏi bỡ ngỡ và bối rối đến đỏ mặt. Lộc vội ôm quyền nói:

–  Là anh Huệ nói thêm cho lâm li câu chuyện mà thôi. Các anh đừng làm tôi hổ thẹn.

Huệ nói:

–  Anh Lộc đừng từ chối nữa. Nào chúng ta uống với nhau một ly hội ngộ.

Tất cả mọi người nâng ly lên uống cạn, bầu không khí thật vui vẻ. Kéo Lộc đến ngồi cạnh Bảy Lữ và Trương Văn Đa, Huệ giới thiệu:

–  Đây là anh Bảy Lữ của tôi, sư huynh Trương Văn Đa là anh lớn của Ngọc Lan.

Rồi để cho ba người chào hỏi nhau, quay sang Trần Quang Diệu, Huệ nói:

–  Rất mừng khi gặp lại anh. Câu chuyện giết hổ của anh và chị Xuân thế nào kể nghe với?

Nghe nhắc đến Bùi Thị Xuân, Quang Diệu thoáng đỏ mặt, chàng lén liếc về phía nàng ngồi một cái, sau đó đem việc mình tìm vào Tây Sơn, giữa rừng gặp cọp kể lại cho Huệ nghe. Cuối cùng Diệu nói:

–  Anh Bưu mời chúng tôi ở lại trại huấn luyện ngựa của ảnh chơi một thời gian, sau đó anh Dũng lại mời chúng tôi sang Phú Phong ở lại nhà anh ấy và giới thiệu tôi với Đình Tú và Ngô Văn Sở. Cuối cùng họ mới đưa tôi sang đây gặp anh Cả Nhạc.

Huệ nghe kể thích thú nói:

–  Anh phải cảm ơn tôi đó.

Diệu nói:

–  Tất nhiên là phải cảm ơn anh rồi. Nếu không tôi đâu được quen biết với bao nhiêu tay hào kiệt đất Tây Sơn này.

Huệ cười:

–  Không phải cảm ơn vì chuyện đó.

Diệu ngơ ngác hỏi:

–  Vậy chứ về chuyện gì?

–  Về chuyện gặp người giải cứu anh đó.

Trong khi sắc mặt Quang Diệu đỏ lên thì Huệ làm ra vẻ mặt thất vọng nói vói sang Võ Văn Dũng:

–  Anh Dũng. Anh thật tệ!

Dũng ngạc nhiên hỏi:

–  Sao chú nói vậy?

Huệ làm mặt giận nói lớn:

–  Anh Diệu và chị Xuân cùng nhau giết cọp, giống như sống chết có nhau, vậy mà anh giữ anh Diệu ở nhà anh cả tháng, chỉ giới thiệu với anh Tú và anh Sở chứ không đưa người ta sang thăm người bạn đã vào sinh ra tử kia. Như vậy không tệ là gì?

Quang Diệu vội vã phân bua:

–  Ô không, không… Anh Dũng có đưa tôi sang thăm nhà … Cô…Xuân… đó chứ.

Huệ làm như thật nói:

–  Vậy sao? Tại anh không kể tới nên tôi tưởng… Làm tôi trách lầm anh Dũng.

Võ Văn Dũng và Lý Văn Bưu hiểu ý của Huệ nên cả hai cùng cười lớn, trong khi Trần Quang Diệu mặt đỏ hơn trái táo, lúng ta lúng túng trông rất buồn cười. Huệ nói xong liếc nhìn Bùi Thị Xuân đang ngồi gần Nguyễn Nhạc, vừa lúc Bùi Thị Xuân cũng nhìn về phía Huệ. Nàng quắc mắt lên hỏi lớn:

–  Anh Huệ đang nói xấu gì tôi mà mấy anh kia cười ầm lên cả vậy?

Huệ vội xua tay nói:

–  Không có gì đâu. Ai dám động tới bà Trưng Trắc. Chị đừng có tật rồi giật mình.

Mặt Bùi Thị Xuân bỗng đỏ lên. Lý Văn Bưu cười lớn hơn:

–  Bà Trưng Trắc đã gặp khắc tinh là Thi Sách rồi. Anh Huệ đừng sợ. Ha… ha…

Bùi Thị Xuân hôm nay đang mặc chiếc áo khoác da con cọp trắng vằn đen mà nàng đã giết cùng Trần Quang Diệu hôm trước, Lý Văn Bưu mới khâu xong đem tặng, trông nàng như một vị nữ chúa rừng xanh, vừa xinh đẹp vừa uy hùng. Nghe Bưu nói, nàng nhớ lại chuyện hôm trước nên trừng mắt nhìn Bưu:

–  Anh nói nữa tôi phóng chiếc đũa này vào miệng anh liền.

Bưu làm ra vẻ sợ hãi, đưa bàn tay hộ pháp che miệng mình lại. Nguyễn Nhạc lên tiếng can:

–  Thôi, thôi cho tôi xin. Nhạc tôi có mấy lời muốn nói với anh em.

Tất cả mọi người nghe nói đều yên lặng hướng mắt về phía Nguyễn Nhạc. Nhạc chờ cho mọi người yên lặng, cất tiếng chậm rãi nói:

–  Nhạc tôi tuy từ nhỏ đã phải ngược xuôi buôn bán mưu sinh nhưng lúc nào cũng trải lòng kết giao cùng bằng hữu. Hôm nay tại đây, ngoại trừ Thầy Giáo cùng một số thân hữu quen biết từ lâu, Nhạc tôi lại có cơ duyên hội ngộ với nhiều người bạn mới như anh Duyệt, anh Tú, anh Bưu, anh Lộc, ai nấy đều là tay hào kiệt một phương khiến Nhạc tôi cao hứng vô cùng. Trước tiên mời tất cả nâng ly uống mừng sức khỏe của Thầy Giáo, người đã đem lại trí tuệ và phong hóa cho cái vùng biên tái thô lậu này của chúng ta.

Mọi người đồng loạt đứng lên nâng ly chúc mừng thầy Giáo Hiến. Giáo Hiến đứng dậy uống cạn ly rượu của mình:

–  Cảm ơn ông Biện và các bạn trẻ. Xin cứ tự nhiên cho.

Nhạc lại cho người rót đầy các chung rượu, nói tiếp:

–  Nếu tất cả không chê tôi là một tên buôn trầu, Biện lại thì cùng nhau ta uống ly rượu này, từ nay xem nhau là bằng hữu chi giao.

Nói xong nâng ly rượu lên. Lý Văn Bưu tay bưng ly rượu đứng lên nói:

–  Không được, không được.

Nhạc ngạc nhiên hỏi:

–  Anh Bưu nói không được là sao?

Bưu cười nói:

–  Bưu tôi tuy mới gặp anh nhưng tiếng đồn Nguyễn Nhạc ở Tây Sơn trọng nghĩa khinh tài, nghĩa khí can vân chẳng thua gì Tống Giang ở Lương Sơn Bạc thuở xưa bên Tàu. Chỉ nội “vùng đất tình thương” trên  An Khê của anh thôi đã đủ cho Bưu tôi cúi đầu bái phục. Ly rượu này Bưu tôi xin được uống cùng với anh nhưng không phải để kết tình bằng hữu mà để kính anh như một người anh khả kính, một bậc trưởng thượng. Chuyện bằng hữu chi giao chỉ để cho đám bạn trẻ chúng tôi nói tới mà thôi. Các bạn trẻ chúng ta nghe tôi nói có đúng không?

Võ Văn Dũng đứng lên nói:

–  Lời nói của anh bạn chăn ngựa hôm nay thật không sai một mảy may. Nào, anh em chúng ta nâng ly uống mừng anh Cả Nhạc.

Nguyễn Nhạc cười ha hả nói:

–  Vậy là các bạn chê tôi già rồi phải không?

Bùi Thị Xuân lên tiếng:

–  Anh Nhạc phải nhận ly rượu này để còn có người cầm chịch, nếu không với bao nhiêu ông tướng nhà trời này, cái đất Tây Sơn của chúng ta sẽ bị nổ tung lên đấy.

Lý Văn Bưu cười lớn nói:

–  Cô Xuân nói hay lắm. Mừng anh Cả Nhạc. Mời!

Tất cả đều cạn ly rượu của mình. Nhạc uống xong ly rượu ngồi xuống vui vẻ nói:

–  Các anh em đã nói vậy từ nay Nhạc tôi xin nhận lấy vai trò anh cả. Nhơn hỷ sự này, Cả Nhạc tôi có mấy lời tâm huyết muốn chia sẻ với anh em.

Võ Văn Dũng nói:

–  Chúng tôi đang lắng nghe.

Giọng nói của Nhạc chậm rãi nhưng có mãnh lực thu hút sự chú ý của người nghe:

–  Vùng đất tình thương ở An Khê mà lúc nãy anh Bưu vừa nhắc tới, đó là tấm lòng cũng như sự cố gắng tối đa của ba anh em chúng tôi để, trong muôn một, cứu lấy sanh mạng của một sốt ít bà con nghèo khó đang cận kề cái chết. Nhưng một cây làm chẳng nên non, thêm vào đó số bà con nghèo đói ngày một nhiều, những kẻ bị triều đình bạc đãi ngày một đông, mà năng lực của chúng tôi thì đã tới hạn. Nếu anh em chúng ta ở đây đồng tâm hiệp lực góp thêm nhiều bàn tay vào thì vùng đất tình thương nhỏ bé kia sẽ lớn hơn lên, số bà con sắp chết sẽ được cứu sống nhiều hơn. Anh em thấy thế nào?

Lý Văn Bưu sốt sắng nói:

–  Bưu tôi sẵn sàng, anh Cả có cần gì cứ sai bảo, góp của, góp người, tôi nhất quyết không cau mày.

Võ Văn Dũng tiếp lời:

–  Dũng tôi sẽ ở ngay phía sau anh Bưu.

Võ Đình Tú nói:

–  Cả tôi nữa.

Nguyễn Văn Lộc hăng hái lên tiếng ứng theo:

–  Lộc tôi xuất thân chăn trâu, đốn củi không có gì ngoài hai bàn tay thịt này nhưng cũng xin đứng sau lưng anh Tú.

Lý Văn Bưu cười nói:

–  Anh Lộc còn có cặp giò thần hành nữa chứ.

Tất cả mọi người cười ồ lên. Ngô Văn Sở tiếp lời:

–  Tôi cũng theo sau anh Lộc.

Trần Quang Diệu ứng tiếng:

–  Tôi theo sau anh Sở.

Bùi Thị Xuân nói:

–  Nếu không chê tôi là phận nữ nhi, tôi cũng xin được đứng sau anh Diệu.

Nói xong thấy bị hớ, mặt nàng đỏ ửng lên. Lý Văn Bưu không bỏ qua cơ hội nói ngay:

–  Tất nhiên cô Xuân phải đứng ngay sát sau lưng anh Diệu rồi.

Mọi người lại được dịp cười ầm lên, trong khi đó gương mặt cả hai người Trần Quang Diệu và Bùi Thị Xuân đỏ phừng lên vì thẹn. Bùi Thị Xuân chụp chiếc đũa trên bàn phóng vút vào miệng Lý Văn Bưu. Bưu nói xong biết sẽ có chuyện nên đã đưa sẵn bàn tay che miệng, chiếc đũa vừa lao vút đến, chàng đã nhanh chóng dùng hai ngón tay kẹp lại rổi giả bộ ngã ngửa ra “a!” một tiếng giống như bị thương nặng lắm. Bùi Thị Xuân lườm mắt lớn tiếng:

–  Con người cọp vật không chết như anh mà làm bộ đau, ai tin mà giở trò.

Bưu bật dậy, ném chiếc đũa xuống bàn, cười ha hả khiến mọi người phải cười theo. Khi tiếng cười vừa lắng, Võ Đình Tú bỗng lên tiếng:

–  Tôi tin anh Cả không chỉ dùng những bàn tay chúng tôi để phát rừng phát rẫy cho rộng thêm ra phụ bà con phải không?

Nhạc đáp:

–  Hỏi hay lắm. Trước tiên cho tôi cảm ơn sự ủng hộ của tất cả anh em. Câu trả lời cho anh Tú là, nếu chỉ để phá thêm rừng, cuốc thêm rẫy thì những bàn tay của anh em đây làm sao bằng bàn tay của những người nông dân chuyên cày sâu cuốc bẫm.

Văn Bưu hỏi:

–  Vậy thì sẽ dùng vào việc gì?

–  Anh em đều là hào kiệt một phương, bàn tay hào kiệt phải được dùng vào những việc to lớn hơn, nếu không, sao xứng với hai tiếng anh hùng.

Bưu lại hỏi:

–  Việc to lớn là việc gì?

Nhạc nghiêm sắc mặt đảo mắt nhìn mọi người, trịnh trọng nói:

–  Nếu tôi nói, tôi định nhờ bàn tay của anh em để trói tay bọn ô lại, cắt cổ những tên cường thần, xô ngã những tên vua hôn, chúa ám, các bạn có dám đứng lên cùng tôi không?

Tất cả gần như đồng thanh lên tiếng:

–  Sao lại không dám.

Nhạc lớn tiếng hơn:

–  Nếu tôi nói, tôi muốn nhờ bàn tay của anh em để mở rộng vùng đất tình thương không chỉ ở Tây Sơn này mà phải làm cho nó rộng khắp cả tỉnh nhà, để bà con trong tỉnh được cơm no áo ấm, không còn cảnh quan lại bức hiếp dân lành. Các bạn có dám đứng lên đi tới cùng tôi không?

Tiếng nói của Nguyễn Nhạc sang sảng như chuông đồng, ánh mắt ông ta ngời lên một tia sáng của niềm tự tin mãnh liệt. Khuôn mặt hơi vuông với hàm râu đen cứng toát lên vẻ uy nghi, cương liệt đã tạo nên một mãnh lực vô hình kích thích bầu nhiệt huyết của người nghe. Lý Văn Bưu hào khí bốc cao, vỗ tay đứng lên cười lớn:

–  Ha…ha… anh Cả Nhạc quả nhiên là anh Cả Nhạc. Nói nghe rất đã. Phi Vân Báo tôi xin góp cả hai tay và giục ngựa đi đầu.

Nguyễn Văn Lộc đứng lên, Trần Quang Diệu tiếp liền theo, rồi tất cả đứng lên, trên gương mặt mọi người đều biểu lộ một sự cương quyết. Giáo Hiến ngồi quan sát diễn tiến đang xảy ra quanh bàn tiệc, trong bụng nghĩ thầm: “Nguyễn Nhạc quả có tài lãnh đạo. Uy thế và sự khôn khéo của ông ta đã nhiếp phục được những người đối mặt. Khí thế này tất làm nên đại sự”. Võ Đình Tú nói:

–  Chúng tôi nguyện sát cánh bên anh để thực hiện chí nguyện anh vừa nói. Xin anh Cả nói rõ hơn về phương lược hành động để anh em hiểu rõ hơn.

Nguyễn Nhạc hớn hở:

–  Cảm ơn sự ủng hộ của anh em một lần nữa. Mời tất cả ngồi xuống. Hôm nay là lần gặp mặt đầu tiên, tôi nêu ra vấn đề như thế chỉ để cùng nhau hiểu rõ mục đích chung mà chúng ta phải đến, chí hướng chúng ta phải theo. Về phương lược, cũng như vấn đề hoạch định chi tiết con đường đến đích thế nào hãy để mai mốt nhờ Thầy Giáo đây chỉ vẽ cho rồi chúng ta bàn thảo kỹ hơn. Hôm nay anh em cứ uống một bữa với nhau cho thỏa tình sơ ngộ trước đã. Nào, cùng nhau cạn ly này mừng cho chí hướng của chúng ta.

Nhạc nói xong nâng ly mời Giáo Hiến cùng anh em rồi ngửa cổ uống cạn. Mọi người cũng uống cạn ly rượu của mình, bầu không khí trở nên vui vẻ, thân tình, mọi người râm ran vừa uống rượu vừa bộc lộ tâm tình.

Đến khuya, lúc tiễn cha con Giáo Hiến và Bùi Thị Xuân ra bến sông, Nguyễn Nhạc nói:

–  Thầy về nghỉ, sáng mai ba anh em tôi sẽ ghé xuống thăm thầy để nghe về chữ “thời”.

Giáo Hiến vui vẻ:

–  Ba anh cứ xuống. Tôi biết gì sẽ nói nấy.

…………….

Xem tiếp vào thứ bảy 17-10-2015.

NTSH – Hồi thứ hai (tt)

Kỳ 177:

…………..

Cả hai trở lại lạy ngôi mộ lần nữa rồi giục ngựa qua đèo Màn Lăng để xuống Phù Ly. Cuối con phố chính gần huyện thành là một lò rèn khá lớn, cả hai dừng ngựa trước cửa, nhảy xuống bước vào. Người đàn ông thân vóc to lớn, lực lưỡng, ở trần trùi trụi đang cắm cúi trui thanh sắt trong lò, nghe có tiếng ngựa dừng trước cửa liền quay lại. Nhận ra người mới đến, ông vội quăng thanh sắt đang đỏ hồng xuống đất chạy ra, hai bàn tay to lớn, xam xám như thép nguội ôm chầm lấy vai Tín Nhi, giọng ồ ồ mừng rỡ:

–  Tín Nhi. Nửa năm nay cháu đi đâu sao không thấy ghé thăm chú. Khỏe chứ? Mọi việc ra sao? Vào đây. Bạn mới à?

Tín Nhi cười đáp nhỏ:

–  Dạ, nửa năm nay cháu lo đi lùng tên phản bội nên không ghé thăm chú được. Đây là Nguyễn Huệ, bạn của cháu.

Huệ chào:

–  Cháu xin chào chú Thiết Thủ. Tín Nhi không hết lời khen ngợi chú về cái tài biến sắt vụn thành đao quý, kiếm báu, nên cháu muốn ghé thăm cho biết mặt cao nhân.

Thiết Thủ cười hề hề, giọng diễu cợt:

–  Tài nghệ gì đâu, cao nhân con mẹ gì nữa. Tan nát hết rồi. Giờ chỉ cần kiếm đủ hai bữa cơm rau muối và một hũ rượu đế cho qua ngày tháng là vui rồi.

Tín Nhi hỏi:

–  Mấy anh em khác đâu rồi chú?

–  Thằng Ba Lực qua mở một lò bên Bồng Sơn, thằng Tư Lửa thì dô mở một lò ở phủ thành gần chợ rượu Phú Đa. Nó là thằng hám rượu mà, nó nói mở gần chợ rượu, ngắm mấy cô hàng rượu, hít mùi rượu cho đỡ thèm. Hề…hề… Còn thằng Năm Sức thì ở đây phụ tao, nó vừa đi đâu đó không biết.

–  Lúc nãy ngang qua tiệm rượu đầu phố cháu có mua một vò lớn Bàu Đá hạng nhất và ba con gà nướng. Chú cháu mình làm một bữa cho ấm cái ngày chớm Đông nghen chú.

Thiết Thủ cười hề hề nói:

–  Thằng nhỏ mày lúc nào cũng biết tâm ý người khác. Hề… hề… Bây giờ mà trời có sập tao cũng xin ổng ráng chờ tao uống hết hũ Bàu Đá và xực hết mấy con gà nướng đã rồi sập sau. Hề…hề…

Rồi đi nhanh vào trong mang chén bát ly muỗng ra chiếc bàn gỗ để ở chái nhà bên phải. Tín Nhi rót rượu ra ba cái chén mời:

–  Mời chú. Chẳng biết uống mừng cho cái gì đây. Cho sức khỏe của chú vậy. Hì…hì…

–  Tao thì lúc nào cũng khỏe như voi đâu cần uống mừng. Mừng gặp người bạn trẻ này đi.

Huệ nói:

–  Cảm ơn chú. Mừng được biết chú.

Rượu hết vài tuần, Thiết Thủ hỏi:

–  Không có tin tức gì của Đại ca và Quân sư sao? Cả tên phản bội nữa?

Tín Nhi buồn bã đáp:

–  Không. Không một ai biết cả. Thật lạ kỳ.

Thiết Thủ thở dài, hậm hực:

–  Trời cao không có mắt. Người tốt, kẻ có lương tâm thì chết oan chết uổng, chết tức chết tối, còn những thằng khốn nạn, vô lương lại sống phè phè trên nhung lụa, trên sự đau khổ của đồng bào. Thật giận đến bể hông, trào máu. Lão tặc thiên mù mẹ nó hai con mắt rồi. Cả cái luật nhân quả của ông Phật nữa, sai be sai bét, sai tới phát ghét.

Tín Nhi nói giọng tự tin:

–  Chú yên tâm. Cháu thề sẽ mang trái tim tên phản bội về đây để cùng chú và anh em đem tế trước mồ Truông Mây. À! Chú nhắc đến luật nhân quả cháu mới nhớ.

–  Nhớ gì?

–  Lúc trước cháu cũng nghĩ như chú vậy, nhưng hôm kia tình cờ gặp một vị sư ông trong một động đá ở Quảng Ngãi, cháu hỏi vì sao người tốt như Lâm ca và Lía đại ca lại gặp kết quả bi thảm như thế, ngài giảng giải sự huyền vi trong luật nhân quả ở đời, cháu mới hiểu ra.

Huệ hỏi:

–  Huyền vi thế nào?

Tín Nhi đáp:

–  Sư ông nói, tao ngộ hôm nay của con người phần lớn do nghiệp dĩ người đó mang theo từ kiếp trước. Những đau khổ và bất hạnh đời này đều là kết quả của ác nghiệp từ kiếp trước họ đã tạo ra, nay phải trả.

Thiết Thủ uống hết bát rượu đặt mạnh xuống bàn lớn tiếng cãi:

– Sai bét, sai bét. Người tốt như Đại ca và Quân sư thì kiếp trước không thể nào là người xấu được. Ông sư đó ở đâu, tao sẽ tới đó nói cho ổng nghe. Sai bét.

Tín Nhi mỉm cười:

–  Trong một hang núi ở Mộ Hoa, Quảng Ngãi. Chú chưa tin thì đến đó gặp sư. Một người tu hành, đạo hạnh như sư ông mà còn gặp đại họa thì Lía đại ca và Lâm ca đã là gì.

