Tóm lược buổi ra mắt TÂY SƠN TAM KIỆT tại Philadelphia 22-5-16

Buổi ra mắt sách diễn ra  trong không khí thân mật, ấm áp với sự tham dự của gần 150 khách mời,  nhân sĩ, trí thức vùng Philadelphia và New Jersey. Đặc biệt với sự góp mặt của MC Nam Lộc, ca sĩ Quốc Khanh và Hoàng Thục Linh. Clip video được thực hiện bởi nhóm phóng viên đài truyền hình OVM4TV với bài giới thiệu hết sức đặc sắc của nhà văn, nhà báo lão thành Nguyễn Đình Toàn.Mời xem qua:

Giới thiệu buổi ra mắt sách tại Philadelphia

Ra Mắt Trường Thiên Tiểu Thuyết
TÂY SƠN TAM KIỆT của Nhà văn Vũ Thanh.
Lê Thành Quang
 
Đầu tháng 4, môt Poster thông báo về buổi ra mắt Trường Thiên Tiểu Thuyết TÂY SƠN TAM KIỆT của Nhà Văn kiêm Nhạc Sĩ Vũ Thanh sẽ khai diễn vào lúc 4 giờ chiều Chủ Nhật 22 tháng 5 năm 2016 tại Momtgomery Tonship Park & Recreation Center, số 1030 Horsham Rd., Montgomeryville, PA 18936 dưới sự điều phối của Ca nhạc sĩ Nam Lộc, đến từ Cali và nhà văn Nguyễn Đình Toàn – Philadelphia.
Thông báo cho biết, có sự hiện diện của 2 danh ca: Quốc Khanh và Hoàng Thục Linh, California, phối hợp cùng những tiếng hát nổi tiếng của địa phương và ban nhạc Hoài Việt, đặc biệt có sự tham dự của chính tác giả Vũ Thanh, trình diễn trong chương trình Hát Về Quê Hương như chủ đề của sinh hoạt văn hóa dành cho Philadelphia.
Cũng như các sử gia, bốn chữ Tây Sơn Tam Kiệt để chỉ chung 3 anh em ruột lãnh đạo cuộc khởi nghĩa Tây Sơn bao gồm: Nguyễn Nhạc (anh cả), Nguyễn Lữ (anh thứ), Nguyễn Huệ (em út), Vũ Thanh đã dùng làm tên cho bộ trường thiên tiểu thuyết của mình.
Nhân vật chính của bộ truyện là Quang Trung Nguyễn Huệ.
Nguyễn Huệ, tức Quang Trung Đại Đế, một danh tướng tài giỏi cả về quân sự lẫn ngoại giao đầy sách lược, được sánh ngang hàng hoặc hơn cả Hoàng Đế Napoleon của Pháp, được các sử gia mô tả về dáng vẻ: “Mắt sáng như chớp, tiếng nói như chuông, khôn ngoan trí xảo hơn người, giỏi chiến trận, không ai là không phải khiếp sợ”.
Trong quá trình chuẩn bị khởi nghĩa, nếu Nguyễn Nhạc là người chịu trách nhiệm tổng quát, Nguyễn Lữ là người gần như chỉ chủ yếu chuyên lo hậu cần, thì Nguyễn Huệ, ngay từ đầu đã là người trực tiếp cầm quân.
Nhà văn Nguyên Lương, cư dân kỳ cựu của Philadelphia, đã ghi nhận trong bài viết giới thiệu về tác phẩm: “Ngoài tài cầm quân bách chiến bách thắng của người anh hùng áo vải Quang Trung – Nguyễn Huệ đã được thế giới ca tụng là một thiên tài quân sự vĩ đại vào bậc nhất của nhân loại, vua Quang Trung còn là một nhà ngoại giao khôn khéo, một lãnh tụ có tầm nhìn xa trong việc cải cách và phát triển đất nước. Thêm vào đó, dưới ngòi bút tài tình của nhà văn Vũ Thanh, ngoài thiên tài quân sự, Quang Trung Hoàng Ðế còn được mô tả như là một nhà văn hóa lớn, người có tư tưởng cao với một tinh thần dân tộc tiến bộ. Một nhà lãnh đạo rất am tường về tâm lý quần chúng, biết trong dụng nhân tài cho đất nước, biết động viên để đoàn kết dân tộc thành một khối hầu tiến hành những công cuộc cải cách sâu rộng và giữ vững cõi bờ.”