Huệ hỏi:

–  Sư ông đó gặp đại họa gì?

–  Sư chính là Sư tổ của Lía đại ca. Hôm trước ngày cả nhà Lía đại ca bị thảm sát, sư đã bị bọn Trương Phúc Loan hạ độc thủ, may nhờ nội công cao cường nên đã vận công ép độc xuống chân, tuy thoát chết nhưng cả nửa thân dưới đã bị hư thúi, không di chuyển được. Vì thế sư chỉ ăn rau cỏ quanh động để sống.

–  Thật ư? Thiết Thủ trợn mắt hỏi. Sống như thế sao bằng chết?

–  Sư nói tai họa đời này là món nợ mà sư đã vay lúc trẻ nên phải sống đọa đày như thế để trả cho hết, hầu giảm bớt nghiệp chướng cho kiếp sau.

Huệ hỏi:

–  Lúc trẻ ông ấy vay nợ gì?

–  Nợ tình. Thời trẻ, sư nổi danh là Ngũ Tuyệt Thư Sinh, cầm kỳ thi họa kiếm tuyệt. Vì một chút bất cẩn ông đã khiến vợ con bỏ đi, suốt đời không tìm lại được. Lúc đó ta mới biết con ông ấy chính là chú Lê Trung và Ngọc Lan Hương, mẹ của chị Cao Tiểu Hồng.

Thiết Thủ hỏi:

–  Như vậy theo cháu thì Đại ca và Quân sư, kiếp trước là người xấu à?

–  Cháu không biết. Theo sư ông giảng dạy thì người tốt gặp tai họa trong kiếp này cũng có thể là để tạo thiện nghiệp cho kiếp sau. Những người như Đại ca và Lâm ca kiếp sau sẽ gặp thiện duyên, cuộc sống an lành.

Huệ hỏi, giọng có chút châm biếm:

–  Sư ông có khuyên ngươi đừng trả thù cho Truông Mây không?

Tín Nhi mỉm cười đáp:

–  Ta có hỏi sư ông điều này, sư bảo kẻ gieo gió, sẽ gặt bão. Nếu ta không tìm giết hắn, kiếp này hắn cũng sẽ phải trả vì món nợ hắn vay quá lớn.

Huệ mỉm cười:

–  Nhưng ngươi muốn chính tay giết hắn hơn là để cho kẻ khác đúng không?

Mắt Tín Nhi long lên ánh căm hờn:

–  Đúng vậy. Không một ai có thể khuyên can hay ngăn cản ta làm việc này.

Huệ gật đầu:

–  Ta đọc được sự quyết tâm này khi mới gặp mặt ngươi.

Thiết Thủ uống một hơi cạn một chén rượu, thở dài:

–  Hà!! Dù gì thì cũng thật đáng thương và thật đáng tiếc!

Tín Nhi hỏi:

–  Đáng tiếc điều gì chú?

–  Từ khi thất thủ, rút tỉa kinh nghiệm máu xương đó, chú đã cố nặn óc tìm ra một thứ vũ khí sao cho thuận tiện trên mọi chiến trường, ít có thể thắng nhiều, đánh xa, đánh gần, công thành, phá lũy, trên bộ dưới nước đều được, nhưng nghĩ lại có tìm ra thì giờ cũng vô dụng nên lại bỏ đi. Nghĩ tiếc mãi.

Ánh mắt Nguyễn Huệ chợt ngời lên, chàng nhìn Tín Nhi. Tín Nhi hiểu ý bèn rót một chén rượu đầy đưa cho Thiết Thủ hỏi:

–  Nếu có chỗ dụng, chú còn đủ nhiệt huyết như ngày xưa để chế tạo binh khí nữa không?

Thiết Thủ uống một hơi cạn chén rượu, khà một tiếng xòe hai bàn tay màu thép xám ra đáp:

–  Chỗ dụng gì? Ai dụng? Nếu dụng vì chính nghĩa, vì quê hương, vì bá tánh thiên hạ thì dẫu còng lưng ta cũng còn có đủ nhiệt huyết như thường.

Tín Nhi cười hì hì nói:

–  Vậy thì chú cứ tiếp tục suy nghĩ để sáng chế ra món vũ khí lợi hại đó đi. Không lâu nữa, cháu sẽ đến tìm chú và nói rõ ai dụng và dụng cho cái gì. Chú cứ tin cháu đi.

–  Cháu thì chú tin chắc rồi, nhưng…

–  Còn nhưng với nhị gì nữa. Chú hứa với cháu đi. Đây, ly rượu này chúng ta uống cho lời hứa đó nhé.

Nói xong Tín Nhi rót rượu ra ba chén. Thiết Thủ cười hề hề nói:

–  Được, thằng nhỏ mày tính láu vẫn bám chặt hai cái môi. Chú hứa. Ba tháng sau cháu trở lại đây.

Tín Nhi cười:

–  Sang xuân cháu sẽ trở lại. À, chú có biết những anh em khác trong tổ nay ở đâu không?

–  Cháu muốn gọi họ trở lại à?

–  Dạ. Chú tập hợp họ lại được không?

–  Được. Khi cháu trở lại sẽ có tin. Tụi cháu định làm gì? Về lại Truông Mây à?

Tín Nhi cười:

–  Dạ. Nhưng không phải Truông Mây mà là Tây Sơn. An Khê!

Thiết Thủ vỗ đét vào đùi thật mạnh nhưng lại nhỏ tiếng:

–  Thì ra! Hèn chi lúc này trong dân chúng cứ rì rầm câu sấm: “Tây khởi nghĩa, Bắc thu công”, và tiếng đồn Tây Sơn tụ nghĩa, kêu gọi anh hào và bà con nghèo khó về trên đó nương thân. Cháu Huệ đây là…

Huệ vội đáp:

–  Cháu ở trên đó. Mời chú ghé lên chơi một chuyến cho biết rừng núi Tây Nguyên.

–  Được. Khi nào Tín Nhi trở lại, chú sẽ lên thăm. Để chú tặng hai đứa cái này. Đáng giá liên thành đó.

Dứt tiếng ông đứng dậy vào trong lấy ra hai thanh trủy thủ, bao bằng da trâu, đưa cho hai người, giọng trịnh trọng:

–  Năm ngoái có một cú sét rất lớn đánh xuống vùng núi Lạc Phụng, tao thấy lạ tìm tới nơi xem, lấy được một thỏi sắt đen. Tao mừng quá liền mang về nhà bỏ ra ba tháng trời rèn, luyện, còn phải dùng máu của thằng Năm Sức tưới vào  mới ra được hai thanh trủy thủ này. Hai đứa thử xem.

Hai chàng trai rút thanh trủy thủ ra, nước thép đen ngòm, bóng lẫy. Tín Nhi cầm con dao cắt thịt gà trên bàn, dùng thanh trủy thủ chém nhẹ một phát, con dao đứt tiện như cộng rau muống. Cả hai trợn mắt reo lên:

–  Bén thật. Kiếm báu. Chú đúng là cao nhân trong nghề rèn kiếm thời nay rồi.

Thiết Thủ cười hề hề:

–  Cao nhân con mẹ gì. Đừng có nịnh tao. Hai đứa dắt vào ống giày phòng khi hữu sự.

Nguyễn Huệ nói:

–  Ngày xưa danh tướng Cao Lỗ đã rèn ra thanh Ô Long đao và Thanh Long kiếm, nay chú Hồ Thiết Thủ rèn hai thanh đoản kiếm, chú đặt cho chúng một cái tên cho oai chứ chú.

Thiết Thủ nói:

–  Tao chỉ biết thổi lò đập búa chứ chữ nghĩa gì mà đặt tên, cháu coi bộ thông tuệ, muốn đặt gì thì cứ đặt đại đi.

–  Vậy cháu gọi chúng là Thiết Phụng Hoàng song kiếm nghe chú.

Thiết Thủ vỗ hai bàn tay thép vào nhau đánh bốp một tiếng cười ha hả nói:

–  Hay! Bây giờ hai đứa, mỗi đứa là một con Phụng Hoàng, ráng bay cao lên nhé.

Ba người uống sạch vò rượu mới chia tay. Ra đến quan lộ, Nguyễn Huệ nhìn Tín Nhi, giọng trịnh trọng:

–  Mình chia tay. Mong ngươi sớm trả được thù cho anh em Truông Mây. Tây Sơn mở cửa chờ ngươi và những anh em thám báo của ngươi. Ta chờ ngươi.

Tín Nhi đánh tay với Nguyễn Huệ giọng trịnh trọng không kém:

–  Ta nhất định sẽ lên Tây Sơn tìm ngươi.

*

Chia tay nhau, Tín Nhi với con Huyết Câu dong rủi vào Nam, Nguyễn Huệ cùng con Ô Truy lên đường ra Quảng Nam, xuống cửa Hàn tìm Tiểu Phi. Phân đà này của bang Hành Khất chính là trại mồ côi của Đinh Hồng Liệt năm xưa giao lại. Sau hai mươi năm, khu trại nay đã trở thành một làng nhỏ với gần năm trăm nóc nhà tranh, nơi dung nạp những người ăn mày lang bạt. Huệ tìm đến gian nhà chính, là nơi bang Hành Khất dùng làm trụ sở phân đà. Tiểu Phi nghe anh em báo có người tìm vội ra đón, gặp lại Nguyễn Huệ, chàng mừng rỡ:

–  A, chú Huệ. Ngọn gió lành nào thổi chú ra đây tìm tôi vậy? Xem nào, mới đây mà đã trở thành một chàng thanh niên đường đường lẫm liệt thế này rồi.

Huệ cười nói:

–  Chào anh Tiểu Phi. Tưởng anh trở thành bang chủ đã quên thằng nhỏ này rồi chứ?

Tiểu Phi ôm vai Huệ nói:

–  Chú tưởng tôi là loại người như vậy sao? Ra đây có việc gì không?

–  Em chỉ nói đùa cho vui thôi. Ra thăm anh. Cũng có chút chuyện muốn bàn. Sao hôm đám tang ông nội anh không vào?

–  Việc này làm tôi bức rức mãi, nhưng lúc đó sư phụ tôi đang bệnh rất nặng. Giờ thì cả hai đã về cõi Phật cả rồi. Văn Tuyết đang ở chỗ chú hã?

–  Dạ. Từ sau khi ảnh về dự đám tang ông nội. Giờ ảnh đang lo cai quản bọn bạt mạng trên Tây Sơn thượng.

–  Vậy là đúng nghề của hắn rồi. Còn cô bé vui tính Thi Lan?

–  Cô ấy qua Xuân Huề theo chị Bùi Thị Xuân học làm Bà Trưng, Bà Triệu rồi.

Tiểu Phi cười:

–  Chú lúc nào cũng có cách chọc thiên hạ. Anh Nhạc và chú Lữ khỏe chứ? Vào đây, anh em ta nói chuyện.

Huệ theo Tiểu Phi vào bên trong. Gian nhà bày biện rất đơn sơ. Tiểu Phi hỏi:

– Chú có việc gì muốn bàn?

Huệ nói:

–  Trước hết em muốn hỏi anh, chí hướng của anh lúc trước giống với ông nội và thầy em hơn là sư bá phải không?

–  Đúng vậy. Gì nữa?

–  Nay anh là bang chủ, anh sẽ đưa hoạt động của bang theo hướng cũ của sư bá hay theo chí hướng của riêng anh?

Tiểu Phi nhìn Huệ mỉm cười:

–  Chú muốn bang Hành Khất về giúp cho Tây Sơn phải không?

–  Dạ. Anh nghĩ sao?

Tiểu Phi trầm ngâm:

–  Sư phụ cho đến lúc nhắm mắt vẫn căn dặn tôi cố giúp cho phủ Chúa quang phục lại thời hưng thịnh cũ. Chí hướng của tôi có khác sư phụ, nhưng phận làm đệ tử nhận lấy lời ủy thác của thầy khiến tôi khó xử vô cùng. Chú vẫn là người lanh trí nhất, chú nghĩ tôi nên làm thế nào cho phải?

–  Em thông cảm với sự khó xử của anh. Nếu anh muốn vẹn cả hai đàng, chúng ta có thể chọn cách trung hòa.

–  Trung hòa là thế nào?

–  Là bang Hành Khất không giúp Tây Sơn bằng nhân lực, nhân mạng, chỉ kín đáo giúp bằng trí lực mà thôi.

–  Có nghĩa là chúng tôi sẽ làm tai mắt cho chú?

Huệ cười:

–  Làm tai mắt cho Tây Sơn chứ không phải em.

Tiểu Phi cũng phì cười:

–  Ừ, thì cho Tây Sơn, đúng không?

–  Đúng vậy. Với nhiệm vụ đó, bang Hành Khất cũng đã đóng góp một phần to lớn trong cuộc đấu tranh cứu đồng bào thoát khỏi cảnh đói khổ này rồi.

–  Được. Tôi và anh em rất sẵn sàng. Để tôi chỉ chú cách huấn luyện phi vũ truyền thư. Chúng ta liên lạc nhau bằng cách ấy, rất nhanh và rất tiện.

Huệ mừng rỡ nói:

–  Tốt không còn gì bằng. Em nhất định sẽ học cho được. Anh có tổ truyền tin này chứ?

–  Có chứ. Khá đông.

–  Anh gởi lên Tây Sơn cho em một số anh em được không?

–  Cần gì. Để tôi bảo Tín Nhi lo cho vụ này. Bọn thám báo của nó, ai cũng rành về chuyện này. Chú biết Tín Nhi chứ?

–  Bọn em mới chia tay nhau. Hắn đang lo lùng sục cho ra tên Chú Nhẫn nên chưa giúp em được lúc này.

–  Hắn là một con người rất mực chí tình. Vậy để tôi đưa một số anh em trong ban truyền tin lên Tây Sơn trước cũng được.

–  Anh cứ bảo họ lên Tây Sơn thượng gặp anh Tuyết. Việc tổ chức huấn luyện để anh ấy lo.

–  Còn gì nữa không?

–  Còn một việc nữa. Nhờ anh cho anh em trong bang bí mật rao truyền rộng rãi câu sấm ngôn “Tây khởi nghĩa, Bắc thu công” và hô hào bà con lên Tây Sơn tụ nghĩa.

–   Được. Còn gì nữa không? Anh em lâu ngày gặp nhau cũng phải uống vài bầu cho đáng mặt nam nhi chi chí chứ?

Huệ nắm hai tay lại cười nói:

–  Tiểu đệ sẵn sàng bồi tiếp đại huynh.

Cả hai cười xòa bày cuộc rượu.

*

Rời phân đà Cửa Hàn, Nguyễn Huệ lại giục ngựa đăng trình vào Quy Nhơn. Trời đã sang đông, mưa lất phất bay, gió bấc se sắt lạnh. Hình ảnh những xóm thôn xơ xác, những thân người ăn mày còm cõi, co ro trên những hè phố, những xác người chết đói rải rác dọc hai bên quan lộ trông thê thiết làm sao! Qua đò Trà Khúc, phía xa xa, thấp thoáng sau làn mưa mỏng và khói sóng biển Đông, hình ảnh Cổ Lũy Cô Thôn trong buổi chiều đông càng thêm cô tịch đìu hiu. Tâm tình chàng trai trẻ chợt chùng xuống bởi một khối ưu sầu và rồi bầu nhiệt huyết như được đun sôi lên. Chàng quất mạnh cây roi trong gió, con Ô Truy cất cao bốn vó phóng như bay dưới cơn mưa, ngốn mấy trăm dặm đường dài.

Kỳ Sơn là dãy núi có hai ngọn thuộc xã Phước Sơn, huyện Tuy Viễn, nằm phía đông thành Đồ Bàn như một lá chắn thiên nhiên bảo vệ mặt đông thành. Núi tuy không cao nhưng địa thế hiểm trở rất tiện lợi cho việc dụng binh. Từ thời Chiêm Thành đến các đời chúa Nguyễn đều có đặt trọng binh nơi đây tiếp trợ cho cửa biển Quy Nhơn.

Ngọn phía nam dãy núi là Kỳ Sơn, ngọn phía bắc đến đèo Cao gọi là Phụng Sơn. Bao bọc chung quanh núi là những cánh đồng lúa bạt ngàn, dân cư trù phú. Xa xa ở phía Đông, hòn Xương Cá lởm chởm đá dăm nằm trơ trọi giữa cánh đồng trống trải, nơi mà thuở khai thiên ông Khổng lồ đã bắt hết cá trong đầm Hải Hạc ăn xong bỏ xương lại thành núi.

Nguyễn Huệ tìm đến sơn trang của Kỳ Sơn Tiều Hiệp Võ Thăng vào một buổi chiều trọng đông, lạnh buốt. Vừa dừng ngựa trước cổng sơn trang chàng đã nghe có tiếng cười nói từ một gian nhà trúc mé đông vọng lại, sau đó có tiếng người ngâm thơ:

Đông ba diễm diễm thu phong vãng

Đảo ảnh tây tà cô nguyệt quang

Hào khí vô thời quân tử hận

Lâm tuyền bán túy độc ca xang

Và những tiếng vỗ tay vang lên hòa với tiếng cười. Nguyễn Huệ nghe ý thơ biết ngay người ngâm là tay hào kiệt đang ẩn nhẫn chờ thời thì trong bụng mừng thầm. Chàng ngồi trên ngựa  lớn tiếng ngâm:

…Lỗ Thánh khấp lân tri mệnh hỷ

Sở Cuồng ca phượng thức thần hô

Tuy nhiên dụng xả phi do ngã

Tự thị hành tàng khước tại ngô[1].

Dịch:

…Khổng Tử khóc con lân vì đã biết mệnh trời

Sở Cuồng hát về chim phượng là thức thời chăng

Tuy nhiên việc dùng hay không đâu phải do ta

Từ đây ra giúp đời hay ở ẩn mới thật tại ta.

Tiếng ngâm vừa dứt đã có tiếng người từ trong gian nhà trúc vang lên:

–  Giữa lúc lạnh giá thế này không ngờ nơi núi rừng hẻo lánh lại có bậc kỳ sĩ giá lâm. Thật hân hạnh lắm thay.

Rồi một người đàn ông tuổi dưới ba mươi từ trong nhà bước ra. Huệ nhận ra chính là Kỳ Sơn Tiều Hiệp Võ Thăng, chàng vội nhảy xuống đất chắp tay xá chào:

–  Đường đột xông vào làm mất nhã hứng của những bậc tao nhân, thật có lỗi vô cùng.

Võ Thăng trong dạ đinh ninh người ghé thăm sẽ là một văn nhân tao khách không ngờ lại là một chàng hiệp sĩ rất trẻ, áo bạc phong trần nên thoáng giật mình:

–  Không sao, không sao. Quý khách quang lâm là điều vinh hạnh cho tệ xá. Xin mời vào trong uống một chung rượu cho ấm dạ trước đã.

Nguyễn Huệ ôm quyền nói:

–  Đã vậy tiểu đệ mạn phép quấy rầy.

Võ Thăng đưa chàng vào bên trong, bốn người đàn ông đang có mặt nơi bàn rượu vội đứng lên chào. Cả bốn người tuổi trạc trên dưới ba mươi, người trẻ nhất chính là Phan Sinh, người đi cùng với Trần Lâm ở anh hùng đại hội dạo nọ. Huệ lên tiếng trước:

–  Tiểu đệ Nguyễn Huệ ở Tây Sơn tình cờ ngang qua đây nghe tiếng ngâm thơ biết chư huynh trưởng là bậc hào kiệt chưa gặp thời nên đường đột ghé vào mong được diện kiến. Xin thứ cho.

Võ Thăng rót rượu ra các chung mời mọi người:

–  Xin mời tất cả một chung sơ ngộ. Tiểu hiệp sĩ tuổi còn trẻ mà khí phái bất phàm, Võ Thăng tôi rất lấy làm hân hạnh được kết giao, sao dám nói lời trách cứ. Để tôi giới thiệu, vị này là Diệu thủ Phan Sinh ở Phương Phi, người đã cao ngâm bài thơ lúc nãy, còn ba người này là anh họ của tôi, Võ Thục, Võ Chất ở Nhạn Tháp và Võ Triệu ở Phước Hòa.

Nguyễn Huệ chắp tay xá dài:

–  Rất hân hạnh được biết Võ gia tứ huynh đệ. Phan huynh thì tiểu đệ đã gặp qua ở đảo Phương Mai trong kỳ anh hùng đại hội.

Phan Sinh như sực nhớ ra liền reo lên:

–  Anh có phải là chàng thiếu niên đi cùng Phong Điền Tiểu Tử Tiểu Phi và Thiết Tý Trần Kim Hùng lão võ sư không?

Huệ mỉm cười đáp:

–  Lúc đó đệ còn nhỏ xíu mà Phan huynh vẫn còn nhớ, thật là hi hữu.

Võ Thăng hỏi:

–  Vậy ra tiểu huynh đệ có tham dự đại hội anh hùng dạo nọ?

Huệ đáp:

–  Dạ có. Cho nên đệ hâm mộ phong cách cũng như tài nghệ của Võ huynh, từ lâu vẫn ao ước được quen biết để học hỏi, nay mới mạo muội ghé thăm.

Võ Chất vốn người giỏi văn chương nên hỏi:

–  Bài thơ huynh đệ vừa ngâm lúc nãy ý tứ thật cao siêu, đúng là tuổi trẻ tài cao.

Nguyễn Huệ vội xua tay:

–  Ố, không! Không phải! Đó là phần sau bài thơ Tự thuật của Ái Trúc Trai Ngô Thế Lân, bạn của gia sư. Đệ vì nghe bài thơ lúc nãy hàm chứa một hoài bảo lớn mà chưa gặp thời  nên ứng tiếng đọc lên để tán tụng thêm cái thanh cao của những kẻ sĩ sinh bất phùng thời mà thôi.

Võ Thục hỏi:

–  Chẳng hay thầy của huynh đệ là ai?

–  Thầy đệ là Giáo Hiến ở An Thái.

Phan Sinh hỏi ngay:

–  Có phải là Trại Ức Trai Trương Văn Hiến ngày xưa phá tan âm mưu chiếm Cù Lao Phố của Lý Văn Quang không?