Bàn về sự hình thành của tác phẩm, ông cho biết tiếp: “Tham khảo hơn 20 tài liệu, viết ròng rã trong 20 tháng, mùa Xuân năm 2014 nhà văn, nhạc sĩ Vũ Thanh đã cho ra mắt một tuyệt tác phẩm đồ sộ Én Liệng Truông Mây gồm 4 tập, dài gần 2000 trang sách. Bốn tập Én Liệng Truông Mây đã được xuất bản mới chỉ là phần một trong bộ trường thiên tiểu thuyết lịch sử nhan đề Tây Sơn Tam Kiệt gồm ba phần: Én Liệng Truông Mây, Nhất Thống Sơn Hà, Gia Định Tam Hùng.”
Và:
“… Vũ Thanh đã không chỉ tiểu thuyết hoá câu chuyện lịch sử thời đó, mà bàng bạc trong 2000 trang sách, tác giả đã vẽ lại một xã hội rất linh động của thời dân tộc ta mở nước tiến vào phía Nam. Triết lý sống, phong cách, và tinh thần khai phóng của con người Ðại Việt thời chúa Nguyễn đã được phát họa rất đầy đủ cho ta thấy nhờ đâu mà dân ta đã tóm thâu hết phần phía Nam của nước Việt ngày nay từ tay người Chiêm Thành, người Miên mà không tốn một giọt máu. Và nhờ đâu mà những người Hoa gốc Minh Hương, đã đến và khai khẩn vùng Lục tỉnh trước chúng ta, đành phải chịu thuần phục làm bầy tôi và dâng đất cho chúa Nguyễn.”
Tây Sơn Tam Kiệt xuất hiện trong giai đoạn Việt Nam đang bị Hán Hóa, sẽ trở thành một tỉnh nhỏ của Trung Cộng trong một tương lai gần tình từng tháng, được xem như một thông điệp khẩn báo mà yếu tố đoàn kết là sức mạnh duy nhất chống lại ngoại xâm, phát huy tinh thần bất khuất của dân tộc Việt Nam có hơn 4000 năm văn hiến.
Lịch sử của bất cứ quốc gia nào trên thế giới đều tự mang riêng một giá trị. Lịch sử Việt Nam với bề dày chống xâm lược, 13 lần đánh thắng Trung Quốc là những chiến công lừng lẫy mang sự hãnh diện cho dân tộc.
Lịch sử thường khô khan nhưng đó là tiếng vọng của quá khứ trong tương lai và là phản chiếu của tương lai trên quá khứ.
Cũng có những ngụy sử bóp méo sự thật, được viết vì quyền lợi của phe nhóm, cường quyền, chế độ và hơn hết, lịch sử chỉ được đáng tin cậy khi sử gia viết trong một thể chế tự do.
Tác giả Vũ Thanh không phải là một sử gia nhưng công trình của ông, qua nội dung trình bày trong tác phẩm Tây Sơn Tam Kiệt đã bổ túc, điều chỉnh hợp lý những gì đang được xem là thiếu sót, thiên kiến từ các sử gia cung đình.
Qua văn phong diễn đạt, yếu tố con người, xuất thân từ Bình Định, bộ trường thiên tiểu thuyết Tây Sơn Tam Kiệt đáng để đồng hương tìm đọc, tham khảo.
Tác phẩm của Vũ Thanh đang được quảng cáo hàng ngày trên đài truyền hình SBTN.
Thành phố Philadelphia chúng ta đang được chọn là nơi ra mắt đầu tiên của tác phẩm.
Số lượng khách chỉ giới hạn trong vòng 150 người, liên lạc với nhà văn Nguyên Lương (215)643-0591 để giữ chỗ.
Xin hãy đến tham dự ra mắt bộ Trường Thiên Tiểu Thuyết Tây Sơn Tam Kiệt vào ngày giờ, địa điểm đã viết trên.
Không đến, sẽ RẤT HỐI TIẾC.
Lê Thành Quang.
Philadelphia 21 tháng 4 năm 2016

Đêm ra mắt sách tại Philadelphia

Thân mời các bạn ở Philadelphia và vùng phụ cận đến tham dự đêm ra mắt sách TÂY SƠN TAM KIỆT và thưởng thức nhạc thính phòng do đôi song ca Quốc Khanh – Hoàng Thục Linh cùng hóm ca sĩ Hoài Việt – Phila đảm trách. Vào Cử Tự Do.

https://drive.google.com/open?id=0B_3Rx69n3DkbN096V015ZlZLRmc

ramatsach Phila

NTSH – Hồi thứ ba mươi mốt

Kỳ chót 184:

Xin cáo lỗi cùng các bạn độc giả. Theo yêu cầu của nhà phát hành và các đại lý, chúng tôi phải tạm ngưng việc đăng tải tác phẩm NHẤT THỐNG SƠN HÀ một thời gian, mong các bạn thông cảm. Nhất Thống Sơn Hà đã được Cty AMAZON phát hành khắp thế giới, độc giả yêu thích xin tìm mua tại:

Hoa Kỳ và Canada:

http://www.amazon.com/s/ref=dp_byline_sr_book_1?ie=UTF8&text=Vu+Thanh&search-alias=books&field-author=Vu+Thanh&sort=relevancerank

Châu Âu:

http://www.amazon.fr/s/ref=dp_byline_sr_book_1?ie=UTF8&text=Vu+Thanh&search-alias=books-fr-intl-us&field-author=Vu+Thanh&sort=relevancerank

Liên hệ với tác giả Vũ Thanh:

Email:  thanhquang57@gmail.com

Phone:   954-684-1875

Xin gởi tặng các bạn:

Hồi thứ ba mươi mốt

Về Kinh Bắc, vua Quang Trung yêu làn Quan họ

Sợ Tây Sơn, Thang Hùng Nghiệp tính chước cầu hòa

Vào Thăng Long được vài hôm đã có thám báo từ biên giới phi ngựa về báo tin. Vua Quang Trung cho đòi vào hỏi:

–  Tình hình biên giới thế nào?

Viên thám báo háo hức tâu:

–  Muôn tâu hoàng thượng. Hai vị Đô đốc Lộc, Đô đốc Tuyết và Hô Hổ hầu đã dàn quân càn quét toàn bộ giặc Thanh về bên kia biên giới. Tôn Sĩ Nghị, vua tôi Lê Chiêu Thống đã chạy thoát sang Tàu, chỉ có bọn Lê Duy Chỉ lẩn trốn vào rừng sâu vùng Tuyên Quang chưa bắt được. Hiện ba vị đô đốc đang đóng quân dọc theo biên giới hai nước và tung tin sẽ tấn công sang đất Thanh để bắt vua tôi nhà Lê khiến dân Thanh lo sợ bỏ cả làng xóm di tản vào sâu trong đất liền, cả một vùng biên giới sâu mấy trăm dặm vắng ngắt không có một bóng người.

Vua Quang Trung nghe báo vỗ ghế cười ha hả nói:

–  Làm hay lắm. Đây hẳn là kế rung cây nhát khỉ, đả thảo kinh xà của Nguyễn Văn Lộc phải không?

–  Dạ, hoàng thượng đoán việc như thần. Đúng là kế của Đô đốc Lộc.

Nhà vua nói:

–  Tin cho ba viên đô đốc tiếp tục giữ các cánh quân đóng dọc theo biên giới như thế. Nhất thiết theo dõi mọi động tịnh của quân Thanh thế nào báo ngay về cho trẫm biết.

Viên thám báo khấu đầu nhận lệnh lui ra, rời điện Kính Thiên tìm đến gặp Tín Nhi. Tín Nhi dặn:

–  Hoàng sư trưởng đã theo bọn quân Thanh sang Vân Nam, anh trở lại biên giới, tìm cách liên lạc với Hoàng sư trưởng rồi cho ta hay.

–  Dạ, quân trưởng. Hiện chúng ta đã có năm anh em trong sư Mãnh sư của Hoàng sư trưởng trà trộn trong đoàn người của nhà Lê chạy sang Tàu. Chúng em sẽ liên lạc với họ.

–  Tốt lắm. Anh có thể nghỉ ngơi một đêm ở đây, mai hãy lên đường.

Thu Cúc nóng lòng hỏi:

–  Tín ca cho em lên biên giới với anh em trên đó nhé?

–  Bọn Càn Long thua nhục nhã thế này tất sẽ quay lại trả thù. Chúng ta cần nắm rõ ý định của chúng. Để xem hoàng thượng xử trí thế nào, vài hôm nữa anh và em cùng đi.

Thu Cúc mừng rỡ reo lên:

–  Cảm ơn Tín ca!

Đang nói chuyện thì có thị vệ đến báo:

–  Hoàng thượng cho đòi quân trưởng đến hậu cung bàn việc.

Tín Nhi bảo Thu Cúc:

–  Em đợi anh trở về nhé.