Huệ đáp:

–  Chính là người. Nhưng từ khi vào An Thái mở trường, người không muốn nhắc đến chuyện xưa nữa.

Võ Chất vẻ mặt hớn hở nói:

–  Thì ra là cao đồ của Giáo Hiến, thảo nào văn võ toàn tài.

Huệ hỏi:

–  Võ huynh biết gia sư à?

Võ Chất đáp:

–  Mấy người bạn tôi là Trương Mỹ Ngọc ở An Nhơn, La Xuân Kiều ở Phù Cát vốn là chỗ bạn thân với Nguyễn Nhạc ở Kiên Thành. Qua Cả Nhạc và qua tiếng đồn, họ rất hâm mộ thầy Giáo Hiến.

Huệ lộ vẻ vui mừng nói:

–  Thì ra Võ huynh và quý hữu là chỗ bạn thân với anh Cả Nhạc. Em xin lỗi đã không nhận ra.

Chàng đổi cách xưng hô khi biết những người này là bạn của anh Cả mình. Phan Sinh hỏi:

–  Huynh đệ ngâm đoạn thơ lúc nãy là có ý gì?

Huệ đáp:

–  Không có gì, chỉ vì đệ thích câu cuối của bài thơ, nó chứng tỏ tính tự cường của tác giả.

Phan Sinh mỉm cười:

–  Có nghĩa là huynh đệ cho chúng tôi là những kẻ hèn nhát thấy việc không dám xông vào chỉ biết ngồi yên than thời, trách thế phải không?

Huệ vội xua tay:

–  Nhất thiết không dám rồi. Đệ đoan chắc Phan huynh không tham gia Truông Mây lúc trước là có lý do ngoài ý muốn.

Phan Sinh thở dài:

–  Nói ra thêm hổ thẹn, nhưng tôi ở vào thế nợ nước tình nhà không thể vẹn.

–  Có thể cho đệ biết được không?

–  Cha tôi tuy là một nhà cựu Nho nhưng lẽ xuất xử rất rõ ràng, không phải minh chúa nhất định không theo về.

–  Người như thế nào mới là minh chúa?

–  Đất nước lâm nguy, triều chính suy tàn, bá tánh lầm than là lúc anh hùng xuất hiện. Anh hùng thì nhiều nhưng minh chúa chỉ có một, bởi vậy khi minh chúa ra đời thì điềm trời sẽ báo, kỳ tích sẽ hiện ra. Cha tôi tin như vậy.

–  Ví dụ?

–  Lý Công Uẩn lúc mới sinh, có con chó bộ lông bỗng hiện chữ Thiên Tử. Lê Thái Tổ lúc khởi nghĩa thu được thanh Thuận Thiên bảo kiếm truyền quốc, chém rắn ra quân…

Huệ thầm khen cho tính thực tế của anh Cả mình, tuy có hơi trí trá nhưng lại đánh đúng vào tâm lý của quần chúng, ngay cả những người được coi là kẻ sĩ, là hào kiệt như những người này đây. Phan Sinh thấy Huệ ngồi yên nên hỏi:

–  Theo ý huynh đệ thì sao?

Huệ chậm rãi đáp:

–  Ý kiến của Bá phụ và huynh rất xác thực, nhưng theo đệ, ai có lòng với quốc gia, dân tộc, ai dám đứng lên đạp đổ bạo quyền, đánh đuổi quân xâm lăng, đem lại hạnh phúc cho trăm họ, người ấy đáng để cho chúng ta tôn phò, giúp sức. Nói đúng hơn, minh chúa là người, sẽ vì người mà hành động, chứ không phải con trời, chờ trời sai xuống, mang theo điềm lành ứng mạng mới trở thành minh chúa để cai trị người. Minh chúa là con dân chứ không phải thiên tử, con trời. Cho nên thầy Mạnh tử nói rằng: “Dân vi quý, xã tắc thứ chi, quân vi khinh”.

Tiếng nói của chàng nhẹ nhàng thong thả, nhưng lời lẽ hùng hồn, đanh thép, ánh mắt của chàng lại rực lên một tia lửa của nhiệt huyết khiến cho năm người ngồi nghe ai nấy đều thầm khiếp phục trong lòng. Võ Triệu từ trước vẫn ngồi im lặng, bỗng cười ha hả lên tiếng:

–  Nói rất hay. Huynh đệ là em của Cả Nhạc à?

–  Dạ. Là em út trong nhà.

Võ Triệu nói:

–  Trái đất tròn, đất Tuy Viễn lại không lớn, quanh đi quẩn lại cũng là người quen cả. Tôi với Cả Nhạc đã từng uống rượu say đến hết biết trời trăng rồi gác chân lên nhau mà ngủ trên chiếc thuyền chở đầy trầu của anh ấy đấy.

Huệ mừng rỡ nói:

–  Thì ra là các vị huynh trưởng cả.

Võ Triệu vốn người bộc trực, ông vỗ vai Huệ thân mật:

–  Tiếng đồn Tây Sơn Tam Kiệt quả không ngoa. Tôi rất hâm mộ tài năng và đức độ của Cả Nhạc, nay gặp chú út trong nhà tuổi còn trẻ mà uy vũ hơn người, trí huệ thâm viễn, nhiệt huyết đầy lòng. Nghe Cả Nhạc rất đề cao về tài nghệ của chú út, nay gặp mặt tôi mới tin.

Huệ mỉm cười nói:

–  Anh Cả thương em nên nói quá vậy thôi.

Võ Thăng hỏi:

–  Gần đây khắp nơi loan truyền việc Tây Sơn tụ nghĩa, huynh đệ ghé thăm nơi rừng núi này không ngoài mục đích đó phải không?

Nét mặt của Nguyễn Huệ trở nên nghiêm nghị, nhìn Võ Thăng từ tốn đáp:

–  Các anh đây đã là chỗ bạn thân của anh Cả, em đâu dám lạm bàn về việc đó.

Võ Thăng lại bị ánh mắt của Nguyễn Huệ làm cho rúng động trong lòng, ông nghĩ thầm: “Chàng thanh niên này mục quang trông thật bình ổn, nhu thuận, nhưng thần uy rất mạnh. Thật kỳ lạ!”. Trong thâm tâm ông chợt nảy sinh cảm giác nể vì nên cất giọng thân mật hơn:

–  Không hề gì, huynh đệ đừng câu nệ. Chúng tôi thật muốn biết về chuyện tụ nghĩa của Tây Sơn.

Võ Triệu nói thêm vào:

–  Chú đừng ngại. Tôi chỉ là một tên thô lỗ chuyên cung cấp khô biển cho Cả Nhạc, nhưng những việc làm của anh ấy ở Tây Sơn thượng tôi rất ngưỡng mộ và tán thành. Anh em các người định biến Tây Sơn thành một Truông Mây thứ hai phải không?

Huệ trịnh trọng nói:

–  Các anh tuy không câu nệ nhưng đều là bậc huynh trưởng cả nên em chỉ xin trả lời: Vâng, Tây Sơn sẽ xây dựng lại một Truông Mây. Còn những chi tiết khác em sẽ mời anh Cả gặp các anh bàn thêm. Em quấy quá đã lâu, xin phép các anh, cáo từ.

Nói xong chàng đứng lên lễ phép cúi chào năm người. Họ nhất loạt đứng dậy đáp lễ như đối với những người ngang hàng hay bậc trưởng thượng. Võ Thăng tiễn Nguyễn Huệ ra đến nơi cột ngựa, ông thân mật hỏi:

–  Chú có còn liên lạc với Tiểu Phi huynh đệ không? Con người ấy về tài đức tôi đều cảm phục.

–  Dạ, anh ấy giờ là bang chủ bang Hành Khất. Em vừa từ phân đà Cửa Hàn của anh ấy vào đây.

–  Thế à? Mà cũng xứng đáng lắm. Thời này thật nhiều người tuổi trẻ tài cao. Bang Hành Khất và Tây Sơn của huynh đệ liên hệ thế nào?

–  Là tai mắt.

Võ Thăng gật gù rồi chắp tay nói:

–  Nếu anh em huynh đệ cần đến kẻ sơn dã này xin nhắn cho một tiếng, tôi nhất định góp chút tài hèn.

Huệ ngồi trên lưng ngựa ôm quyền, cúi mình đáp lễ:

–  Võ huynh phong thái vẫn hào sảng như lúc xưa. Tây Sơn đang tụ nghĩa, ngày khởi nghĩa không xa, cửa Tây Sơn mở rộng và dang cả hai tay đón chờ huynh và quý hữu bất cứ lúc nào.

*

Rời Kỳ Sơn, Nguyễn Huệ giục ngựa định trở ra quan lộ dẫn từ Nước Mặn lên Đồ Bàn. Khi đến Phụng Sơn bỗng phía trước có một đám quan binh mấy mươi tên đang vây đánh một chàng thanh niên mặc quần áo ra dáng nông dân. Chàng thanh niên này thân thể cường tráng, võ nghệ thật cao cường, cây roi gỗ trong tay múa vun vút, đám lính ba bốn mươi tên gươm giáo sáng ngời vẫn bị chàng ta đánh tơi bời, kêu la inh cả cánh đồng vắng. Bọn lính đánh một lúc nữa thì già nửa đã bị trúng đòn, té ngã ngổn ngang trên đường lộ. Tên toán trưởng nhắm bộ không xong bèn la lớn:

–  Anh em dừng tay. Tên chăn trâu này không chạy thoát đi đâu mà sợ. Ta về kéo thêm lính đến bắt nó sau cũng được.

Bọn lính trong bụng rất sợ bị ăn đòn, nên vừa nghe tên toán trưởng nói vội dừng tay rồi kéo nhau chạy về trại. Tên toán trưởng nhìn chàng thanh niên hăm dọa:

–  Mày hãy chờ xem. Ông mà không cho mày rục xương trong tù thì ông bỏ luôn cái chức Chánh suất Kỳ Sơn này. Đi!

Hăm xong vội vàng dẫn đám lính chạy tuốt. Chàng thanh niên dộng cây roi gỗ xuống đất, chống nạnh nói lớn:

–  Ngươi đừng hăm dọa mất công. Nguyễn Văn Lộc này mà sợ bọn lính ác ôn các ngươi thì đã không ra mặt. Giỏi thì cứ tìm ta mà bắt bỏ tù, đừng ỷ thế quan quân hà hiếp dân lành.

Nguyễn Huệ ghìm ngựa ở xa theo dõi cuộc chiến đấu của chàng thanh niên tên Lộc trong lòng không khỏi mừng rỡ và thầm phục đường roi của chàng ta. Đường roi này mường tượng như đường roi của Tiểu Bạch Long năm xưa ở Anh hùng đại hội. Huệ bèn nhảy xuống ngựa tiến đến gần cúi đầu chào:

– Gan mật hơn người, tài cao xuất chúng. Tiểu đệ là Nguyễn Huệ xin được làm quen với người anh hùng, không biết có được chăng?

Nguyễn Văn Lộc thấy chàng thanh niên lạ mặt cũng trạc tuổi mình, dáng người thanh tú, lời nói điềm đạm, vẻ mặt thân thiện nên ôm quyền đáp:

–  Anh nói quá cho tôi rồi. Tôi chỉ là tên chăn trâu, đốn củi xứ Kỳ Sơn làm sao xứng với hai chữ anh hùng. Anh định ghẹo tôi à?

–  Không thể coi xuất xứ quý tiện để luận anh hùng. Đinh Bộ Lĩnh chăn trâu mà lập nên nhà Đinh, Phạm Ngũ Lão đan giỏ, Trần Khánh Dư bán than, mà quân Mông Cổ nghe danh thì mất vía. Những người đó, có ai dám bảo họ không là bậc anh hùng chăng?

Văn Lộc xua tay nói:

–  Tôi không rành chữ nghĩa, nói không lại anh đâu. Anh từ đâu ngang qua đây?

Huệ không đáp ngay mà lại đề nghị:

–  Tôi nhớ phía trước nơi ngả ba đường lớn có quán rượu, chúng ta đến đó uống vài chung ấm bụng nói chuyện được không?

–  Được chớ sao không. Có rượu là được.

–  Vậy mời anh lên ngựa ta cùng đi.

–  Anh cưỡi ngựa, tôi chạy bộ theo. Coi bộ con ngựa của anh rất hay, tôi muốn thử xem nó nhanh hay tôi nhanh.

Huệ nghe chuyện lạ rất thích thú nhưng vẫn nói:

–  Làm như vậy coi sao được.

–  Có gì mà không được. Anh sợ tôi chạy không lại con ngựa của anh hả? Lên đi.

Nguyễn Huệ đành lên ngựa, chưa kịp thúc ngựa thì Nguyễn Văn Lộc đã vác gậy lên vai, phóng người vun vút chạy đi. Huệ giục ngựa đuổi theo, chàng định cho ngựa chạy cầm chừng, nhưng khoảng cách của Văn Lộc phía trước mỗi lúc một xa dần ra. Huệ tăng vó ngựa, khoảng cách vẫn không thay đổi, chàng thúc ngựa chạy nhanh hơn, con Ô Truy sải bốn vó phóng nước đại mới có thể thu dần khoảng cách đó. Huệ hết sức kinh ngạc trước sức chạy kinh hồn của Nguyễn Văn Lộc, chàng cho ngựa chạy ngay sau lưng của Văn Lộc cho đến khi tới quán rượu, cả người và ngựa cùng dừng chân một lúc trước quán. Nguyễn Huệ nhảy xuống, thấy Văn Lộc mặt không đổi sắc, chạy đua với ngựa mấy dặm đường dài như kẻ đi dạo chơi. Chàng ôm quyền cúi đầu bái:

–  Anh xứng đáng với hai chữ Thần hành. Từ nay tôi gọi anh là Thần hành Nguyễn Văn Lộc nhé. Vào đây, tôi kính anh chén rượu để tỏ lòng bái phục.

Nguyễn Văn Lộc cười hề hề:

–  Nhìn anh cũng hay hay. Tôi thích sự thẳn thắn và thành thật của anh. Tốt! Ta uống với nhau một bữa cho thật đã mới được.

Huệ vào quán, chọn một chiếc bàn sát cửa sổ, gọi hai cân thịt bê thui và một vò Bàu Đá loại ngon. Chàng rót ra đầy hai chén, nói:

–  Kính anh chén này, ta uống cho hai chữ Thần hành.

Văn Lộc bưng chén uống cạn, khà một tiếng khen:

–  Rượu ngon. Lần đầu mới uống được một chén rượu ngon thế này. Rượu ngon, bạn mới. Không ngờ cuộc đời tên chăn trâu, đốn củi như tôi lại có được giây phút sảng khoái thế này.

Huệ rót tiếp rượu vào hai chén:

–  Tôi kính anh một chén nữa cho sự quen biết của chúng ta.

Văn Lộc đỡ chén rượu uống tràn một hơi xong đặt xuống bàn cười hề hề:

–  Anh Huệ người ở đâu?

–  Tôi ở Tây Sơn.

–  Phải chi anh ở Kỳ Sơn thì hay biết mấy.

–  Sao phải ở Kỳ Sơn mới hay?

–  Ở Kỳ Sơn thì gần tôi, thỉnh thoảng anh mời tôi uống rượu ngon, không hay thì còn cái gì hay hơn nữa. Ha…ha….

Huệ cũng bật cười vì ý nghĩ ngộ nghĩnh của Lộc, bèn nói:

–  Tôi cũng muốn được uống rượu với anh lắm. Có một cách chúng ta sẽ được ở gần nhau để cùng nhau hàng ngày uống rượu, không biết anh có thích nghe không?

–  Cách gì anh nói nghe thử?

–  Trước tiên tôi xin phép hỏi anh, vì sao một người tài ba như anh lại phải chọn cái nghề chăn trâu, đốn củi để mưu sinh?

–  Ai khùng đi chọn cái nghề vừa hèn mọn vừa kiết xác này. Nhưng tôi vốn con nhà nghèo, cha bệnh chết, mẹ già lại đau yếu liên miên, từ nhỏ đã phải chăn trâu cho lão bá hộ Kỳ Sơn, lớn lên phải đi đốn củi thêm cho lò rượu lão Hai Phái mới đủ tiền thang thuốc cho mẹ. Cái nghề đốn củi quỷ quái lại tập cho tôi cái bệnh thèm rượu, nhưng lão Hai Phái bủn xỉn hết chỗ nói, thỉnh thoảng lão cho một bát rượu hạng bét, dở như nước đái trâu. Cũng may… hì…hì…

Huệ cười thích thú:

–  Cũng may cái gì?

Lộc đỏ mặt:

–  Cũng may cô Út thỉnh thoảng trút lén một vò rượu ngon của lão dấu ngoài bụi chuối sau vườn…

Huệ ngã người ra sau cười lớn:

–  Ha…ha…Vậy mà anh khen rượu ở đây là ngon à? Mấy vò rượu ở gốc chuối đó là rượu tình, rượu nghĩa, mới đậm đà hương vị chứ. Đúng là anh hùng đoán giữa trần ai. Ha…ha…

Lộc mắt cỡ đến mặt đỏ như hơ lửa:

–  Hê! Anh đừng ghẹo tôi. Tôi ngu quá tự dưng nói cái bí mật này ra. Cấm anh hớ ra với ai đó nhé, không tôi bằm thây anh ra.

–  Được, được. Tôi hứa không bao giờ hé môi. Nhưng, như vậy thì anh cần gì tôi mời rượu nữa?

Nét mặt của Lộc bỗng dàu dàu:

–  Hết rồi. Từ nay sẽ không còn chuyện ấy xảy ra nữa.

–  Sao vậy? Có chuyện bất trắc à?

–  Thằng con trời của lão bá hộ Kỳ Sơn mê mệt cô Út, nó đòi cưới nàng. Nàng cự tuyệt, cha nàng thương con gái cũng từ chối chuyện hôn nhân. Lão bá hộ giận, cậy đám lính Kỳ Sơn tới phá lò rượu, lão Hai Phái ức lắm chống lại, bị bọn lính đánh một trận tái tê. Lúc đó tôi mới để lộ thân thế, đập cho bọn lính một trận bò càng, nhưng cuối cùng lão Hai Phái sợ thế nên buộc cô Út phải đồng ý. Cô Út nhất định không nghe, hôm qua cô treo cổ tự vận, cũng may tôi phát hiện kịp nên cứu được, vậy mà đám lính chó hồi nãy còn định tới nhà nàng hoạnh họe nữa đấy. Bọn chó chết!

–  Đúng là bọn chó chết, đáng ghét thực. Anh đánh lúc nãy hay lắm. Bây giờ thế nào rồi?

Lộc thở dài buồn bã:

–  Cô Út bảo tôi đem nàng đi trốn. Anh coi, tôi một xu không dính túi, lại mẹ già đau yếu, giờ mang nàng đi, tôi biết về đâu, rồi lấy gì bảo bọc cho mẹ và nàng.

Huệ an ủi:

–  Anh đừng buồn. Không gian nan đâu phải anh hùng. Mà anh có quyết tâm như nàng không?

Lộc uống hết chén rượu, dằn mạnh chén lên bàn nói:

–  Anh còn phải hỏi tôi chuyện quyết tâm à? Con mẹ nó, đám lính hung dữ Kỳ Sơn tôi còn đánh cho tơi bời thì không quyết tâm là gì nữa.

–  Vậy được. Tôi sẽ giúp anh đưa bá mẫu và cô Út của anh đến một nơi thật an toàn, tài năng của anh sẽ có đất dụng võ, tôi và anh còn có dịp gần nhau uống rượu thỏa thích nữa.

Văn Lộc trợn mắt hỏi:

–  Thật chứ? Ở đâu có được những điều đó?

–  Tây Sơn thượng đạo. Đất đai trù phú, mênh mông, không một tên lính chó nào dám bén mảng tới, anh em ở đó đều giống như chúng ta, thương yêu bảo bọc nhau như anh em ruột. Đó là miền đất dụng võ cho những người tài cao như anh. Chúng ta cùng nhau đem tài trai ra cứu bá tánh nghèo đói trong thiên hạ.

Lộc hừng chí nói:

–  Được như vậy thì còn gì hay bằng. Tôi ngán cái kiếp sống ở đợ cho người quá rồi. Anh giúp tôi thay đổi cuộc đời, tôi dẫu chết cũng không quên ơn.

Nói xong đứng lên vái Nguyễn Huệ. Huệ vội đứng dậy chụp tay Lộc kéo ngồi xuống:

–  Hê! Anh làm cái trò gì vậy? Anh muốn báo ơn tôi thì ráng đem tài mình ra giúp cho trăm họ. Mà này, hỏi thật lòng nhé. Anh nói từ bé đã chăn trâu, đốn củi thì cái tài thần hành và ngọn roi tuyệt diệu của anh ở đâu mà có vậy?

–  Nói ra buồn cười, hồi nhỏ tôi chăn bò, con bò đực của lão bá hộ hôm đó tự dưng nổi điên dựng đuôi chạy miết, tôi cố sức rượt theo mà không kịp để con bò sổng mất tiêu luôn. Lão bá hộ đánh tôi một trận nên thân, bắt phải ở đợ ba năm không lương, về nhà cha tôi lúc đó còn sống, đánh thêm một trận nhừ tử nữa. Từ đó tôi quyết tâm tập chạy. Ngọn Kỳ Sơn kia tôi chạy lên chạy xuống thành đường mòn thì anh phải biết.

Huệ vỗ tay nói:

–  Thật tuyệt. Tôi phục cho ý chí kiên cường của anh. Còn ngọn roi?

–  Thầy tôi là một nhà sư trong núi Kỳ Sơn, một hôm thấy tôi tập chạy bèn gọi lại hỏi tôi muốn học võ không, tôi mừng quá lạy ông làm thầy. Từ đó tôi âm thầm tập võ mà cả làng không ai biết. Nay chỉ tại đám lính khốn kiếp kia mà lộ việc.

–  Nhờ vậy mà tôi với anh gặp nhau, không phải là chuyện vui sao? Bây giờ ta tính chuyện kia đã. Có chỗ nào bán ngựa quanh đây không?