Đến nơi, Tín Nhi quỳ xuống làm lễ ra mắt. Nguyễn Huệ bước đến đỡ dậy vỗ vai bạn nói:

–  Khi nào chỉ có riêng ta và ngươi, không cần phải thủ lễ.

Tín Nhi e dè nói:

–  Như vậy trái với đạo vua tôi.

Nguyễn Huệ mỉm cười:

–  Với ngươi ta đặc miễn cho cái lễ vua tôi ấy. Nếu không ông vua này sẽ buồn chán đến chết mất. Uống rượu nói chuyện đi.

Hai người ngồi vào bàn, Tín Nhi rót rượu ra chung nói:

–  Mừng hoàng thượng ghi thêm một chiến công nữa vào cuộc đời danh tướng của mình.

Nguyễn Huệ nghe Tín Nhi vẫn gọi mình bằng hoàng thượng thì mỉm cười:

–  Đã bảo miễn cái lễ vua tôi với ngươi rồi mà..

–  Nhưng xưng hô ta, ngươi như trước kia thì không được nữa rồi.

Nguyễn Huệ nói:

–  Ta mới làm vua hơn tháng mà đã có cảm giác cô độc và lẻ loi vì mọi người đều giữ khoảng cách thật xa với ta. Nếu làm vua vài chục năm chắc là ta sẽ chết vì hiu quạnh.

–  Biết làm sao được. Hoàng thượng giờ là vua một nước, mọi người phải có cách xưng hô và giao tiếp khác hơn xưa theo lễ quân thần.

–  Cái lễ quân thần khắc nghiệt đó đã tạo ra một khoảng trống cách biệt lớn khiến các bậc vua chúa trở nên cô độc, từ đó sa vào con đường trụy lạc hoặc trở thành u tối, độc ác và bị chung quanh lừa dối. Ta muốn có những bạn bè thật sự để sống như một người dân thường hầu khỏi rơi vào tình cảnh mất quân bình tâm lý đó.

Tín Nhi rót ly thứ hai mời, trong cách xư hô vẫn có phần miễn cưỡng:

–  Thôi được. Ly này mừng cho giấc mơ nhất thống sơn hà của ngươi đã thành sự thật.

Nguyễn Huệ uống cạn ly rượu nói:

–  Chiến thắng và đạt được điều mình mơ ước là hạnh phúc lớn của con người, tuy nhiên ta mới thu phục được đất Bắc Hà nhưng vẫn chưa thu phục được lòng dân Bắc Hà, vì vậy vẫn coi như là chưa hoàn toàn chiến thắng. Hơn nữa, bọn Càn Long thua đau lần này sẽ không chịu bỏ qua đâu. Trước mắt còn nhiều gian nan lắm đấy.

–  Ta cũng nghĩ vậy. Cái ước vọng Thập Toàn Lão Nhân của hắn bị chúng ta đập nát, e hắn bỉ mặt mà làm lớn chuyện để giữ thể diện.

Ánh mắt Nguyễn Huệ long lên:

–  Cho ta vài năm để củng cố nước nhà thì dù hắn có làm lớn chuyện ta có sợ gì.

–  Hiện giờ trong ý của ngươi muốn giảng hòa phải không?

–  Đúng vậy. Người của chúng ta có ai bên đó? Hoàng Nhi đâu?

–  Đã theo Tôn Khởi Giao về Vân Nam. Chúng ta có năm anh em trà trộn được vào bọn tùy tùng của Lê Chiêu Thống.

–  Việc Yên Tử sơn thế nào? Bọn chúng có kịp thực hiện ý đồ đen tối đó không?

–  Có. Nhưng thất bại chua cay, sau đó hay tin đại quân của chúng đã tan tác nên nhận thua lủi thủi bỏ chạy.

Nguyễn Huệ mỉm cười:

–  Bọn Tàu vẫn tự phụ về võ học Thiếu Lâm tự của chúng, huênh hoang cái gì “thiên hạ công phu xuất Thiếu Lâm”. Lần này đụng phải võ công Đại Việt phải ôm đầu lủi lủi bỏ chạy chắc bọn nhà sư Hoa Đình phải dở khóc dở cười muốn độn thổ về nước cho nhanh.