–  Sơn trại của Tiều Hiệp Võ Thăng ở Kỳ Sơn có nhiều ngựa lắm, toàn ngựa tốt nên nghe nói giá rất đắt.

–  Không sao. Chúng ta mua một con ngựa, tối nay tôi chở bá mẫu, anh rước cô Út của anh. Chúng ta quất ngựa truy phong thì thằng con trời kia chỉ còn nước tức hộc máu ra mà chết. Ha…ha…

Lộc do dự nói:

–  Chỉ sợ lão bá hộ mướn tụi lính phá nát nhà nàng, trả thù cha nàng thì…

–  Sợ gì. Chúng ta cứ đem Bá mẫu và nàng đi trước. Sau đó tôi và anh trở lại, bọn lính Kỳ Sơn dám phá nhà nàng, ta cho chúng một trận nên thân cho bỏ ghét. Còn không thì…, nhà nàng còn ai nữa không?

–  Nàng có người anh trai tham gia nghĩa quân Truông Mây bị chết trận hai năm trước. Mẹ nàng thương con trai, lâm bệnh mới chết năm ngoái, giờ chỉ còn cha nàng. Cũng vì anh nàng theo Truông Mây mà gia đình nàng bị quan quân ở đây hoạnh họe đủ điều.

–  Vậy thì đơn giản lắm. Anh nói nàng năn nỉ cha bỏ đi luôn, về trên ấy ông ta có thể tiếp tục cái nghề nấu rượu. Không phải chúng ta sẽ có rượu uống dài dài hay sao?

–  Được. Giờ cũng đã tối. Tôi về hỏi ý tứ nàng xem sao. Anh đi mua ngựa xong đến chờ tôi ở đình làng. Trên đường về tôi chỉ cho.

Hai người bèn quay trở lại Kỳ Sơn. Nguyễn Huệ tìm tới sơn trang của Võ Thăng, được ông ta tặng cho hai con ngựa thật tốt. Huệ bèn theo lời chỉ dẫn của Lộc, đem hai con ngựa đến chờ ở đình làng.  Một lát sau đã thấy Lộc lưng cõng mẹ, vai gánh hai gói hành lý to tướng, cùng hai cha con Hai Phái vai nải kè kè đi tới. Huệ bèn đỡ Hai Phái lên ngựa hỏi:

–  Bác cỡi ngựa được chứ?

Hai Phái đáp:

–  Được, cảm ơn cậu.

Huệ nói với cô Út:

–  Cô đi cùng với bác trai nhé. Đưa gói đồ tôi giữ, xin phép đỡ cô lên.

Cô Út lí nhí:

–  Cảm ơn anh.

Huệ đỡ cô Út lên xong qua phụ Lộc cột mấy gói hành lý vào con ngựa rồi phóng lên ngựa của mình, Lộc trùm chăn kín người mẹ xong bế bà nhún chân nhẹ nhàng phóng lên lưng con ngựa còn lại. Hai Phái nhìn thấy cách lên ngựa của Lộc không khỏi hãi thầm trong bụng, ông gục gật đầu mỉm cười trong bóng tối. Huệ nói:

–  Chúng ta đi. Cứ theo quan lộ lên thẳng Tây Sơn.

Bèn giục ngựa đi trước, hai con ngựa kia cũng phóng theo sau. Trời cuối đông, gió bấc thổi lạnh như cắt, ba con ngựa trong đêm trăng lờ mờ giữa tháng Chạp vừa qua khỏi Kỳ Sơn đến Phụng Sơn thì có một toán lính đi ngược lại, hai tên thủ lĩnh cưỡi ngựa đi trước. Một tên hách dịch quát hỏi:

–  Bọn kia đang đêm đi đâu đây? Ăn cướp phải không?

Huệ cho ngựa tiến tới trước một chút lên tiếng đáp:

–  Chúng tôi là dân lành, không phải cướp bóc gì đâu. Xin quan nhân nhường đường cho.

Lúc đó Lộc cũng cho ngựa mình đến cạnh Nguyễn Huệ. Đám lính đốt mấy cây đuốc lên soi, tên đội trưởng vừa thấy Lộc liền lớn tiếng quát:

–  Thì ra là thằng chăn trâu. Mày cả gan đả thương quan lính rồi đang đêm định bỏ trốn hả? Bắt lấy nó cho ta.

Huệ quay sang nói nhanh với Lộc:

–  Anh phá vòng vây đưa tất cả đi trước đi, bọn này để tôi.

Nói xong rút cây roi quanh bụng ra, lớn tiếng:

–  Đám lính chó tụi bay chuyên hà hiếp dân chúng, hôm nay ta sẽ dạy thêm một bài học nữa cho bỏ cái tật hống hách, quan liêu.

Cả hai liền kèm con ngựa của Hai Phái vào giữa, ba con ngựa cùng nhau lao tới, hai cây roi trong tay tung ra hai đường sấm sét vào hai tên cỡi ngựa. Hai tên này không kịp trở tay, mỗi tên trúng một roi nhào xuống đất giãy tê tê. Bọn lính thấy vậy vội vung đao xông vào chém ba con ngựa, Huệ và Lộc lại vũ lộng cây roi trong tay, hàng loạt những thanh đao bị đánh văng xa, rơi xuống mấy đám ruộng hai bên đường. Huệ nói lớn:

–  Hai người chạy trước đi. Để tôi đoạn hậu.

Lộc và Hai Phái nghe nói liền giục ngựa phóng đi. Huệ đảo ngựa một vòng, cây roi trong tay quất ra vun vút, bọn lính bị cây roi quất ngã nhào ra đất miệng la bai bải. Nguyễn Huệ cất tiếng cười ha hả:

–  Cho các ngươi ăn một trận đòn để nhớ. Sau này đừng ỷ thế hà hiếp dân lành nữa. Ha…ha…

Rồi quay ngựa phóng đi, mất hút trong đêm khuya sương lạnh.

*****

Mời xem tiếp vào thứ bảy – 10-10-2015.

HỒI THỨ BA

Tây Sơn Quán anh hùng vui tương ngộ

Bến Côn Giang, Giáo Hiến luận chữ “thời”

[1] Đoạn sau bài thơ Tự Hoài của Aí Trúc Trai – Ngô Thế Lân.

NTSH – Hồi thứ hai

Kỳ 176:

HỒI THỨ HAI

Giết cọp dữ, Trần Quang Diệu gặp Bùi Thị Xuân

Đánh quan binh, Nguyễn Văn Lộc cưới được vợ hiền.

Tám chiếc vó khỏe mạnh của hai con Bạch mã và Ô Truy phóng thật đều, chở đôi thanh niên nam nữ xuống khỏi đèo Vĩnh Viễn, rẽ qua con đường độc đạo, dọc theo bờ tây sông Côn rồi vào đường thượng đạo ở Vĩnh Thạnh. Qua khỏi địa giới Kim Sơn gần An Lão, H’Linh cho ngựa chậm lại, nàng chỉ tay xuống con suối chảy bên vách núi nói:

–  Chúng ta ghé xuống con suối này nghỉ một lát cho ngựa uống nước.

Nguyễn Huệ tán thành:

–  Được. Hãy theo lối này.

Chàng rẽ ngựa theo một lối mòn xuống suối. Hai người nhảy xuống đất, vục nước suối rửa mặt, thả hai con ngựa tự do uống nước, gặm cỏ. Dòng suối chảy dài xuống một thung lũng bằng phẳng ở dưới xa. Rừng thu vàng úa hai bên bờ khiến cảnh núi rừng trông thật cô liêu, u tịch. H’Linh dõi mắt mơ màng nói:

–  Rừng thu và thung lũng dưới kia thật đẹp, chẳng khác con suối Tử Tuyền ở Thạch Bích sơn của ta.

Nguyễn Huệ nhìn theo ánh mắt H’Linh nói:

–  Ừ, đẹp thật, nhưng buồn qúa. H’Linh có vẻ thích những nơi tịch mịch thế này phải không?

–  Ta từ bé đã quen cảnh núi rừng hồn nhiên, u tịch. Thời gian qua giong ruổi dưới đồng bằng, nhìn thấy biết bao cảnh tang thương, đói khổ, chết chóc, lòng ta thật xót xa, chỉ mong được sớm trở về với bản rừng cho tâm hồn thanh thản. Ngươi thì sao?

–  Thanh nhàn ai cũng thích, nhưng tôi là thân trai trong thời loạn, nghĩa vụ làm trai không cho phép tôi chìu theo sở thích của mình.

–  Suy nghĩ của ngươi thật giống Lâm ca và Tín Nhi. Ngươi đưa ta về đến Đá Vách rồi sẽ đi đâu?

–  Tôi định làm một chuyến giang hồ, lang thang khắp trời Nam này cho biết đất nước và con người của mình.

H’Linh thở dài:

–  Đất nước là một cảnh điêu tàn, con người là những bộ xương gầy còm, ốm đói. Ngươi cứ đi cho biết, nhưng ta sợ rằng sau chuyến đi ngươi sẽ thất vọng. Như tâm tình của ta bây giờ vậy.

Huệ nhìn cô gái của núi rừng thầm nghĩ: “Tôi sẽ thay đổi những điêu tàn và đau thương đó cô bạn gái ạ”.  Chợt H’Linh chỉ tay xuống vùng thung lũng nói:

–  Chúng ta thử xuống vùng thung lũng đó xem. Một nơi đẹp thế này ta nghĩ chắc sẽ có người ở.

–  Nếu H’Linh thích.

Hai người bèn lên ngựa rồi thong thả theo dòng suối xuống thung lũng. Vừa đến nơi, H’Linh đã reo lên:

–  Ngươi thấy không, bên kia có nhà kìa. Chúng ta đến đó đi.

Theo ngón tay H’Linh, Huệ thấy một mái nhà lá khá lớn dựng bên một khúc quanh của con suối. Hai người bèn thả ngựa đến nơi. Khung cảnh im lìm, vắng vẻ. Chợt Huệ thấy một nấm mộ bên cạnh ngôi nhà. Trước mộ, một chàng thanh niên đang quỳ cúi đầu im lặng, bên cạnh mộ có cắm một thanh kim đao sáng rực. Biết có người lạ đến chàng thanh niên vẫn không quay lại. Huệ và H’Linh vội vàng nhảy xuống ngựa, chậm rải đến sau lưng chàng thanh niên, im lặng chắp tay vái trước nấm mồ. Lúc đó chàng thanh niên mới từ từ đứng lên quay lại nhìn. Anh ta tuổi trạc mười chín, hai mươi, mặt vuông với nước da đỏ tía, mắt xếch trông lẫm liệt, phương phi, thoạt nhìn Huệ đã biết ngay là tay kiêu dũng trong đời. Chàng vội chắp tay ôn tồn nói:

–  Tình cờ thấy cảnh đẹp nên chúng tôi lạc vào đây, không ngờ lại quấy quả sự yên tĩnh của anh. Thật xin lỗi.

Người thanh niên từ tốn nói:

–  Không hề gì. Hai vị là ai? Có việc gì đi ngang qua vùng núi thẳm này?

–  Tôi là Nguyễn Huệ ở Kiên Thành, đây là H’Linh ở bản Đá Vách. Dám hỏi danh tánh của anh?

–  Trần Quang Diệu. Hân hạnh biết hai vị.

H’Linh hỏi:

–  Xin hỏi anh, người dưới mộ là ai? Trên mộ cỏ đã xanh, anh quỳ như thế hẳn đã ba bốn tháng rồi phải không?

–  Là thầy tôi. Người tạ thế đúng ba tháng rồi.

Huệ chắp tay nói:

–  Thành thật chia buồn cùng anh. Anh định một mình ở lại nơi vắng vẻ này à?

Quang Diệu nói:

–  Tôi đang định trở về quê thăm gia đình. À, mời hai vị vào nhà nói chuyện cho phải lẽ.

Huệ cùng H’Linh theo Diệu vào nhà. Huệ hỏi:

–  Quê anh ở đâu?

Diệu rót nước mời khách rồi đáp:

–  Ở thôn Liên Chiểu gần Long Cốt sơn, Mộ Hoa.

Nguyễn Huệ nghe nói giật mình hỏi:

–  Anh họ Trần ở Liên Chiểu như vậy có liên hệ gì đến họ Trần Nguyên bên Liên Trì bị thảm sát hơn hai mươi năm trước không?

–  Không. Họ Trần Nguyên là họ lớn, họ Trần chúng tôi chỉ là một họ nhỏ trong vùng. Tội nghiệp, cả họ Trần Nguyên năm ấy bị giết hết không còn một ai. Lúc tôi còn nhỏ, nghe kể lại chuyện mà sôi giận trong lòng. Bọn Tàu này thật ác độc.

–  Anh nói đúng, những chuyện như vậy ai nghe cũng phải căm gan. Cũng hay là bọn gian ác đã bị trả thù đích đáng.

Nguyễn Huệ đưa mắt nhìn quanh. Gian nhà rộng, bày biện đơn sơ nhưng thoạt nhìn đã biết ngay chủ nhân là người chuyên về võ nghệ, tuy trên các giá binh khí trống trơn chẳng có món gì. Quang Diệu nói:

–  Anh lấy làm lạ phải không? Tất cả binh khí tôi đã chôn theo thầy tôi, chỉ còn giữ lại cây Huỳnh Long đại đao thầy tôi tặng cho mà thôi.

Huệ mỉm cười ướm lời:

–  Nhìn nghi biểu của anh và thanh đao tôi đoan chắc anh là người tài cao, chí cả. Dự tính tương lai của anh thế nào?

Quang Diệu hớp một hớp nước, đáp:

–  Trước lúc lâm chung, thầy tôi đã căn dặn phải đem sở học làm sở hành, giúp đời, giúp nước. Nhưng gần mười năm nay tôi theo thầy lên núi nên sự thể dưới kia chưa biết thế nào. Tôi định về thăm nhà trước rồi mới tính chuyện tương lai.

Huệ nghe nói trong bụng mừng thầm, nói:

–  Sau khi thăm nhà, nếu anh muốn góp mặt với đời thì nên ghé lại Tây Sơn Hội Quán ở bến Trường Trầu, trên bờ sông Côn, Kiên Mỹ. Anh hùng đời nay đang quy tụ ở đó rất đông.

Diệu háo hức hỏi:

–  Thật vậy ư? Chủ nhân Hội Quán là ai?

–  Nguyễn Nhạc.

–  Được, tôi sẽ ghé thăm nơi đó một chuyến. Tôi có sẽ gặp anh ở đó không?

–  Tôi đang có một ít việc phải làm, anh cứ đến đó, chúng ta sẽ gặp lại nhau sau vài tháng. Bây giờ xin kiếu từ.

Huệ và H’Linh đứng lên, Diệu tiễn hai người ra đến nơi cột ngựa nói:

–  Chúc hai người thượng lộ bình an. Mong gặp lại.

Hai người phóng lên ngựa rồi vẫy tay chào, thúc ngựa trở lên đường thượng đạo về Đá Vách. Quang Diệu nhìn theo lẩm bẩm:

–  Chàng thanh niên Nguyễn Huệ này còn rất trẻ nhưng khí phái bất phàm, nhất là đôi mắt, thần quang nội liễm mà tia nhìn nhiếp phục lòng người, mới gặp mà mình đã thấy bảy phần kính ngưỡng. Con người như thế tất sẽ làm nên đại sự, rất đáng để kết giao. Ta ghé Vĩnh Thạnh hỏi thăm gia đình họ Diệp của thầy theo lời dặn trước, sau đó tiện đường vào Tây Sơn một chuyến xem sao. Việc về thăm nhà hãy tính sau.

Nghĩ đến đó, bầu nhiệt huyết chợt bùng sôi, bèn lạy mộ thầy lần nữa rồi thu xếp hành trang, nghĩ rằng đây chỉ là chuyến giang hồ du ngoạn nên đem thanh Huỳnh Long bảo đao cất kỹ một nơi rồi vác bọc hành lý lên đường.

Trần Quang Diệu vốn con nhà khá giả ở Liên Chiểu, nhưng cha mẹ mất sớm, tuy còn hai người anh nhưng tính Diệu đam mê võ nghệ, thích thân tự lập thân nên sống tự lập từ bé. Ngày nay võ nghệ thành tài, gia đình không mấy vướng bận, lần đầu xuống núi giang hồ thỏa chí nên trong lòng không khỏi có điều cao hứng. Theo lời thầy dặn, chàng ghé về Vĩnh Thạnh hỏi thăm dòng họ Diệp nhưng bà con trong vùng nói từ khi võ sư Diệp Đình Tòng giết quan huyện rồi dẫn vợ con bỏ trốn mấy mươi năm trước thì dòng họ cũng xiêu tán khắp nơi, tránh bị quan binh đàn hạch nay không còn ai ở Vĩnh Thạnh. Diệu bèn rời Vĩnh Thạnh theo đường núi vào Tây Sơn.

Khi ngang qua một vùng núi vắng vẻ, chợt có tiếng gầm rung chuyển cả núi đồi, một con cọp lông trắng, vằn đen to lớn từ trong bụi rậm phóng ra, hai chân trước với những vuốt nhọn vồ lấy chàng. Quang Diệu nghe tiếng gầm vội bước chéo chân né khỏi cú chộp của con cọp, động tác của chàng rất mau lẹ nhưng vì bất ngờ nên vai phải cũng đã bị vuốt cọp cào sước mấy đường, túa máu. Con cọp vồ hụt liền quay lại thật nhanh, nó lại gầm lên một tiếng rồi phóng vào chộp Quang Diệu lần nữa. Quang Diệu từ lúc sống với thầy ở Kim Sơn vẫn thường đánh nhau với cọp nên chàng rất bình tĩnh, đợi con cọp phóng gần đến nơi, chàng né vội sang bên, hai tay tung mạnh hai cú đấm thôi sơn vào bụng nó. Con cọp trúng đòn, nó lồng lên tức giận, quay vội lại tiếp tục phóng tới tấn công địch thủ.

Người và cọp cứ thế quần nhau rất lâu, Quang Diệu đầy người bê bết máu, con cọp cũng ngất ngư vì thấm đòn, miệng không ngớt gầm rống vang động cả khu rừng. Nó bước đi chầm chậm chung quanh địch thủ, như để lấy lại hơi sức, chờ cơ hội tấn công một cú tối hậu. Quang Diệu tay không phải đấu với những móng vuốt sắc nhọn của cọp nên đã rã rời, quần áo rách bươm, người bê bết máu, miệng không ngừng thở dốc, ráng trấn định tinh thần chờ đòn tấn công của con ác thú.

Bỗng có tiếng vó ngựa phi tới rất nhanh. Con cọp như biết được mình sắp có thêm địch thủ nên nó gầm lên một tiếng, phóng vút vào Quang Diệu. Vừa lúc đó một con ngựa phóng nhanh đến nơi cùng với tiếng quát trong trẻo vang lên:

–  Nghiệt súc, không được hại người!!

Một bóng vàng tung lên khỏi lưng ngựa phóng nhanh tới, ánh chớp lóe lên, thanh kiếm trong tay lao vút vào mắt cọp như tên bắn. Con cọp bất ngờ nên bị lưỡi kiếm phóng trúng vào mắt trái, nó gầm lên một tiếng đau đớn, vồ hụt người Quang Diệu. Bị đau, nó điên tiết gầm lên một tiếng rung chuyển cả núi rừng, quay lại tấn công kẻ địch mới. Người mới tới là một thiếu nữ trẻ chừng mười tám với bộ y phục màu vàng anh, trên tay vẫn còn một thanh kiếm khác, thấy con cọp phóng tới nàng liền trở bộ né sang bên, thanh kiếm trong tay đâm nhanh một đường thần tốc vào con mắt thứ hai của cọp. Đường kiếm thật nhanh và thật chính xác, con cọp rống lên một tiếng đau đớn, hai con mắt nó đã bị mù. Nó lồng lộn nhảy vồ tứ tung, thiếu nữ mau lẹ lựa thế phóng thêm mấy nhát kiếm nữa vào tai và miệng cọp, nó vùng vẫy một lúc rồi ngã qụy. Quang Diệu đứng bên ngoài nhìn mấy đường kiếm của thiếu nữ áo vàng không khỏi khen thầm: “Cô gái này trông xinh đẹp, mảnh khảnh mà đường kiếm thật xuất qủi nhập thần, chính xác và mau lẹ không tưởng nổi”.

Thiếu nữ hạ xong con cọp lo lắng hỏi:

–  Anh có sao không? Máu ra nhiều qúa.

Giọng nói nghe thanh như tiếng khánh. Quang Diệu chắp tay nói:

–  Tạ ơn cứu mạng, tôi không sao, chỉ là những vết thương ngoài da. Hiệp nữ quý tánh là chi để Trần Quang Diệu tôi ghi khắc vào lòng?

Thiếu nữ nở nụ cười thật đẹp đáp:

–  Tôi tên Bùi Thị Xuân. Ơn nghĩa gì đâu, chỉ là chuyện phải làm mà thôi, anh đừng câu nệ. Tôi có thuốc kim san đây, nên băng những vết thương lại để cầm máu.

Bèn lấy thuốc kim san ra, dùng chiếc khăn trong túi đeo bên lưng ngựa lau sạch những vết máu, sau đó rịt thuốc cho Quang Diệu. Cô thực hiện những động tác băng bó rất mau chóng và thuần thục không một chút e ngại chuyện nam nữ. Thoáng chốc mọi việc đã xong, Bùi thị Xuân mỉm cười nói:

–  Xong rồi. Tạm thời như vậy đi.

Quang Diệu lúng túng nói:

–  Đa tạ. Ơn cứu mạng thật to lớn, tôi thật không biết phải nói gì đây.

Thị Xuân bật cười khanh khách nói:

–  Đã nói đừng câu nệ rồi mà. Anh là người phương nào, sao lại đánh nhau với con ác thú này ở đây?

–  Tôi vừa chân ướt chân ráo hạ sơn, gặp người bạn tên Nguyễn Huệ giới thiệu nên định ghé Tây Sơn Hội Quán để mở rộng tầm mắt. Không ngờ giữa đường lại bị nạn, may mà có hiệp nữ đây nếu không…

Thị Xuân chận lời:

–  Lại định nói tới chuyện cứu mạng nữa phải không? Cái gì mà Hiệp nữ với Nữ hiệp thật khó nghe.