Tín Nhi cười khoan khoái nói:

–  Ta không biết núi Tung Sơn cao bao nhiêu, nhưng rõ ràng là núi Yên Tử và Tây Sơn của chúng ta đã cao hơn chúng rồi. Cho nên lẽ ra bọn Tàu phải nói rằng “thiên hạ công phu xuất Tây Sơn” mới đúng…ha…ha…

Nguyễn Huệ cũng lớn tiếng cười vui vẻ với bạn, họ rót rượu chúc mừng nhau. Cạn chung rượu, Nguyễn Huệ nói:

–  Ta muốn có người vận động cho một cuộc giảng hòa nhưng phải ở thế mạnh của kẻ chiến thắng hoặc ít nhất là ngang hàng. Muốn vậy phải có người có uy tín với các đại quan nhà Thanh.

Tín Nhi nói nhanh:

– Phan Khải Đức rất được lòng Tôn Sĩ Nghị và thân cận với Thang Hùng Nghiệp. Chỉ có ông ta là thích hợp nhất với vai trò này.

Nguyễn Huệ tươi cười nói:

–  Ta cũng đã nghĩ đến người này.

Bèn gọi một tên thị vệ vào dặn:

–  Đi gọi Phan Khải Đức đến gặp ta ngay.

Tên thị vệ đi rồi, Nguyễn Huệ nói:

–  Đợi xem phản ứng của Càn Long thế nào, ngươi cũng phải có mặt ở biên giới để liên lạc và giúp đỡ chú cháu Phan Khải Đức.

Một lúc sau, thị vệ đưa Phan Khải Đức vào. Đợi Khải Đức hành lễ xong, Nguyễn Huệ nói:

–  Đây không phải chốn triều đường, khanh cứ ngồi uống rượu cùng trẫm và quân trưởng.

Khải Đức lạy tạ nói:

–  Tạ ơn hoàng thượng.

– Trong chiến thắng quân Thanh lần này, công của khanh rất lớn, nhưng hiện nay còn một việc hết sức hệ trọng cần đến khanh ra sức. Tạm thời trẫm hãy ban cho khanh chức Đô đốc tước Đức nghĩa hầu, xong việc, trẫm sẽ luận thêm công trạng mà định sự ban thưởng một thể.

–  Tạ ơn hoàng thượng thăng thưởng, thần nguyện hết lòng chu toàn công việc.

–  Khanh và Thu Cúc phải lập tức sang Quảng Tây tiếp tục đóng vài trò cũ. Sau đó liệu bề mà hù dọa bọn Tôn Sĩ Nghị và Thang Hùng Nghiệp để chúng chủ xướng việc giảng hòa với chúng ta. Trẫm cần thời gian chấn chỉnh và phát triển đất nước, tránh được một cuộc trả thù của bọn nhà Thanh lúc này là điều rất cần thiết. Chỉ cần khéo léo ve vuốt lòng tự ái của Càn Long, đừng để hắn bẽ mặt, trẫm tin việc giảng hòa sẽ thành công.

Khải Đức vội quỳ xuống tâu:

–  Tạ ơn hoàng thượng đã tin tưởng giao phó trách nhiệm này. Thần nguyện hết sức hoàn thành để đáp tạ thâm ân.

–  Hãy uống cùng trẫm chung rượu này. Còn lại hai chung, khi đại công cáo thành trẫm sẽ tự tay rót để ban thưởng lần nữa.

Bèn tự tay rót rượu đưa cho Phan Khải Đức. Hai tay của Phan Khải Đức đón chung ngự tửu đã run lên vì cảm kích. Ông nói:

–  Ân tình này đến chết thần vẫn không quên.

Nguyễn Huệ nói:

–  Trẫm sẽ để Hô Hổ hầu trấn thủ Nam Quan, ông ta là người có chữ nghĩa, có thể ứng đối tốt trong việc bang giao. Trước mắt, mọi việc cứ liên lạc với ông ta.

Khải Đức lạy tạ lui ra. Tín Nhi nói:

–  Ta cần dặn Thu Cúc một số việc trước khi nó lên biên giới.

–  Mang một số châu báu đến cho Thu Cúc để chú cháu họ sử dụng. Khi nào ngươi đi ta sẽ cấp cho một số nữa dùng để mua chuộc bọn quan lại nhà Thanh.

Tín Nhi cười:

–  Quan lại nhà Thanh từ Hòa Khôn xuống đến tận làng xã đều là một bọn tham ô, nếu có của đút lót, việc sẽ dễ như trở bàn tay.

–  Sách lược ngoại giao là, trước hù dọa sau vận động, cuối cùng thì mở lối cho Càn Long khỏi bẽ mặt. Đối với một ông già như hắn, tâm lý tất muốn cầu an, vật gì khó nuốt hẳn là không muốn ăn. Cho hắn một cái bánh vẽ cho dễ nuốt là được.