Sắc mặt Quang Diệu đã đỏ giờ còn đỏ hơn nữa, chàng ấp úng:

–  Ơ… tôi…

Bùi Thị Xuân nhìn thấy điệu bộ lúng túng của chàng trai thì cười khanh khách nói:

–  Anh cứ gọi tôi là Cô Xuân được rồi. Dễ nghe hơn.

Quang Diệu ấp úng:

–  Ơ… Tôi sao dám vô lễ như vậy được.

Bùi Thị Xuân vui vẻ nói:

–  Coi anh tướng mạo đường đường mà lại hay mắc cỡ như con gái vậy. Anh muốn đi Tây Sơn Hội Quán à? Anh Nguyễn Nhạc, Quán chủ là chỗ quen của tôi. Tôi sẽ đưa anh đi. Nhưng trước hết phải mang con cọp này cho anh Phi Vân Báo trước đã.

–  Phi Vân Báo là ai?

–  Là anh Lý Văn Bưu ở trại huấn luyện ngựa dưới kia. Chúng tôi vẫn thường đi săn cọp với nhau.

–  Thảo nào… Cô… Xuân hạ con ác thú hung dữ này thật dễ dàng.

Đang lúc hai người nói chuyện thì có tiếng vó ngựa vang lên từ xa. Bùi Thị Xuân nói:

–  Hai anh Văn Bưu và Văn Dũng tới đó.

Vừa dứt câu vó ngựa đã đến nơi. Hai chàng kỵ sĩ  phóng xuống ngựa, một người oang oang lên tiếng:

–  Chào vị hiệp sĩ này, anh tay không đã giết con cọp trắng này phải không? Thật là tay kiêu dũng, Lý Văn Bưu này xin bái phục.

Quang Diệu thấy Lý Văn Bưu mặt vuông, tai lớn, hàm râu mép cứng, rậm, đen nhánh trông thật uy hùng, tính lại bộc trực, còn Văn Dũng tướng người tuấn nhã nên có ngay hảo cảm. Chàng chắp tay đáp:

–  Trần Quang Diệu xin chào hai vị hiệp sĩ. Là … cô… Xuân đây giết nó đấy chứ không phải tôi đâu.

Người thanh niên thứ hai lên tiếng:

–  Thì ra là anh Quang Diệu. Võ Văn Dũng ở Phú Phong xin được làm quen.

Ba người hớn hở chào nhau. Bùi Thị Xuân nói:

–  Anh Quang Diệu tay không đánh con cọp nhừ tử rồi, tôi chỉ cần phóng thêm vài nhát kiếm nữa thì nó đi đời. Tặng anh đó anh Bưu.

Lý Văn Bưu cười ha hả nói:

–  Vậy tôi xin cảm ơn hai người. Cho tôi được đền ơn bằng một bữa tiệc mọn ở trang trại nhà được không? Cô Xuân này, tôi sẽ biến bộ da bạch hổ này thành một cái áo choàng cho cô, bảo đảm sẽ rất đẹp. Cô chịu không?

Bùi Thị Xuân vui vẻ nhìn Quang Diệu:

–  Chịu thì nhất định là chịu rồi nhưng còn phải hỏi ý người giết cọp trước đã chứ.

Mặt Quang Diệu đỏ lên hơn nữa, chàng vội vàng nói:

–  Không cần phải hỏi gì tôi đâu, cô Xuân cứ tự nhiên…

Nhìn vẻ bối rối của chàng thanh niên mới quen, cả ba người không khỏi bật lên tiếng cười thích thú. Bốn người tuổi tác ngang nhau nên rất dễ tương đắc. Họ gác xác con cọp trắng lên lưng con ngựa to lớn có sắc lông đỏ chói của Lý Văn Bưu rồi cùng nhau thả bộ về trang trại của Bưu ở làng Đại Khoang, Phù Cát. Quang Diệu nhìn con ngựa khen:

–  Con ngựa này thật kỳ vĩ, tôi chưa từng thấy qua bao giờ.

Văn Bưu cười nói:

–  Người Trung Hoa xưa có câu: “Nhân trung Lữ Bố, mã trung Xích Thố”. Tôi cho rằng con Xích Thố xưa cũng chỉ bằng con Huyết Long này là cùng. Nếu anh thích tôi xin tặng anh làm món quà sơ ngộ.

Quang Diệu vội xua tay:

–  Nghe cô Xuân nói biệt danh của anh là Phi Vân Báo, anh mới xứng với con thần mã này, tôi là kẻ thất phu làm sao dám nhận.

Văn Bưu cười ha hả:

–  Anh khéo nhún nhường. Tôi là kẻ thô lậu nhưng cũng hình dung ra được một khi anh ngồi trên lưng con Huyết Long Câu, tay nắm đại đao thì có thua gì Quan Vân Trường quá ngũ quan trảm lục tướng. Ha…ha… Mà anh thiện dụng binh khí gì?

Quang Diệu nghe Văn Bưu nói quá về mình, lúng túng đáp:

–  Anh đừng nói quá khiến tôi hổ thẹn. Thầy tôi có để lại cho tôi một thanh Huỳnh Long bảo đao, thầy nói có từ đời Trần.

Văn Bưu vỗ tay nói:

–  Anh thấy chưa? Đây không phải là sự tấu xảo bình thường mà là sự sắp đặt tinh vi của trời đất. Anh nhất định phải nhận con vật này mới được. Nó đã tìm đúng chủ rồi đấy.

Quang Diệu vừa định lên tiếng từ chối thì Bùi Thị Xuân đã nói trước:

–  Anh đừng từ chối nữa. Phi Vân Báo một khi đã nói thì dù trời sập cũng không thay đổi được đâu.

Võ Văn Dũng cũng thêm vào:

–  Hắn có cả một trại ngựa quý, anh không cần ái ngại.

Quang Diệu chắp tay:

–  Ba người đã nói thế, Diệu tôi xin đa tạ vậy.

Chợt thấy Bùi Thị Xuân cũng dắt ngựa đi bộ, chàng dè dặt nói:

–  Chúng tôi là bọn thanh niên đi bộ còn được, cô Xuân đâu cần phải giống chúng tôi.

Văn Bưu nghe Quang Diệu nói liền cưới lớn:

–  Anh đừng nhìn tấm thân mảnh mai của cô ấy mà cho là đào tơ liễu yếu. Cô ta thường nói không làm được như Bà Trưng, Bà Triệu nhất định không chịu đó.

Quang Diệu vội phân bua:

–  Tôi đâu dám có ý coi thường, chỉ là…

Bùi Thị Xuân nhìn thấy sự lo lắng và vẻ bối rối của Quang Diệu, không hiểu sao tính cứng cỏi, thích tranh cường với nam nhân chợt biến mất, nàng mỉm cười:

–  Thôi được, để tôi cưỡi ngựa cho anh an lòng. Các anh tản bộ nhé.

Nói rồi nhún chân tung người đáp nhẹ nhàng lên lưng con Bạch mã của mình. Văn Bưu vỗ tay:

–  Chuyện lạ xảy ra rồi!! Bỗng dưng hôm nay Nữ tướng lại chịu khó nghe lời bọn nam nhân chúng ta rồi, mà lại nghe lời một kẻ người dưng khác họ nữa chứ. Ha … ha …

Bùi Thị Xuân nghe Văn Bưu ghẹo, hai má chợt đỏ hồng thật đẹp, nàng quất chiếc roi ngựa trong tay thật mạnh nghe đến “vút” vào vai Văn Bưu. Võ Văn Dũng đi cạnh vội đưa tay bắt gọn ngọn roi, mỉm cười nói:

–  Thôi đừng nổi nóng. Tôi thấy cô dịu dàng, e lệ như lúc nãy thật là đẹp, cô nên giữ như vậy để chờ Thi Sách đến rước về chứ.

Bùi Thị Xuân mặt đỏ hơn lên vì thẹn, nàng rút mạnh cây roi về rồi đánh “vút” vào khoảng không một tiếng, thúc ngựa phóng đi:

–  Không thèm đôi co với các anh nữa.

Chỉ thoáng chốc bóng nàng và con Bạch mã mất hút sau khúc quanh. Quang Diệu ái ngại nói:

–  Các anh chọc cô ấy giận rồi.

Văn Bưu cười:

–  Anh đừng lo, chúng tôi rất hiểu nhau, tính cô ấy không hay giận hờn bởi những chuyện đùa vui vớ vẩn đâu. Nhưng mà anh phải nhớ kỹ một điều, đừng bao giờ làm cho cô ấy giận thật đấy nhé. Cả một đàn voi cũng phải cúi rập xuống khi nàng hét lên đấy.

Quang Diệu nghe nói thè lưỡi lắc đầu.

*

Nguyễn Huệ và H’Linh về tới bản Đá Vách lúc mặt trời xế bóng. Quân triều đình đã rút đi, để lại một cảnh tượng tang hoang, đổ nát cho bản làng. Tại khu nhà làng đã bị phá hủy, mấy trăm người dân bản đang tụ tập quanh những xác chết của đồng bào và lính bản tử trận sắc mặt ai cũng buồn hiu, một số người vẫn còn than khóc. H’Linh vốn được dân trong bản rất yêu thương và xem như một Thánh nữ nên khi thấy nàng quay về mọi người đều vây quanh nàng reo lên mừng rỡ:

–  Thánh nữ trở về rồi! Thánh nữ đã trở về với bản rồi!

H’Linh nóng lòng hỏi Già làng:

–  Cha mẹ tôi đâu? Họ thế nào rồi, Già làng?

Già làng lên tiếng đáp:

–  Họ đã bị quân triều đình giết hại rồi. Chúng tôi đặt xác họ ở đầu kia.

H’Linh vội vã chạy đến nơi đặt xác cha mẹ mình, nàng òa lên khóc rồi nhào xuống ôm chầm lấy xác cha mẹ nức nở không cùng. Nguyễn Huệ để cho nàng khóc một lúc lâu mới đến đỡ nàng đứng lên, an ủi:

–  Cha mẹ H’Linh đã được Yàng rước lên trời rồi, H’Linh đừng buồn nữa. Chúng ta hãy lo việc chôn cất những người đã chết. Các xác chết ở đây đã bắt đầu hư rồi.

H’Linh nức nở:

–  Ta thật có lỗi với cha mẹ ta.

–  Việc qua rồi. H’Linh có tự trách mình cũng không hơn được.

Một lúc sau tâm tình bớt xúc động, H’Linh tìm Già làng hỏi:

–  Khi nào thì chúng ta chôn cất cho họ, Già làng?

–  Ngày mai. Dân bản đã đào một huyệt mộ lớn để chôn tất cả chung một nấm mồ. Thánh nữ bấy nay đi đâu? Thánh nữ sẽ ở lại với bản làng chứ?

H’Linh gật đầu đáp:

–  Tôi ở lại đây. Sau chuyện tang ma, Già làng sai người dựng cho tôi một gian nhà bên suối Tử Tuyền nhé. Tôi sẽ ở tại đó.

Già làng nói:

–  Tôi sẽ cho người làm ngay.

Hôm sau cả bản tham dự đám tang tập thể chôn hàng ngàn tử sĩ trong một nấm mồ chung. Nguyễn Huệ hăng hái xắn tay cùng dân bản khiêng những xác chết đến huyệt mộ. Già làng nhìn thấy cách làm việc hăng say của Huệ đến độ mồ hôi, bùn đất trét lấm cả quần áo, mặt mày, ông rất vui, nói với H’Linh:

–  Những người bạn của Thánh nữ ai cũng vui vẻ, nhiệt tình.

H’Linh mỉm cười. Nàng đem một chiếc khăn lớn, vắt nước đến lau mặt cho Nguyễn Huệ, cười nhẹ nói:

–  Sao không để dân bản làm, ngươi đâu cần vất vả đến như vậy.

Huệ mỉm cười:

–  Có sao đâu. Tôi vẫn thích xắn tay làm hơn là khoanh tay đứng nhìn. Quen rồi.

Việc chôn cất vừa xong thì có một chàng kỵ sĩ trẻ cưỡi con Huyết Câu đến thăm bản. H’Linh vừa nhìn thấy chàng ta đã vội reo lên:

–  Tín Nhi. Ngươi cũng đến rồi ư? Ta thật nhớ ngươi. Ơ! Nhìn ngươi thật khác hẳn xưa kia.

Người mới đến chính là Tín Nhi, với mái tóc xỏa dài nhuốm bụi đường, quần thô, áo bạc như một phong trần lãng tử. Đặc biệt nét vui tươi yêu đời xưa giờ biến mất, trên khuôn mặt chàng, nay là một khối u buồn nặng trĩu. Tín Nhi nói:

–  Ta cũng nhớ ngươi lắm. Nghe tin bản bị tấn công, ta vội vã vượt ngàn dặm đến đây thăm ngươi. Ngươi vẫn khỏe chứ? Mọi người thế nào?

H’Linh buồn bã đáp:

–  Ta cũng mới trở về bản. Cha mẹ ta chết cả rồi. Ta thật có lỗi với họ.

Tín Nhi ngạc nhiên hỏi:

–  Chia buồn cùng ngươi. Ngươi đi đâu mà mới trở về?

–  Ta bỏ bản đi tìm Lâm ca gần một năm nay rồi. Hôm kia gặp A Nun ta mới biết bản bị tấn công. À để ta giới thiệu với ngươi người bạn mới của ta. Nguyễn Huệ, người đã cứu ta thoát chết ở vực Trầm Hương. Hai người làm bạn với nhau đi.

Nguyễn Huệ chào:

–  Tôi nghe H’Linh nói tốt về anh rất nhiều. Tôi cũng đã từng hâm mộ anh trong chiến dịch đốt kho lương năm xưa. Mong được làm bạn với anh.

Tín Nhi buồn bã nói:

–  Xin đừng nhắc lại những chuyện xưa. Chúng ta là bạn.

Huệ nói:

–  Xin lỗi đã khơi lại nỗi đau.

H’Linh nói:

–  Đi, chúng ta lên đỉnh Thạch Bích nói chuyện. Ta nhớ nơi ấy quá.

Ba người cùng nhau phóng ngựa lên đỉnh núi. Họ đứng bên nhau nhìn quang cảnh điêu tàn của bản làng, trong sắc úa của rừng thu trông càng thê lương, ảm đạm. H’Linh rơi lệ nói:

–  Chiến tranh thật ác độc. Tại sao chúng ta phải chém giết nhau mới được chứ?

Giọng Tín Nhi đầy ắp căm hờn:

–  H’Linh đã ghé lại Truông Mây rồi phải không? Nấm mồ chung ở đó còn lớn hơn ở đây nhiều lần. Hận này làm sao nguôi được.

H’Linh hỏi:

–  Từ ngày rời khỏi nơi đây ngươi đã làm gì?

–  Ta đi tìm sư phụ mới biết người đã bị thiêu chung với kho lương Phú Đăng. Sau đó nghe tin Truông Mây bị Chú Nhẫn phản bội, đầu độc anh em đến phải tan tành, ta đã đi khắp nơi tìm hắn.

Nguyễn Huệ hỏi:

–  Ngươi có tìm được hắn không?

Giọng Tín Nhi chắc nịch:

–  Chưa. Nhưng ngày nào còn sống ta nhất quyết phải tìm cho ra, đem tim hắn về tế trước nấm mồ chung của Truông Mây.

Huệ hỏi:

–  Trời đất mênh mông, nhưng lưới trời tuy thưa mà khó lọt. Ta tin ngươi sẽ tìm gặp hắn. Ngươi đã đi những đâu?

Tín Nhi đáp:

–  Nghe nói hắn được bổ một chức Tri huyện. Ta đã bắt đầu lùng tìm từ Quảng Ngãi ra đến sông Gianh. Ta sẽ tiếp tục đi từng huyện một, lật tung cả nước lên để tìm hắn cho bằng được.

H’Linh nói:

–  Ngươi có giết hắn ta, mọi chuyện cũng đã lỡ rồi, Truông Mây và nghĩa sĩ đều đã chết. Ngươi tự hành hạ mình như thế để làm gì. Coi ngươi bây giờ đâu còn là Tín Nhi vui vẻ yêu đời như lúc xưa.

Tín Nhi nhìn bạn:

–  Ngươi là Thánh nữ nơi bản rừng, ngươi không biết được lý lẽ của con người chúng ta dưới kia đâu. Xin lỗi, việc này ta không thể nghe lời ngươi được. Ngươi có chút tin tức gì về Lâm ca và đại ca Lía không?

H’Linh thở dài:

–  Không. Đi đâu cũng nghe người ta nói rằng hai người đã chết nhưng không ai biết họ chết ở đâu cả. Ta thật không tin họ đã chết. Một người tốt như Lâm ca phải được thần linh che chở, không thể chết oan uổng như vậy được.

–  Ngươi sẽ ở lại bản rừng chứ?

–  Ừ. Ngày mai Già làng sẽ dựng cho ta một căn nhà bên suối Tử Tuyền, ta sẽ ở đó cho đến trọn đời. Hai ngươi thỉnh thoảng ghé thăm ta nhé.

Nàng nhìn Tín Nhi và Nguyễn Huệ, ánh mắt đượm buồn. Cả hai chàng thanh niên đồng thanh nói:

–  Chúng tôi sẽ ghé thăm H’Linh.

H’Linh tháo thanh nhuyễn kiếm quấn nơi lưng ra đưa cho Tín Nhi nói:

–  Ngươi giữ vật này đi, của Lâm ca đó. Ta muốn quên tất cả những việc đã qua.

Tín Nhi nhận thanh kiếm, nhìn bạn bằng ánh mắt thông cảm:

–  Cũng được. Chúc ngươi an bình suốt đời. Ta sẽ ghé thăm.

***

Trong khi H’Linh, Tín Nhi và bao nhiêu người khác tìm kiếm mà không thấy tung tích hai vị thủ lĩnh Truông Mây thì trong gian nhà trúc, trên một sườn đồi cuối dãy núi Bà gần cửa Cách Thử, Trần Lâm cũng bắt đầu phục hồi lại trí nhớ của mình. Từ lúc được Lía cõng chạy trốn may gặp được ông cháu Vũ Đức và Đoan Trang cứu chữa, tuy họ đã hết lòng chăm sóc để đáp ứng lời hứa trước xác chết của Chú Lía, nhưng vết thương sau não bộ đã khiến chàng hôn mê đến năm sáu ngày liền. Vũ Đức không ngừng dùng kim châm kích huyệt để kích thích hệ thần kinh, nhờ vậy, tuy tình trạng hôn mê kéo dài, hệ thần kinh não bộ của Trần Lâm may mắn không bị tê liệt, nhưng dù sao cũng không tránh khỏi thiệt hại về trí nhớ. Lúc vừa tỉnh lại, Lâm như một người mất hết thần trí. Chàng quên hết mọi chuyện, ngay cả mình là ai, tên gì cũng không nhớ nổi.

Sau một tháng, các vết thương đã lành. Ba tháng sau, nhờ sự tận tình, kiên nhẫn và khéo léo của Đoan Trang, trí nhớ chủa chàng dần dà hồi phục, và phải mất một thời gian khá lâu sau đó chàng mới có thể trở lại bình thường. Trong suốt thời gian đó, Đoan Trang vì ở vào thế bắt buộc nên phải chăm sóc người bệnh, bỏ qua cả sự tỵ hiềm nam nữ, trong khi Vũ Đức thấy cô cháu ngoan của mình nay đã gặp được người xứng đáng nên trong bụng cũng mừng thầm, do đó mọi việc ông cứ đẩy mặc cho Đoan Trang lo liệu.

Với Đoan Trang, từ sự lo lắng và chăm sóc cho người bệnh, theo thời gian tình cảm cũng đã âm thầm nẩy nở trong tim. Huống chi, sự giao tiếp nam nữ bấy lâu đã khiến tấm thân xử nữ không còn trong trắng nữa, vì vậy tự trong thâm tâm, nàng coi kiếp này của mình đã thuộc về chàng trai mỹ mạo, anh hùng kia. Nhưng tình cảm càng nẩy nở trong tim, sự lo âu trong lòng nàng càng thêm lớn. Nàng sợ rằng niềm hạnh phúc đến bất chợt lần này rồi cũng sẽ như bao lần trước trong đời nàng lại bất chợt ra đi. Ai biết được cánh chim bằng kia rồi sẽ nhớ đến khung trời rộng mà tung cánh bay đi? Gẫm nhìn lại đời mình nàng càng thêm lo sợ trước bao nhiêu lần được, mất qua tay. Cho nên nàng thật muốn quên đi cái dĩ vãng đau thương và đen đủi, để những niềm bất hạnh kia không còn đeo đuổi cuộc đời mình nữa. Nàng âm thầm khấn nguyện trời cao xin đừng lấy đi niềm hạnh phúc nàng đang có trong tay như đã từng cướp đi của nàng suốt quảng đời thơ dại. Cho nên, trong vài lần ít ỏi hai người có dịp tâm sự với nhau, nàng không bao giờ nhắc đến quá khứ của mình.

Tâm tình của Trần Lâm cũng chẳng hơn gì Đoan Trang. Khi trí nhớ được phục hồi, hình ảnh nàng tiên dịu dàng, trầm lặng, đã in sâu vào tâm khảm, vào trái tim từ lâu vẫn thờ ơ với người khác phái của chàng. Sự chăm sóc ân cần, hơi ấm từ làn da mềm mại, những ngón tay êm ái, mùi hương tóc… tất cả những thứ đó kết thành một thứ thuốc tương tư đầy ma lực bất khả kháng cự, nó đã dằn vặt khiến chàng thao thức từng đêm. Nhưng sự im lặng, kín đáo của Đoan Trang khiến cho chàng đã bao lần muốn thổ lộ cũng phải ngại ngần, câm nín.

Từ lúc nghe kể lại người đại ca thân yêu của mình cắt đầu tự vận, thêm vào hình ảnh thê lương của bao nhiêu anh em nghĩa binh ngã xuống đã khiến cho cõi lòng Trần Lâm nguội lạnh như tro tàn. Bao nhiêu hào khí bồng bột ngày xưa giờ bỗng tiêu tan như mây khói. Chàng quyết định gạt bỏ quá khứ, lánh khỏi cuộc đời, gạt bỏ ngoài tai chuyện thế sự. Điều mà chàng hướng tới và mong mỏi bây giờ là một tình yêu, một mái ấm hạnh phúc của một gia đình. Những thứ đó chỉ có thể tìm được tại ngôi nhà trúc xinh xắn nhưng ấm áp đầy tình thương này. Hạnh phúc đó đối với chàng lúc này lớn lao biết bao. Lớn đến độ chàng cảm giác nó thật gần trong tầm tay, nhưng lại lo sợ không dám với tới, bởi vì chàng cho rằng mình không đủ diễm phúc để được hưởng. Từ đó mà ngại ngần, mà thầm lặng. Người ta như tiên nữ, mình chỉ lả kẻ phàm phu, mở lời sao đây!

Nhưng thời gian đã giúp cả hai. Cho đến khi họ cảm được và chấp nhận tình yêu của đối phương dành cho mình thì cũng là lúc Vũ Đức bắt đầu lâm trọng bệnh. Con tạo thật trớ trêu nên khiến xui cho cả ba người suốt một thời gian dài không một ai nhắc đến chuyện quá khứ của mình. Họ một lòng nghĩ đến tương lai, cũng chỉ vì quá khứ của cả ba đều là một chuỗi dài bất hạnh. Phải chi!!. Nếu!! Một trong ba người chịu nói!!… Oái oăm thay không ai trong ba người họ chịu nói ra. Thế gian này là vậy, bởi con tạo thật oái oăm. Sự oái oăm đó đã kết thành một mối tình oan nghiệt, đong thêm vào bể trầm luân của cõi hồng trần những suối lệ oan khiên, một thiên tình sử vừa bi thương vừa diễm tuyệt.

Một hôm chỉ có một mình Trần Lâm bên giường bệnh, Vũ Đức hỏi:

–  Ngoại nay đã tuổi đã cao, sắp đến lúc phải ra đi. Đời ngoại chỉ có mình Đoan Trang là thân thích nên muốn ký thác lại nhờ cháu chăm sóc. Ý cháu thế nào?

Trần Lâm vội nói:

–  Ngoại còn khỏe, sao lại nói chi những lời trăn trối ấy.

–  Ngoại biết rõ sức khỏe của mình. Cháu trả lời đi.

–  Dạ. Ngoại không cần nói lời ký thác, đó là bổn phận của cháu phải làm mà.

–  Ngoại không muốn nói đến chuyện bổn phận, ngoại muốn nói đến chuyện tình cảm của hai đứa.

–  Ý ngoại thế nào, con xin vâng theo.

–  Ngoại muốn trước khi nhắm mắt được chứng kiến hỷ sự của hai con.

–  Con xin vâng lời ngoại, chỉ sợ Đoan Trang..

–  Ngoại đã hỏi ý nó rồi. Tụi con chuẩn bị đi, năm hôm nữa đến rằm tháng tám, chúng ta cử hành hôn lễ.

–  Chỉ có ba người nhà mình thôi hả ngoại?

–  Chỉ có vậy. Bên ngoài họ còn treo giải thưởng ngàn vàng cho chiếc đầu của con, không nên lộ diện.

Đêm rằm tháng tám năm đó, một đám cưới nhỏ chỉ có ba người đã diễn ra. Vũ Đức làm chủ hôn thay mặt cho cả hai họ đàng trai và gái. Ông hết sức vui mừng cho sự kết hợp toàn mỹ của đôi trai tài gái sắc này. Cũng có lẽ vì sự vui mừng quá lớn đó, không lâu sau khi làm đám cưới, bệnh ông đã trở nặng hơn và qua đời. Đoan Trang than khóc khôn cùng, Trần Lâm phải an ủi mãi nàng mới nguôi ngoai. Thời gian thấm thoát, sự đau xót qua đi, niềm hạnh phúc lứa đôi kéo về tràn ngập. Từ đó họ sống êm ấm và thầm lặng bên nhau dưới mái gian nhà trúc đầy thơ mộng, tách rời hẳn thế giới loạn lạc, đầy đau khổ bên ngoài.

Khung cảnh và cuộc sống thần tiên đó còn được tô điểm thêm bởi tiếng hồng chung bên chùa Ông Núi và tiếng sáo từ làng Phương Phi mỗi chiều về vang vọng khắp không gian. Chẳng thế mà dân chúng quanh vùng Cửa Thử vẫn truyền tụng hai câu ca dao:

Chiều chiều vượn hú trên ngàn

Hồng chung Ông Núi, sáo làng Phương Phi.

***

Sau khi giúp H’Linh dựng xong gian nhà ở suối Tử Tuyền, Nguyễn Huệ và Tín Nhi từ giã nàng ra đi. Đến đường thượng đạo dọc theo bờ lũy, Nguyễn Huệ hỏi:

–  Ngươi đi đâu?

Tín Nhi đáp:

–  Xuân thu nhị kỳ ta đều ghé về Truông Mây nhang khói. Ta trở lại đó. Ngươi đi cùng ta không?

–  Đi. Ta cũng muốn ghé thăm và lạy trước nấm mồ của những trang nghĩa sĩ một lần.

Tín Nhi bèn dẫn Nguyễn Huệ đi theo con đường tắt mà chàng thường dùng lúc xưa mỗi bận lên Đác Vách. Sau hơn một năm, căn cứ địa của cuộc kháng chiến đã trở thành một khu rừng hoang dại, thành quách tan hoang, cỏ dại phong rêu, không một bước chân người. Dân địa phương dù thương tiếc những chàng nghĩa sĩ đã hy sinh cho họ, nhưng ít có ai dám ghé lên thăm vì họ đồn rằng, đêm đêm, nơi thành cũ có nhiều tiếng than khóc của những oan hồn. Tín Nhi thắp nén nhang, rưới rượu xuống đất rồi cả hai chàng thanh niên quỳ lạy trước nấm mộ khổng lồ trước kia dân địa phương đã chôn chung mấy ngàn xác chết. Ngồi trước mộ, Tín Nhi cầm bình rượu tu một hơi rồi đưa sang cho Nguyễn Huệ, giọng ngậm ngùi:

–  Người dân quanh vùng nói, đêm đêm ở đây văng vẳng tiếng khóc than của những oan hồn chưa tiêu tán. Có lẽ anh em muốn nhắc ta phải tìm cho được tên phản bội đem về tế họ, họ mới siêu thoát được.

Huệ tu một hơi rượu, trao bình lại cho Tín Nhi:

–  Ngươi một mình lặn lội, trời cao đất rộng biết ngày nào mới tìm thấy hắn. Sao không nhờ bang Hành Khất giúp một tay.

–  Có chứ. Hôm đám tang lão bang chủ Trần Kim Bằng ta có nhờ anh Tiểu Phi.

–  Phong Điền Tiểu Tử Tiểu Phi nay đã là bang chủ bang Hành Khất rồi phải không? Anh ta hiện ở đâu?

–  Ừ. Ta vừa gặp anh ấy tại cửa Hàn, chắc còn ở đó.

–  Ta sẽ ghé ra tìm gặp anh ấy một phen. Anh Nguyễn Văn Tuyết, sư đệ của Tiểu Phi đang ở trên Tây Sơn thượng.

–  Ta nghe đồn anh Nguyễn Nhạc kết giao anh hào, chiêu tập, bảo bọc cho những người cùng khổ. Anh em các ngươi đang dự tính điều gì?

–  Đất nước tang hoang, bà con đói khổ. Anh Cả muốn dựng lại một Truông Mây thứ hai ở Tây Sơn, ngươi giúp ta một tay chứ?

–  Đợi ta moi xong trái tim tên phản bội đã, ta sẽ đến tìm ngươi.

–  Lúc trước ngươi ở trong đội thám báo của Truông Mây, anh em trong đội có còn ai không?

–  Còn nhiều. Vì đa số thám báo đều nằm trong lòng đất địch nên thoát được thảm hoạ ở Truông Mây. Ngươi muốn ta kêu gọi họ trở lại phải không?

–  Nếu ngươi chịu giúp ta việc này thì còn gì quý hơn nữa. Họ tản mác cả, làm sao quy tụ họ về?

–  Bọn ta có ám hiệu riêng. Thật ra bấy lâu nay ta vẫn liên lạc với họ để truy tìm tung tích tên phản bội.

–  Ngươi có nghĩ rằng tên Chú Nhẫn kia thay vì nhận một chức Tri huyện, hắn đã xin một chức vụ khác để đánh lạc hướng tìm kiếm của nghĩa sĩ Truông Mây không?

Tín Nhi bật người dậy nói lớn:

–  Đúng rồi! Sao ta không nghĩ ra điều này nhỉ? Cái vụ chỉ thị bổ nhiệm chức Tri huyện đã bị nói lộ ra, một tên cáo già như hắn sao lại không biết. Ta thực ngu ngốc, cứ bỏ công lục tìm các tên tri huyện khắp nơi mà không chú ý đến những ngõ ngách khác.

Huệ mỉm cười:

–  Ngươi đừng tự trách. Người ngoài cuộc bao giờ cũng sáng hơn. Ta hy vọng cả toán thám báo và anh em hành khất sẽ sớm tìm ra hắn.

–  Nhất định phải tìm cho ra.

Huệ nheo mắt nhìn Tín Nhi:

–  Nếu ngươi là Chú Nhẫn, ngươi sẽ tìm đến nơi nào để an thân? Tránh được tai mắt của bọn hành khất?

–  Ta phải tìm nơi nào ít có ăn mày. Miền Nam! Đúng rồi! Miền Nam mênh mông, trù phú, lực lượng bang Hành Khất trong đó rất mỏng. Nếu là ta, ta sẽ trốn trong đó.

–  Chưa hết. Tìm một người đàn ông cố dấu mặt sẽ khó hơn tìm một người đàn bà đẹp, lại có uy quyền. Nghe nói thiếu phụ Quỳnh Dao xuất thân là một ca kỷ rất xinh đẹp, nay trở thành một mệnh phụ tất sẽ cố ý khoe khoang với mọi người. Ngươi nói cái đạo lý này có đúng không?

Tín Nhi vỗ tay đánh “bốp” một tiếng reo lên:

–  Ngươi quả nhiên là tay cơ trí. Ta chịu ngươi rồi đó.

Huệ mỉm cười:

–  Chúc ngươi thành công.

–  Ta phải cảm ơn ngươi trước.

–  Khỏi. Còn vài việc ta muốn hỏi thăm ngươi.

–  Hỏi đi.

–  Ta chưa có dịp ra miệt ngoài kia. Tình hình ngoài đó và phủ Chúa giờ ra sao?

Tín Nhi trút những giọt rượu cuối cùng trong hũ vào miệng mình rồi ném cái hũ ra xa:

–  Phủ Chúa giờ như cái hũ rượu trống không kia. Mọi thứ đều chui vào túi tên chó Quốc phó và bọn phe cánh của hắn. Sau chiến thắng Truông Mây, bọn chúng huyênh hoang nức dạ, chẳng còn coi Định Vương ra gì, mặc tình mua quan bán chức. Ngươi có bao giờ nghe trong lịch sử nước mình, một xã mà có hơn mười tên xã trưởng, mười mấy ông tướng thần đi bóp cổ dân đen thu thuế không?

–  Hừ! Quân đội thì sao?

–  Những lực lượng chủ chốt của phủ Chúa, nhất là phủ Quy Nhơn hầu hết đã bị tiêu diệt trong cuộc chiến với Truông Mây. Đám lính mới bây giờ được bổ sung đa số là thanh niên con nhà cùng đinh khố rách, hoặc lính già, lính kiểng. Đám lính đó cộng với đám quan dốt và chết nhát, hám lợi bây giờ, chỉ cần mình la ó rùm beng lên là đủ rượt chúng chạy cong đuôi rồi, khỏi cần đánh đấm mẹ gì cả.

–  Bây giờ nhìn lại cuộc chiến đã qua, ngươi có những kinh nghiệm gì?

Tín Nhi ngậm ngùi thở dài:

–  Ta là người gần gũi với Lâm ca, lúc ấy vì sợ anh em nản lòng nên Lâm ca không dám nói ra, nhưng có lần anh ấy than thở với ta rằng Truông Mây không được thiên thời. Bao nhiêu lần, cơ thắng lợi trong tầm tay thì trời lại phá hỏng. Chủ trương của Đại ca Lía lại quá nhân từ, dang tay quá rộng để cưu mang đồng bào nghèo khó. Nhưng điều quan trọng nhất là binh lực của phủ Chúa hùng hậu hơn sự đánh giá của Truông Mây. Thêm vào đó sự cố đốt phủ Quy Nhơn gây nên chiến tranh sớm hơn dự tính, do đó Truông Mây chưa đủ thực lực.

–  Theo ngươi tình hình bây giờ thế nào?

–  Trái cây đã chín muồi, ngươi không ăn, kẻ khác sẽ giành mất.

–  Nghe nói Vô ảnh phi đao của Triệu Thiên Tường là tuyệt đỉnh võ học của dòng dõi danh thần Lê Sát, ở Truông Mây có ai học được không hay đã thất truyền?

Tín Nhi buồn bã đáp:

–  Ta. Tường ca thấy ta có hai bàn tay khéo, bàn tay móc túi mà, nên đã truyền lại bí quyết phi đao cho ta. Trước khi lên đường đi Đá Vách xin viện lương, Lâm ca lại dạy cho ta một bài “Cái thế thần côn” và tặng ta cây roi thật quý. Ta may mắn nhận được bao điều tốt lành của anh em ban cho, vậy mà chỉ một tên phản bội cũng không tìm ra được để an ủi linh hồn của họ. Thật vô dụng.

Huệ vỗ vai bạn an ủi:

–  Ngươi đừng buồn. Ngươi đã cố gắng hết sức mình. Mà ta tin ngươi sẽ tìm ra tên phản bội đó một ngày gần đây.

–  Sao ngươi lại hỏi về môn Vô ảnh phi đao?

–  Ta sợ tuyệt học của nước nhà bị thất truyền. Về sau, nếu có điều kiện ta muốn thống nhất nền Việt Võ Đạo thành một mối, có hệ thống đàng hoàng để có thể đối kháng với võ học Trung Hoa.

–  Mới quen nhưng ta biết ngươi là người có đại chí. Ta sẽ giúp ngươi tất cả những gì ta có thể. Ngươi thiện dụng binh khí gì?

–  Món nào ta cũng sờ được cả.

–  Ta đã có cây nhuyễn kiếm, tặng lại ngươi cây roi của Lâm ca. Ngươi quấn ngang lưng, rất tiện dụng.

Bèn rút cây roi quấn quanh người ra đưa cho Nguyễn Huệ. Huệ cầm cây roi mềm mại như nhuyễn tiên, vận công vào, cây roi bỗng cứng lên như sắt nguội. Chàng thích thú nói:

–  Cây roi thật quý. Cảm ơn ngươi.

–  Ta còn một kho binh khí cổ của sư phụ sưu tầm mấy mươi năm qua, ta sẽ tặng ngươi để sử dụng trong quân sau này. Ngươi có thể dùng nó làm giải thưởng trong các kỳ khảo hạch tướng sĩ.

Huệ mừng rỡ nói:

–  Thật ư? Ngươi cất ở đâu?

–  Trong một hang động ở Trưng Sơn, gần nhà của ngươi.

Tín Nhi bèn chỉ đường cho Huệ, xong nói:

–  Ngươi cứ tự tiện sử dụng. Ở đó có đủ thập bát ban binh khí, món nào cũng giá trị liên thành cả đấy.

–  Ta có nghe thầy ta nói về cái thú sưu tầm binh khí cổ của sư phụ ngươi. Thật là một thú chơi hiếm có trên thế gian. Sao lúc trước thầy ngươi không đem tặng các tướng lĩnh Truông Mây?

–  Ta cũng không hiểu. Có lẽ vật quý phải chờ đúng chủ mới xuất hiện. Bây giờ ngươi theo ta, ta còn một món quà nữa tặng ngươi.

Cả hai lên lưng ngựa, Tín Nhi đưa Nguyễn Huệ vào sâu trong núi phía sau thành Truông Mây. Đến một vách núi nơi có một tảng đá lớn, cả hai xuống ngựa, Tín Nhi tung người nhảy lên đỉnh tảng đá, Huệ nhảy lên theo. Phía sau tảng đá là một cửa động nhỏ, cả hai nhảy xuống rồi len vào. Bên trong là một hang động vô cùng lớn, ánh sáng từ một khoảng trống ở đỉnh bên trái chiếu xuống khiến lòng động sáng rỡ. Nguyễn Huệ giật mình khi nhìn thấy hàng trăm lò rèn lớn, nhỏ đủ cỡ, rất nhiều binh khí chưa rèn xong còn nằm cạnh các lò. Tín Nhi dẫn Nguyễn Huệ vào sâu hơn, ở đây chứa hàng ngàn binh khí đủ loại, kiếm, đao, thương, câu liêm… Tín Nhi nói:

–  Đây là nơi rèn vũ khí của Truông Mây, may mắn quân triều đình không phát hiện ra. Giao lại cho ngươi.

Nguyễn Huệ cầm thử một vài binh khí lên coi, nước thép rất tốt, kỹ thuật rèn rất tinh xảo. Chàng không dấu được nỗi vui mừng và cảm động, nắm tay bạn nói:

–  Với ngươi không thể nói tiếng cảm ơn. Được, ta dẫu nát thân cũng không phụ lòng ngươi.

Tín Nhi cười:

–  Lời nói đó hơn hàng vạn tiếng cảm ơn.

–  Kho binh khí không bị phát hiện, anh em thợ rèn chắc không hề gì chứ?

–  Sau khi Truông Mây tan nát họ tản mát khắp nơi, nhưng người lò trưởng Hồ Thiết Thủ thì ta biết hiện ở đâu.

–  Tốt quá, ta muốn gặp ông ta.

–  Ta đưa ngươi đi.

……………………….

(xem tiếp vào thứ ứbảy tuần sau – 3-10-2015)

NTSH – Hồi thứ nhất (tt)

Kỳ 175:

………

Thân hình Nguyễn Huệ vừa chạm mặt nước, chàng vội lặn sâu xuống bên dưới tàng cây, lùng tìm cô gái nọ. Nước trong vực lạnh như băng, bên dưới lại có một lực hút kỳ lạ nên thân hình cô gái chìm rất nhanh. Nguyễn Huệ cố sức phóng người theo, khi chàng ôm được H’Linh thì cả hai đã bị một dòng xoáy cuốn đi rất nhanh xuống đáy vực. Khí lạnh căm căm cộng vào sức ép rất lớn của đáy vực khiến cả hai ngất đi.

Thời gian không biết bao lâu, khi Nguyễn Huệ tỉnh lại thấy mình đang nằm trên một bãi cát cạnh mép nước, thân hình cô gái đang nằm đè bên trên, từ thân thể cô ta tỏa ra một làn hơi ấm kỳ lạ truyền sang người chàng. Huệ rất ngạc nhiên nhưng thoáng chốc chàng đã biết có lẽ nhờ làn thân nhiệt toát ra từ người cô gái truyền sang giải tỏa bớt khí lạnh trong cơ thể giúp chàng tỉnh lại. Cô gái cũng đã tỉnh dậy. Chung quanh bóng tối dày đặc, cô gái biết mình đang nằm trên người của một ai đó nên hoảng hốt lăn xuống và ngồi ngay dậy, giọng run run:

–  Ngươi là ai? Ta đang ở đâu đây?

Nói đến đây cô nôn thốc ra cả đống nước. Nguyễn Huệ cũng từ từ ngồi dậy, giống như H’Linh, chàng cũng nôn ra thật nhiều nước. Chợt cô nhìn thấy ánh sáng tỏa ra lờ mờ từ đôi mắt của một người, nàng tưởng ma nên càng sợ hơn, la lớn:

–  A! Ma!! Là ma!!!

Giọng Nguyễn Huệ run run vì lạnh:

–  Là ta chứ không phải là ma, cô đừng sợ.

H’Linh nghe tiếng nói của người thì đỡ sợ hơn nhưng vẫn chưa tin:

–  Ngươi là người ư? Sao đôi mắt ngươi có ánh sáng như ma vậy?

–  Đó là điểm đặc biệt của ta. Ui, lạnh quá, cô không sợ lạnh sao? Ta thấy lạnh đến tê cóng cả người.

H’Linh đáp trong bóng tối:

–  Ta không sợ lạnh. Trước kia Lâm ca có cho ta uống tinh hỏa của con Độc Hỏa xà, trong người ta có một luồng nhiệt khí lưu thông nên hàn khí bất xâm.

Nguyễn Huệ hai hàm răng đánh cầm cập vào nhau:

–  Ra là thế. Cô chờ ta một chút nhé, ta phải vận công trục hàn khí trước đã.

Rồi chàng dịch người vào bờ cát, ngồi theo tư thế kiết già nhắm mắt vận công kích thích chân hỏa trong người, đưa chân hỏa từ huyệt Khí Hải lên Đan Điền rồi luân chuyển ra khắp châu thân. Đây là lối hành công theo Tiên Thiên Vô Cực huyền công của thầy Giáo Hiến truyền lại cho chàng. H’Linh cũng ngồi trước mặt Huệ nhắm mắt dưỡng thần. Khá lâu sau, Nguyễn Huệ mở mắt ra thở phào nói:

–  Đỡ rồi. Cô có bị thương tích gì không?

– Không. Ta rớt xuống hồ một lúc thì bị ngươi ôm chặt cứng, sau đó dòng nước cuốn đi đến khi tai ta nhức quá lại bị ngộp nước đến độ ngất đi không biết gì nữa. Giờ thì ta thấy rất bình thường. Ngươi là ai?

–  Ta tên Nguyễn Huệ. Cô là ai? Vì sao tên khốn kia lại chặt cây hại cô?

–  Ta tên H’Linh, người bản Đá Vách. Hắn trộm kiếm thần, bị cha ta bắn trọng thương, hắn thù nên muốn hại ta. Đây là nơi nào? Tối quá ta không thấy gì cả ngoài đôi mắt ngươi.

–  Ta cũng không biết. Giống như một hang động ngầm vậy. Có lẽ dòng xoáy dưới đáy vực quăng chúng ta vào đây. Cô đi theo ta, chúng ta tìm xem có lối nào ra không.

Chàng đứng lên đưa tay cho H’Linh nắm. Gần dòng nước ngầm chảy còn có chút ánh sáng lờ mờ, đi vào trong một đoạn, cảnh vật tối đen như mực. Cả hai lần mò tiến vào lòng động đá, Nguyễn Huệ nhờ đôi mắt có thần quang đặc biệt nên động càng tối, thần quang càng phát sáng hơn. Được một đoạn, chợt H’Linh vấp phải một vật gì dưới chân, nàng reo lên:

–  Chậm đã. Ta vấp phải vật gì như xương người thì phải.

Nàng cầm chặt tay Nguyễn Huệ hơn. Huệ dừng lại mò tìm dưới đất. Chàng mừng rỡ nói:

–  Đúng là một bộ xương người.

H’Linh nghe nói là bộ xương người thì sợ hãi níu chặt tay Nguyễn Huệ, giọng hơi run:

–  Là bộ xương người à? Ngươi đốt lửa lên đi!

–  Đúng vậy. Nhưng chết lâu rồi cô còn sợ gì nữa. Đá lửa của ta bị ướt hết rồi. Để ta xem có gì khác không.

Chàng mò mẫm tìm và reo lên:

–  Có rồi. Đá lửa và… hình như một gói đồ gì đó cạnh bộ xương. Để ta đánh lửa lên thử xem.

Chàng bèn đánh hai viên đá vào nhau, ánh lửa lóe lên. H’Linh mừng rỡ:

–  Thử tìm xem có vật gì cháy được không?

–  Ta có mang theo một cây đèn sáp bằng nhựa thông đây.

Bèn lấy cây sáp trong người ra rồi đánh lửa lên. Ngọn lửa bùng lên khiến cả hai phải nhắm mắt lại một lúc mới mở ra. Huệ soi cây đèn sáp quanh vùng để tìm cây khô. May mắn cho cả hai, trong lòng động có nhiều cây khô nằm rải rác khắp nơi, có lẽ bị dòng nước trôi dạt vào đây. Họ gom số cây khô lại thành một đống rồi châm lửa. Bây giờ thì hai người có thể nhìn thấy mọi vật trong lòng động. Cả hai đều tròn xoe mắt nhìn đối phương của mình, có lẽ trong thâm tâm mỗi người đều có một ấn tượng rất đẹp về người đối diện. Sau một thoáng bỡ ngỡ, cả hai bật lên cười. H’Linh nói:

–  Nhìn ngươi khá lắm. Ngươi bao nhiêu tuổi?

Huệ nói:

–  Ngươi cũng vậy. À không, phải nói rất đẹp. Ta mười bảy tuổi.

–  Vậy là chúng ta bằng tuổi nhau. Tại sao ngươi cứu ta?

–  Ta không biết. Thấy ngươi bị tên khốn kia hãm hại, ta không đắn đo cứ phóng đại theo. Không ngờ cái vực ma qủi này lạnh đến chết người lại có một lực hút hết sức kỳ lạ.

–  Cảm ơn ngươi.

Huệ cầm gói đồ bên cạnh bộ xương soi vào ánh lửa, gói đồ được gói bằng vải chống thấm nước kỹ lưỡng. H’Linh giục:

–  Mở thử xem bên trong có gì, chúng ta sẽ biết người nằm đây là ai.

Huệ bèn mở gói vải. Bên trong là hai cuốn sách cũ, một cuốn ghi “Ô Long đao pháp bí lục”, cuốn thứ hai đề “Hưng Đạo Vương – Binh Thư Yếu Lược”. Chàng mừng rỡ reo lên:

–  Thì ra đây là Ô Long đao phổ và cuốn binh thư của Đức Thánh Trần Hưng Đạo. Vậy ra người nằm đây chính là Trần Nguyên Hào. Nhưng nếu vậy thì thanh Ô Long đao ở đâu, chẳng lẽ bị bọn cướp lấy mất à?

H’Linh hỏi:

–  Ngươi biết lai lịch người này và hai cuốn sách kia à?

–  Ta có nghe Thầy ta nói về một thanh đao và hai cuốn sách này. Theo chuyện kể thì bộ hài cốt này chính là hiệp sĩ Trần Nguyên Hào. Hơn hai mươi năm trước ông bị một nhóm người Hoa ở Phúc Kiến dưới quyền tên Lý Văn Quang mưu chiếm Cù Lao Phố, tìm đến tàn sát cả Trần gia trang định cướp đoạt thanh đao quý của Đại Việt mình là Ô Long đao, nhưng Nguyên Hào đã chạy thoát. Nghe kể thì khi bị giặc đuổi cùng đường ông ta đã ôm thanh đao nhảy xuống vực này để khỏi bị bọn cướp chiếm đoạt. Nhưng ở đây chỉ thấy người mà không thấy thanh đao.

H’Linh nói:

–  Có thể khi rơi xuống vực, thanh đao rơi khỏi tay ông ta trôi đi mất.

Huệ nói:

–  Chắc là vậy. Thật đáng tiếc, đó là thanh bảo đao truyền quốc, dòng nước xoáy này biết làm sao tìm được. Nhưng thôi, chúng ta hãy cùng nhau lạy ông ta một lạy để tỏ lòng kính ngưỡng.

Nói xong chàng sụp lạy trước bộ hài cốt bốn lạy. H’Linh không hiểu chuyện nhưng thấy Nguyễn Huệ lạy nên nàng cũng quỳ xuống lạy theo. Lạy xong, Nguyễn Huệ giở cuốn Ô Long bí kiếp ra, bên trong có tóm tắt về lai lịch thanh Ô Long đao và những vị anh hùng đã cơ duyên sử dụng nó, còn lại là những hình ảnh và yếu quyết luyện tập đao pháp. H’Linh nói:

–  Chúc mừng ngươi. Ngươi vì tốt bụng muốn cứu ta nên gặp được hai bộ sách qúi này.

–  Tạ ơn anh linh tổ tiên. Cảm ơn H’Linh đã có ý tốt nhường những vật quý giá này cho tôi. Chúng ta hãy chôn cất bộ hài cốt này cho đàng hoàng. Ông ta xứng đáng là một vị anh hùng của dân tộc.

Chàng đào một huyệt sâu, cẩn thận đem bộ cốt đặt xuống, lấp đất thành một nấm mộ cao, sau đó rinh một tảng đá vôi lớn để trước mộ, dùng ngón tay, vận công khắc lên tảng đá hàng chữ “Mộ của hiệp sĩ Trần Nguyên Hào” bên dưới khắc thêm “Nguyễn Huệ và H’Linh đồng kính lập”. Xong, cả hai quỳ lạy trước mộ lần nữa.

H’Linh thấy Nguyễn Huệ dùng ngón tay khắc vào đá thì trợn mắt kinh ngạc hỏi:

–  Ngươi dùng võ công gì mà ghê gớm vậy?

Huệ mỉm cười:

–  Đó là môn Như Lai chỉ của thầy ta truyền cho.

Hai người ngồi bên đống lửa để sưởi ấm. Trong ánh lửa bập bùng, H’Linh như một nàng tiên nhỏ khiến Nguyễn Huệ không khỏi giật mình. Hình bóng thân yêu của Ngọc Lan chợt hiện lên trong trí, chàng thầm nghĩ: “H’Linh trông thánh thiện, ngây thơ như một nàng tiên nơi rừng núi, Ngọc Lan của mình lại dịu dàng, chất phát như một đóa lan bên hàng giậu ở mái trường”.

H’Linh thấy Nguyễn Huệ nhìn sững mình thì mỉm cười hỏi:

–  Ngươi đang nghĩ gì trong đầu mà nhìn ta lâu vậy?

Huệ giật mình nói quanh:

–  Ơ… Ta đang nghĩ vì sao cô lại từ Đá Vách đến ngồi trên vực thẳm để cho tên khốn đó hại suýt mất cả mạng như vậy.

Nét mặt H’Linh trở nên buồn rầu:

–  Ta nghe tin Truông Mây bị quân triều đình tiêu diệt, lại nghe người ta đồn Lâm ca và Chú Lía còn sống nên bỏ bản đi tìm.

–  Lâm ca của cô có phải là Tiểu bạch long Trần Lâm không?

–  Đúng vậy. Ngươi cũng biết Lâm ca à?

–  Biết. Ta có xem anh ta đoạt chức vô địch Anh hùng đại hội ở Quy Nhơn năm xưa. Ta cũng rất hâm mộ anh ta. Đời này chỉ có Lâm ca của cô và Chú Lía là xứng với hai tiếng “hiệp sĩ”. Cô không tìm thấy họ phải không?

–  Không. Ta đã đi khắp bốn phương trời nhưng không gặp. Hôm nay ta định trở về bản Đá Vách thì gặp A Nun mới bị nạn rơi xuống đây, cũng may có ngươi.

Huệ nghĩ thầm: “Không ngờ cô gái trông thánh thiện như tiên thế này lại là một người si tình hết mực”. Chàng đổi cách xưng hô, giọng thân mật:

–  Giờ đã thoát nạn rồi, để tôi tìm đường ra khỏi hang tối trời này rồi đưa H’Linh trở về Đá Vách.

–  Nghe A Nun nói bản đã bị quân triều đình tiêu diệt, cha mẹ ta đã bị giết, ta thật nóng lòng trở về nơi đó xem tình hình thế nào.

–  Tôi nghĩ thế nào cũng có đường ra bên ngoài.  Chúng ta phải ra khỏi nơi tối tăm này đã.  Đói rồi, thử tìm xem có gì để lót dạ không.

Chàng đứng lên cầm một thanh cây đang cháy soi khắp chung quanh nhưng chẳng có thứ gì. Cả hai lần ra mép nước, ngoài phía xa, tiếng dòng nước lạnh căm đang chảy mạnh, ven bờ, nước quận lại nên chảy chậm hơn. Chợt một con cá chép bị thu hút bởi ánh lửa bên trong, búng lên cao khỏi mặt nước rồi bơi ngược dòng lên trên. H’Linh reo lên:

–  Có cá chép đỏ kìa. Nhiều quá!

–  Phải chi có thanh kiếm thì hay quá, ta có thể xiên chúng như xiên thịt vậy.

H’Linh rút thanh nhuyễn kiếm quanh người đưa cho Huệ:

–  Ta có kiếm đây.

Nguyễn Huệ cầm thanh nhuyễn kiếm không khỏi ngạc nhiên. Chàng bèn vận công vào tay, thanh nhuyễn kiếm biến ngay thành thanh kiếm cứng rắn. Chàng phóng kiếm lia liạ xuống nước, khi rút thanh kiếm về, trên lưỡi kiếm đã có năm con cá chép lớn, màu đỏ tươi bị ghim trên đó. H’Linh vỗ tay khen:

–  Ngươi phóng kiếm thật chính xác. Vậy là khỏi sợ đói rồi.

Huệ cười:

–  Tôi bắt gần hết cá trên sông Côn nên rất quen tay. H’Linh không cần khen đâu. Bây giờ H’Linh nướng cá, tôi đi nhặt thêm cây khô để dự trử. Ăn xong chúng ta thử tìm xem cái động này dẫn tới đâu.

Loại cá chép đỏ sống trong vùng nước ngầm lạnh băng quanh năm có hương vị thật đặc biệt, vừa ngọt vừa thơm. Hai người ăn hết năm con cá lớn mà Nguyễn Huệ vẫn còn thấy đói, chàng lại xách kiếm ra đâm tiếp năm con nữa. Ăn hết mười con cá, Nguyễn Huệ lấy làm lạ vì cảm giác lạnh lúc trước chợt biến mất, trong người như có một luồng nhiệt khí lưu chuyển khắp châu thân tạo ra cảm giác rất sảng khoái, dường như trong thịt của loài cá chép đỏ ở nước lạnh có chứa rất nhiều dương tính giúp cơ thể chống lại hàn khí bên ngoài.

Ăn xong, mỗi người cầm trong tay mấy khúc cây dài, họ châm lửa vào một cây, bắt đầu dò đường ra khỏi hang động. Lòng hang có chỗ mở rộng, có chỗ thu hẹp lại chỉ vừa một người len qua, trên trần, thạch nhũ rũ xuống từng chùm tạo thành những hình thù hết sức kỳ thú. H’Linh không ngớt reo lên thích thú vì những hình tượng thiên nhiên muôn vẻ này. Đến một nơi, lòng hang bắt đầu có khe nước chạy dọc theo vách đá, nước trong khe không sâu lắm, có cả cá bơi lượn trong đó. Họ đi miết không biết bao lâu, những thanh gỗ trong tay nối đuôi nhau tàn đã gần hết vẫn chưa tìm thấy lối ra, H’Linh đâm sợ hỏi:

–  Sao đi mãi mà vẫn chưa có lối ra? Hay là hang này dẫn chúng ta xuống âm phủ?

Nói tới đây nàng bỗng rùng mình rồi nắm chặt cánh tay Nguyễn Huệ. Huệ cười:

–  Làm gì có âm phủ mà dẫn xuống. H’Linh đừng sợ, tôi tin là chúng ta sắp ra đến cửa hang rồi. Ráng lên chút nữa thôi.

Họ tiếp tục đi tới trước. Thấy H’Linh có vẻ đã mệt, Nguyễn Huệ đề nghị:

–  Nơi đây bằng phẳng, H’Linh ngồi nghỉ một lúc cho đỡ mệt đã, tôi tìm thêm một ít cây khô nữa để dự trữ. Cái hang động quỷ quái này không biết bao giờ mới là cuối đường hầm đây.

Rồi soi đuốc tìm nhưng quanh đây không có một vật gì có thể đốt được. Thấy Huệ tay không trở lại, H’Linh nói:

–  Chúng ta tiếp tục đi tới trước xem sao, nếu không hết cây đốt thì nguy.

Họ lại tiếp tục đi tới và cố đi nhanh hơn trước. Không biết mất bao lâu, ngọn lửa trên thanh gỗ cuối cùng vừa tàn thì ở phía xa xa đã có chút ánh sáng lờ mờ. H’Linh mừng rỡ reo lên:

–  Tới rồi kìa! Phía trước đã có ánh sáng rồi kìa!!

Nguyễn Huệ cũng mừng không kém, chàng thở một hơi dài nhẹ nhõm:

–  Vậy là thoát rồi. Đường hầm này dài ghê gớm thật. Để xem cửa ra là nơi nào.

Hai người nắm tay nhau bước thật nhanh. Họ vạch những dây leo chằng chịt, phủ kín cửa hang bước ra bên ngoài. Ánh sáng chói chang khiến cả hai phải nhắm mắt lại một lúc mới mở ra được. Một cảnh núi non hùng vĩ hiện ra trước mặt dưới ánh nắng ban mai. H’Linh reo lên:

–  Đẹp qúa, chẳng khác gì Thạch Bích Sơn của H’Linh.

Nguyễn Huệ thấy trước cửa hang có một vách đá phẳng và cao vút, bèn hỏi mượn thanh kiếm của H’Linh, dùng mũi kiếm khắc lên mấy chữ lớn: “Mùa thu năm Canh Dần – Nguyễn Quang Bình và H’Linh đã khám phá ra Hang Tối Trời này”.

H’Linh nhìn dòng chữ khắc trên vách đá, ngạc nhiên hỏi:

–  Ngươi không phải tên Huệ sao?

Huệ mỉm cười:

–   Quang Bình là tên chữ của tôi. Để tôi xem thử có nhận ra đây là nơi nào không nhé.

Bèn nhún chân nhảy lên một chỗ cao đưa mắt nhìn quanh quan sát. Một lúc sau chàng reo lớn:

–  H’Linh ơi. Tôi đã nhận ra được rồi. Đây chính là hòn núi nằm phía Bắc gần chân đèo Vĩnh Viễn[1]. Con đường này tôi đã đi qua mấy lần. Hay quá! Vậy là nơi đây không xa khu trại của anh tôi mấy. Đi, chúng ta về trại, sau đó tôi sẽ đưa H’Linh về bản Đá Vách.

H’Linh mừng rỡ, nàng cũng nhún chân phóng người lên đứng cạnh Huệ:

–  Thật ư? Ôi! Lạy đấng thần linh vô thượng! Thật là may mắn biết bao. Núi rừng ở đây hùng vĩ quá. Trại của anh ngươi ở đâu?

–  Trên kia. Lên khỏi đèo là tới rồi. Thân pháp của H’Linh thật cao siêu.

H’Linh quay sang Nguyễn Huệ, giọng đượm chút bùi ngùi:

–  Là Lâm ca dạy cho H’Linh đó, cả thanh nhuyễn kiếm cũng do Lâm ca tặng cùng một bài kiếm để H’Linh phòng thân. Vật còn đây mà người thì bặt vô âm tín.

Nàng thở dài buồn bã tiếp:

–   Đứng trên đỉnh núi này với ngươi làm H’Linh nhớ đến Tín Nhi. H’Linh và Tín Nhi vẫn thường đứng trên đỉnh cao của Thạch Bích Sơn ngắm cảnh, luyện kiếm và trò chuyện.

Huệ hỏi:

–  Tín Nhi nào? Có phải Tiểu Thâu Nhi một kiếm đâm chết Quỷ Kiếm Ma Đao Lương Bát Vạn khi đốt kho lương Long Phượng năm trước không?

–  Đúng rồi. Hắn là một người rất tốt, vui tính, trung can, nghĩa đảm.

–  Lúc Truông Mây gặp nạn, anh ta có thoát được không? Tôi rất tán thưởng tính cách và hành động dũng cảm của anh ta.

–  Có, lúc Truông Mây bị tiêu diệt, Tín Nhi đang ở bản Đá Vách để xin Cha H’Linh chi viện lương thực. Sau đó hắn xuống Mộ Hoa để dò tìm tin tức của Sư phụ, nhờ vậy mà thoát nạn.

–  Bấy nay H’Linh có gặp lại anh ta không?

–  Không. H’Linh rất muốn gặp Tín Nhi, giờ đây H’Linh chỉ còn mình hắn là bạn.

Huệ nhìn H’Linh mỉm cười:

–  Còn tôi thì sao? H’Linh không coi tôi là bạn à?

H’Linh vội chữa:

–  Có chứ, ngươi nữa là hai người.

–  Sau khi về thăm Đá Vách, chúng ta đi tìm Tín Nhi và Lâm ca của H’Linh, đồng ý không?

–  Được như vậy thì còn gì hay bằng. Thôi chúng ta đi, H’Linh nóng ruột lắm rồi.

Hai người nhảy xuống đất. Huệ nói:

–  Phải ghé lại trại của tôi một lúc, trước báo cho anh Cả biết tôi đã thoát nạn nếu không anh ấy sẽ lo, sau đó lấy hai con ngựa để làm chân.

Họ vừa ra khỏi vùng núi đến chân đèo An Khê thì gặp một đoàn người ngựa mấy mươi người đang thồ rất nhiều hàng hóa lên đèo. Gặp những người này, Nguyễn Huệ mừng rỡ reo lên:

–  Kìa, anh Năm Ngạn. Các anh vừa từ mạn dưới lên tới à?

Người đàn ông tên Năm Ngạn, tức Phạm Ngạn, tuổi trạc hai bảy, hai tám, bạn buôn nguồn chung mà cũng là cánh tay phải của Nguyễn Nhạc. Họ đang chở những hàng hoá dưới mạn xuôi lên Tây Sơn thượng đạo để trao đổi hàng với người Thượng. Năm Ngạn thấy Huệ đi chung với một cô gái giữa rừng đèo mà không có ngựa thì ngạc nhiên hỏi:

–  Ừ, toán của anh vừa lên đến đây. Chú Huệ sao lại đi bộ lang thang ở đây? Ngựa đâu?

Huệ cười đáp:

–  Bọn em bị rớt xuống Vực Trầm Hương rồi lạc vào Hang Tối Trời, dò dẫm mãi mới lọt ra giữa chân đèo này. Đang định lên trại cho anh Cả hay, sợ ảnh lo.

Huệ nói xong đưa tay chỉ vào nơi có cửa hang. Năm Ngạn và mấy người thanh niên trong đoàn nghe Huệ nói thì vô cùng ngạc nhiên, ông hỏi vặn:

–  Chú nói hai người vừa té xuống Vực Trầm Hương rồi yên ổn trở về à? Chuyện lạ trước giờ chưa từng xảy ra ở xứ này đó. Thật vậy chứ?

–  Em dối với mấy anh làm gì. Giờ em muốn lên gấp trên trại tìm anh Cả, anh Năm có dư hai con ngựa không?

–  Ngựa không có dư, để anh bảo anh em nhường lại cho chú hai con. Cô nương này là ai vậy?

–  Cô ta là con gái của tù trưởng tộc Đá Vách. Sau này có dịp em kể cho anh nghe. Bọn em đi trước.

Năm Ngạn nghe nói cô gái xinh đẹp này là con tù trưởng Đá Vách thì tỏ vẻ vừa ngạc nhiên:

–  Vậy à?

Rồi quay sang bảo hai người đi trong đoàn nhường hai con ngựa tốt cho Nguyễn Huệ. Hai người chào cả đoàn, lên ngựa phóng nhanh ngược lên đèo.

Họ lên đến trang trại của Nguyễn Nhạc ở Tây Sơn thượng lúc trời ngã bóng chiều. Đây là khu trại cũ của họ Hồ, tổ của anh em Huệ, Nhạc khi mới từ Nghệ An vào lập nghiệp. Về sau, Nguyễn Nhạc mua thêm đất rừng của người Thượng rồi chiêu tập những người dân cùng khổ, số người ăn xin, những dân bị tù đày hay bị triều đình bạc đãi, bất mãn, trốn lên đây phá rừng lập rẫy canh tác. Công việc này Nguyễn Nhạc đã thực hiện từ lúc thay Cha buôn bán trầu nguồn với người Thượng ở Tây Nguyên, tính đến nay đã hơn năm năm, số người ở các trại đã lên đến hàng ngàn. Vùng đất mới này, Nhạc gọi là “vùng đất tình thương”. Người dân lên ở đây chia nhau khai thác một vùng đất rộng lớn hàng ngàn mẫu, dọc theo sông Ba để trồng trầu xanh và lương thực. Thời bấy giờ, tục lệ ăn trầu rất phổ biến trong dân gian, miếng trầu là đầu câu chuyện, bởi vậy buôn trầu một vốn bốn lời. Nhưng trầu trên nguồn mới xanh, mới giòn, hương vị mới đậm đà, cho nên buôn trầu nguồn trở thành mối lợi mà những nậu nguồn ai ai cũng cố tranh đoạt khách mua, nguồn bán. Song song với buôn trầu, cùng những đặc sản ở Cao nguyên về miền xuôi, Nguyễn Nhạc còn tổ chức buôn muối, cá khô, mắm và những vật dụng ở miền xuôi, đưa ngược lên mạn ngược để bán hoặc trao đổi hàng hoá. Vì vậy dân gian có câu:

Ai về nhắn với Nậu nguồn

Măng le gởi xuống, cá chuồn đưa lên.

Hai con ngựa của Nguyễn Huệ và H’Linh vừa lên đến cổng trại chính, nơi có ngôi nhà lớn, tổng hành dinh của Nguyễn Nhạc, đã có mấy người reo to mừng rỡ:

–  Kìa! Chú Tám đã trở về kìa! Chú Tám Thơm đã trở về, ông Cả ơi, chú Tám đã trở về.

Một người chạy vội vào trong nhà lớn gọi Nguyễn Nhạc, số còn lại bao quanh Huệ và H’Linh khi hai người nhảy xuống ngựa. Họ hỏi han lung tung, làm sao có thể sống sót trở về khi đã rớt xuống cái vực chết đó, v. v… Nguyễn Huệ vừa định trả lời thì Nguyễn Nhạc và Nguyễn Lữ đã từ trong nhà lớn đi vội ra. Nhạc thấy Huệ còn sống trở về, ông mừng như chính mình vừa mới chết đi, sống lại. Ông chạy vội đến ôm chầm em, miệng không ngớt lâm râm khẩn tạ ơn trên:

–  Tạ ơn Đấng thần linh vô thượng đã cứu em tôi thoát chết trở về.

Rồi dùng hai tay nắm chặt hai vai của Huệ đẩy ra, mắt rươm rướm lệ nhìn thật kỹ, như thể vẫn chưa tin vào một sự thật vượt quá sức tưởng tượng của mình:

–  Em thoát nạn thật ư? Làm sao có được kỳ tích như vậy? Kể mau đi. Làm sao em có thể an bình trở về từ cái vực chết đó?

Nguyễn Lữ cũng chạy đến nắm tay Huệ nước mắt chảy dài xuống má. Nguyễn Huệ nhìn thấy cả hai anh mình mắt rướm lệ và nỗi vui mừng vô hạn từ những cử chỉ của họ, hai mắt chàng cũng phải rưng rưng. Với Nguyễn Huệ, người anh Cả này vừa là anh vừa thế phụ nuôi nấng chàng. Huệ xúc động nói:

–  Em đã bình an rồi. Anh Cả và anh Bảy đừng lo lắng nữa. Để rồi em kể lại cho hai anh nghe.

Chàng quay sang H’Linh, giới thiệu với hai anh:

–  Đây là H’Linh, con gái của tộc trưởng Đá Vách, người mà em lao xuống vực cứu.

 Nguyễn Nhạc vui mừng nói:

–  Thì ra là Tiểu thơ của bản Đá Vách. Hai người thật phúc lớn bằng trời mới có thể thoát được tai kiếp này. Vào nhà nghỉ ngơi trước đã, sau đó kể lại anh nghe tao ngộ thế nào. Phải cúng tạ ơn thần linh đã phù hộ, mang lại kỳ tích này.

Nguyễn Huệ ra dấu mời H’Linh theo chân hai anh vào nhà. Vừa đến cửa, người vợ thứ của Nguyễn Nhạc cũng đã chạy ra mừng. Bà là con gái của vị tù trưởng tộc Bahnar hùng mạnh ở rừng Mộ Điểu, Nguyễn Nhạc cưới về hai năm trước. Tên của bà là Ja Dok nhưng bà con ở trại gọi bà là Cô Hầu. Cô Hầu và H’Linh cùng là người thiểu số nên dễ thân nhau. Bà nói:

–  Em vào đây với ta. Xem kìa, quần áo tóc tai đều dơ bẩn cả rồi. Cứ để anh em họ nói chuyện với nhau.

Rồi kéo H’Linh ra phía sau. Ba anh em Nguyễn Nhạc vào trong nhà, Nguyễn Huệ biết hai anh nóng lòng muốn biết sự thể câu chuyện nên kể lại đầu đuôi cho họ nghe. Chàng lấy bộ binh thư của Trần Nguyên Hào để lại đưa cho hai anh xem. Nhạc lướt qua một lượt, sau đó ông vào bên trong mang thanh kiếm thần ra. Vừa mở lần vải bọc kín thanh kiếm, ông vừa nói với hai em, không kiềm hãm được sự kích động:

–  Cơ trời dun rủi. Anh cũng vừa lấy được thanh thần kiếm của Vua Hỏa. Chỉ trong một ngày mà những báu vật truyền quốc của tổ tiên cùng quy về một chỗ, sự tấu xảo này không phải là ý trời muốn giúp anh em ta sao. Thiên thời đã ở trong tay của mình rồi đó, hai chú có thấy như vậy không?

Nguyễn Lữ vung thanh kiếm lên, háo hức nói:

–  Anh Cả nói đúng. Đã đến lúc chúng ta khởi sự rồi.

Huệ nói:

–  Thiên thời, địa lợi đã có, còn lại là vấn đề nhân hòa. Anh Cả nên bàn bạc với thầy xem ý của thầy thế nào.

Nhạc gói kín thanh kiếm lại nói:

–  Chú nói phải. Mai anh và chú về An Thái gặp thầy giáo.

Huệ vội nói:

–  Em có hứa với H’Linh là sẽ đưa cô ấy về Đá Vách để tìm tin tức cha mẹ của cô ta. Anh Cả để em đi xong chuyến này đã.

– Cũng hay. Đá Vách là một tộc hùng mạnh, luôn chống đối triều đình, chú đi chuyến này cố gắng kết thân với họ, cái lợi về sau không nhỏ đâu.

Ngẫm nghĩ một lát, Nhạc nói tiếp:

–  Thế này vậy. Chú vừa nhắc đến chuyện nhân hòa, chú còn nhớ những người từng tham gia Đại hội anh hùng ở Quy Nhơn lúc trước không?

–  Dạ nhớ.

–  Chú đi Đá Vách xong, đánh một vòng, tìm gặp những người đó, tùy cơ mà ứng biến, thuyết phục họ lên Tây Sơn tụ nghĩa. Chú phải nhớ là anh hùng trong thiên hạ, mỗi người một tính cách, muốn thu phục họ phải biết đánh vào điểm tâm lý chính yếu của họ mới mong họ khẩu phục tâm phục. Chú làm được không?

Đôi mắt Nguyễn Huệ lóe sáng lên, chàng đáp một cách tự tin:

–  Được. Anh Cả an tâm.

Nhạc lại hỏi:

–  Bấy nay, việc học của chú tiến triển thế nào rồi? Cả văn lẫn võ?

Nguyễn Huệ mỉm cười:

–  Văn tàm tạm, còn võ, em chưa từng đấu qua với ai nên không biết đã tiến đến đâu, chỉ nghe thầy nói, cả thầy bây giờ cũng không phải là đối thủ của em. Có lẽ thầy khích lệ em mà thôi.

Nhạc cười, ông cũng đã từng nghe Giáo Hiến tâm sự như thế với ông:

–  Tốt lắm, nay chú lại được thêm bí kíp Ô Long đao pháp này nữa thì anh vững tin rồi. Việc thu phục anh hùng, hiệp sĩ trong thiên hạ dưới đồng bằng giao chú lo. Còn chú Lữ, cái nghề phù phép của chú học ở lão thầy Tàu người Minh Hương rất có tác dụng đối với việc thu phục các bản dân tộc Tây Nguyên, họ là một lực lượng rất lớn, có họ giúp sức, ta sẽ mạnh hơn rất nhiều lần. Việc dưới kia giao cho Huệ, ở trên này giao cho chú cả đấy.

Nguyễn Lữ nói:

–  Các bản ở toàn vùng An Khê và Plei – Ku em đã chiêu dụ được cả rồi, chỉ còn bản Xà Đàng (Sêđăng) là không chịu phục. Tên chúa tộc này là Bok Kiơm rất kiêu dũng, hắn chỉ tin vào trời và thần linh nên nhất định không nghe. Em nghĩ phải có cách gì đó khiến bọn chúng tin anh Cả là người Trời thật sự thì chúng mới toàn tâm qui phục.

Nhạc mỉm cười nói:

–  Anh có nghe nói về sự kiêu dũng của bọn Xà Đàng. Huệ còn nhớ tên Tây Nguyên đệ nhất cao thủ A Phàm trong kỳ tỷ võ ở Quy Nhơn không? Hắn là trụ cột của bọn Xà Đàng. Bọn này trai tráng đều giỏi võ, thu phục được chúng sẽ rất có lợi.

Huệ hỏi:

–  Anh Cả có muốn em thu thập tên A Phàm đó để làm nhụt nhuệ khí của chúng không?

–  Chưa cần. Đối với tên chúa bản, phải cho hắn tin mình là người cõi trên thì hắn mới tâm phục. Việc động võ nếu cần thiết thì làm sau.

Lữ hỏi:

–  Anh Cả định làm thế nào? Hôm trước hắn nói với em nếu Ông Cả có thể thu phục được bầy ngựa hoang hung dữ trong núi Hiển Hách thì mới thật là thần nhân.

– Chú sai người dùng giấy bổi, quét dầu trong, rồi phất bên trong một đôi bội. Cạnh bản Xà Đàng có con suối, anh sẽ dùng đôi bội đó gánh nước suối. Bọn Xà Đàng nhìn thấy nước không chảy ra lỗ bội mà không quỳ xuống lạy dài thì thôi.

Nói xong ông cười ha hả. Lữ và Huệ cũng cười ầm lên trước sáng kiến lạ lùng này của anh Cả. Nhạc ngẫm nghĩ một lúc nói tiếp:

–  Còn việc thu phục bầy ngựa hoang ở núi Hiển Hách thì chú tìm cho anh một bầy ngựa cái non, hiền lành đem về đây. Chỉ cần thuần phục được những con ngựa cái này theo ý muốn của mình, sau đó đem nó ra dụ đàn ngựa hoang kia có khó gì.

Lữ nghe nói lại toét miệng cười:

–  Hay quá. Kỳ này bọn Xà Đàng chắc chắn sẽ quỳ xuống vái Đức Thầy Cả rồi xếp giáo chạy  theo.

Chợt Nhạc ngưng trọng nét mặt hỏi:

–  Hai chú có nhớ chuyện Lê Thái Tổ lấy được thanh Thuận Thiên bảo kiếm rồi Nguyễn Trãi vẽ ra cái trò “Lê Lợi Vi Quân, Nguyễn Trãi Vi Thần” không?

Lữ và Huệ cùng đáp:

–  Dạ nhớ.

–  Chúng ta cũng sẽ làm như vậy. Cho nên thanh thần kiếm này phải giữ hoàn toàn bí mật, đợi đến khi khởi sự hãy tung ra để thu phục lòng người. Việc này, sau sẽ nhờ đến thầy Giáo sắp xếp.

Nguyễn Lữ hớn hở khen:

–  Anh Cả thật nhiều chước qủi mưu thần.

Nhạc mỉm cười ra chiều đắc ý nói tiếp:

–  Hôm trước ông Giáo nói tới năm cái gì…gì… nhất vận nhì cái gì…

Huệ nói nhanh:

–  Nhất vận, nhì thời, tam phong thủy, tứ âm công, ngũ độc thư.

Nhạc cười:

–  Đúng rồi. Chúng ta hiện đã có nhất, tam, tứ và ngũ. Còn nhì thời thì phải chờ xem ông Giáo phân tích thêm. Năm ngoái lúc sao chổi mọc, ông Giáo nói cơ trời đã báo một cuộc đại loạn mới sắp xảy ra càn quét cả nước Nam mình. Ông Giáo còn nói Thạc đức hầu Nguyễn Quang Tiền vừa được Định vương phục chức cho mà khi thấy sao chổi xuất hiện cũng phải than với mọi người: “Không ngoài năm năm nữa, Quảng Nam sẽ có họa binh đao lớn. Kinh đô ở hướng Đông Bắc, cầm cán chổi để quét phương Tây Nam. Khí số nhà Nguyễn hết rồi!”[2]. Ông Giáo còn khuyên anh  cho người loan truyền câu sấm ngôn “Tây khởi nghĩa, Bắc thu công” rộng rãi trong dân chúng.

Lữ hỏi:

–  Chúng ta được bốn thứ đó là sao, anh Cả giải thích em nghe thử?

Nhạc nghiêm mặt đáp:

–  Chúng ta được nhất vận nên thần kiếm, binh thư, bảo đao bí kiếp mới quy về một mối. Tam phong thủy là địa thế Tây Sơn chúng ta đây ứng với câu sấm ngôn mà ông Giáo thường nhắc tới. Tứ âm công là mộ của cha được táng trong Hoành Sơn, đúng nơi long huyệt của vùng địa linh này. Ngũ độc thư là có hai chú và thầy trò ông Giáo. Anh còn có mấy người bạn thân là Cao Tắc Tựu, Võ Xuân Hoài, Trương Mỹ Ngọc ở Bình Khê và An Nhơn, tài học của họ chẳng kém gì ông Giáo.

Cả Lữ và Huệ nghe nói mộ của cha được cải táng trong Hoành Sơn đều ngạc nhiên hỏi:

–  Không phải mả của cha được táng trong khu gò mả ở Phú Lạc sao?

Nhạc cười bí hiểm:

–  Nay cũng đã đến lúc cho hai chú biết bí mật này. Lữ còn nhớ ông thầy Minh Hương của chú không? Hắn ta là một thầy địa lý rất giỏi của Tàu, hắn biết vùng Tây Sơn là nơi có long mạch của đế vương nên tìm đến để chôn hài cốt của ông bà mình. Nhưng hắn qua mặt anh làm sao được, bởi vậy cái long mạch mà hắn tìm ra trong Hoành Sơn đã bị anh bí mật thay đổi, hắn thất vọng bỏ đi. Vậy là anh âm thầm bốc mộ cha mình đem hài cốt táng vào nơi đó.

Huệ hỏi:

–  Anh Cả đã nhìn thấy tác dụng của tứ âm công trong việc này hay sao?

–  Từ khi cải táng mộ của cha vào nơi long huyệt, anh lưu ý mọi việc đến với ba anh em chúng ta rất thuận lợi, từng bước, từng bước một. Từ việc đẩy đưa ông Giáo về An Thái để hai em được học cả văn lẫn võ, cho đến việc khai thác vùng đất này, cả việc mọi người đều tin cẩn vào lời nói của mình, vân … vân… Anh tin những thứ đó phần lớn là nhờ vào sự phát tích của âm đức từ mộ cha mình mang lại.

Lữ hưởng ứng:

–  Anh Cả nói đúng. Em cũng tin như vậy. Mọi việc em làm nơi đây đều thuận lợi một cách không ngờ.

Nguyễn Huệ vốn là người thực tế và tự tin vào khả năng của bản thân mình nên chỉ gật gù chứ không thật tin hẳn chuyện tứ âm công. Nhạc lại nói:

–  Chú Lữ một mặt dùng các phù phép của đạo Ma Ní để hù dọa bọn người Thượng, một mặt cứ rao ầm lên Ông Cả vốn là con trời, có chân mạng đế vương, trời sai “Đức Thầy Cả” xuống để đánh đổ bọn vua quan tàn bạo, cứu lấy đám dân nghèo, đem muối gạo đến cho dân bản. Chú còn phải lo cai quản anh em, bà con ở đây cho tốt. Khuyến khích họ canh tác. Lương thực quyết định vận mệnh của chúng ta, chú ráng mà lo liệu.

–  Dạ. Với cánh đồng bát ngát của chị Ja Dok ở rừng Mộ Điểu và hàng ngàn mẫu đất của chúng ta dọc sông Ba này, em tin có thể đủ lương thực để cung cấp cho một đạo quân ba ngàn người trong vòng sáu tháng. Nếu chúng ta có thể cho anh em luân phiên kẻ canh tác, người đánh giặc thì thời gian sẽ còn lâu hơn nữa.

Nhạc nói:

–  Sau cuộc chiến Truông Mây, bà con nghèo đói bỏ xứ lên đây ngày càng đông. Phải có kế hoạch tiếp nhận và phân phó cho tốt để tận dụng hết năng lực canh tác của họ ở vùng rừng núi bao la này.

Lữ hăng hái:

–  Anh Cả an tâm. Những việc đó là sở trường của em mà. Có điều đám dân xiêu tán lên đây  toàn dân bạt mạng, cai quản bọn này thật khổ tâm vô cùng. Chưa kể còn phải dàn xếp những vụ đụng chạm giữa bọn chúng với các người Thượng ở đây.

–  Những tên bạt mạng chú gom lại một nơi, giao cho Nguyễn Văn Tuyết quản lý. Tên nào làm loạn, bảo Tuyết cứ thẳng tay trừng trị. Văn Tuyết lúc nhỏ đã có tài cai trị bọn côn đồ ở chợ Gò Chàm, việc cai quản đám bạt mạng ở đây chắc không khó đâu. Chú và Tuyết, một cương một nhu, uyển chuyển mà trị bọn họ. Thằng Trần Lập làm việc được không?

Lữ đáp:

–  Hồi còn học trong lớp nó không giỏi lắm, nhưng khi làm việc lại lanh lợi và tháo vác vô cùng. Rất được việc. Em giao nó phụ trách quản lý việc sổ sách chi thu lương thực.

–  Ai cũng có sở trường riêng của họ, giỏi dùng người thì công việc sẽ tốt hơn.

Huệ góp ý:

–  Còn đám người vong mạng kia, nếu biết cách tổ chức, huấn luyện kỹ thì sẽ thành một đạo quân mạnh, bằng không sẽ trở thành một đám cướp hung dữ, bất trị.

Nhạc nói:

–  Nghe nói cuốn Binh Thư Yếu Lược của Hưng Đạo Vương hướng dẫn đầy đủ cách tuyển tướng, luyện quân. Chú lãnh nhiệm vụ này cho phong trào.

 Huệ nhìn anh, giọng tự tin:

–  Được, anh Cả cứ giao việc này cho em. Việc hợp tác giữa anh Cả và nhóm Nguyễn Thung, Huyền Khê thế nào?

Nhạc mím môi, một lúc sau mới đáp:

–  Nguyễn Thung là người tốt, nhưng vì giàu có, lại có tài nên nhiều tham vọng. Lực lượng của hắn rất mạnh, không khéo thuyết phục, hắn sẽ là mối lo tâm phúc của ta. Hiện tại hắn và Huyền Khê nắm hết nguồn muối Hà Ra và Trà Ô. Mới đây hắn còn chiêu dụ được bọn cướp biển Lý Tài và Tập Đình ở Cù Lao Ré về nhập bọn. Anh đang tính kế để lôi kéo cả bọn họ về với chúng ta. Còn phải lo thuyết phục cả bọn Châu Văn Tiếp cũng như vị Nữ chúa Thị Hỏa của bộ tộc Chàm ở Phú Yên nữa để chúng đỡ ta mặt Nam. Thu phục được hết đám này, cộng thêm lực lượng chúng ta có sẵn ở đây, ngày khởi sự sẽ không còn xa nữa đâu. Thu phục bọn Xà Đàng xong anh sẽ trở về Kiên Thành để lo những việc đó, chú Huệ đi chừng nào xong việc thì về dưới đó gặp anh. Chúng ta bắt đầu loan truyền và kêu gọi anh hùng, hiệp sĩ về Tây Sơn tụ nghĩa được rồi.

*****

[1] Đèo Vĩnh Viễn là tên gọi thời bấy giờ. Đến thời thuộc Pháp mới sửa tuyến đi và đổi tên lại là đèo An Khê. Hiện nay ở phía tây đèo có một ấp lấy tên Vĩnh Viễn – Theo Quách Tấn trong Nước Non Bình Định.

[2] Phủ Biên Tạp Lục – Lê Qúy Đôn. Bản dịch Nguyễn Khắc Thuần.

*****

(Xem tiếp hồi thứ hai vào 26-9-2015)

HỒI THỨ HAI

Giết cọp dữ, Trần Quang Diệu gặp Bùi Thị Xuân

Đánh quan binh, Nguyễn Văn Lộc cưới được vợ hiền.

***

ÉN LIỆNG TRUÔNG MÂY tại HOA KỲ

Gởi đến qúy độc giả một vài thông tin về bộ truyện ÉN LIỆNG TRUÔNG MÂY tại Hoa Kỳ:

1-      Đã quảng cáo rộng rãi khắp Hoa Kỳ, Canada và Úc Châu qua hệ thống truyền hình SBTN:

2-     Đã ra mắt tại Philadelphia, Pennsylvania tháng 4-2015:

3-     Đã ra mắt tại Florida tháng 9-2-15, do nhà văn Uyên Sơn, chủ bút báo Diều Hâu Florida giới thiệu:

ra may sach 9

4-    Thư viện Quốc Hội Hoa Kỳ tại thủ đô Washington DC. (The Library Of Congress) đã tiếp nhận để làm tài liệu nghiên cứu.

thucamon LoC

5-    Đã được hệ thống thư viện thành phố HENNEPIN County – Minnesota (MN) đặt mua để phổ biến trong cộng đồng người Việt ở Minnesota.

invoice

Tác giả rất mong sự hỗ trợ của độc giả bốn phương để những trang dã sử Việt Nam được quảng bá rộng rãi khắp thế giới, để không chỉ người Việt Nam mà cả người ngoại quốc biết đến những vị anh hùng dân tộc Việt như họ đã biết nhiều về những anh hùng Trung Hoa.

Trân trọng.

Vũ Thanh.