Nét mặt Tín Nhi chợt ngưng trọng, giọng lo lắng:

–  Tin từ Gia Định gởi về rất xấu. Ngươi phải lo trừ tên tiểu tử Nguyễn Ánh càng sớm càng hay.

Ánh mắt Nguyễn Huệ long lên:

–  Sau khi ổn định Bắc Hà ta sẽ trở về Phú Xuân để tính tới việc Gia Định. Phần ngươi lo cho tốt việc bang giao để yên mặt Bắc là được.

Tín Nhi đứng lên chắp tay xá dài lớn tiếng:

–  Dạ, hoàng thượng.

Cả hai nhìn nhau cùng bật cười sảng khoái.

Hôm sau thiết triều, Ngô Thời Nhậm dâng lên tờ chiếu, tâu:

–  Vâng lệnh hoàng thượng, thần đã thảo xong tờ chiếu cầu hiền, xin trình lên để hoàng thượng ngự giám.

Nguyễn Huệ đọc qua, chiếu có những đoạn khiến nhà vua đắc ý gật gù:

“…Trẫm đang ghé chiếu lắng nghe, thức ngủ mong mỏi mà có người tài cao học rộng chưa từng thấy đến. Hay Trẫm ít đức không đáng để phò tá chăng? Hay đang thời đổ nát chưa thể ra phụng sự?... Trẫm nơm nớp lo nghĩ, một ngày hai ngày cũng có hàng vạn sự việc nảy sinh. Ngẫm cho kỹ: cái nhà to lớn – sức một cây không dễ gì chống đỡ, sự nghiệp thái bình – sức một người không thể đảm đương…

… Vậy ban chiếu xuống quan liêu lớn nhỏ và dân chúng trăm họ, ai có tài năng học thuật, mưu hay giúp ích cho đời đều cho phép được dâng thư tỏ bày công việc. Lời có thể dùng được thì đăng, bổ dụng. Lời không dùng được thì để đấy, chớ không ai bắt tội vu khoác. Những người có tài nghệ gì có thể dùng được cho đời thì cho các quan văn võ được tiến cử, lại cho dẫn đến yết kiến tùy tài mà bổ dụng. Hoặc có người từ trước đến nay giấu tài im tiếng không ai biết đều cũng cho phép được đăng thư tự cử, chớ ngại cho thế là “Đem ngọc bán rao”. Ôi! “Trời đất bế tắc thì hiền tài ẩn náu”. Xưa thì đúng vậy, còn nay trời đất thanh bình, chính lúc người hiền gặp gỡ gió mây. Những ai tài đức nên gắng lên để rạng rỡ chốn vương đình, một lòng cung kính để cùng hưởng phúc tôn vinh. Bố cáo gần xa để cùng nghe biết”.

Đọc xong nhà vua lớn tiếng khen:

–  Tịnh phái hầu thật hiểu bụng trẫm. Bài chiếu này đáng được liệt vào hàng tài tử của văn chương nước nhà. Hay lắm! Hay lắm thay!

Ngô Thời Nhậm lạy tạ:

–  Tạ ơn hoàng thượng khen ngợi. Thần chỉ dựa theo ý chỉ của hoàng thượng để thảo ra mà thôi. Lòng không thành thì ý chỉ không cao thâm và không đủ sức thuyết phục. Cho nên dẫu văn chương có trau chuốc cũng không thể lay động người đọc được. Đều là do hoàng thượng thật dạ cầu hiền mà thành.

Nguyễn Huệ nói:

–  Hãy cho phổ biến tờ chiếu này khắp thiên hạ. Việc tiếp nhận hiền tài giao cho khanh và Võ Văn Ước đảm nhiệm. Trước mắt trẫm muốn cải tổ về cơ cấu hành chánh và kinh tế, các khanh ai có sáng kiến gì hãy suy nghĩ thấu đáo rồi trình lên để trẫm xem xét sau đó bắt tay thực hiện.

Phan Huy Ích tâu:

–  Hoàng thượng mưu sự thâm viễn và có tầm nhìn rộng rãi, lại có lượng bao dung, lo lắng cho thiên hạ bá tánh thật là phúc lớn cho nước nhà.

Nguyễn Huệ hỏi:

–  Về việc cải cách hành chánh, quan Hộ bộ Tả thị lang có sáng kiến gì không?

Huy Ích tâu:

–  Muôn tâu, theo ý của hạ thần, địa phương từ huyện trở lên chúng ta nên đặt hai chức quan một văn là Phân Tri, một võ là Phân Suất để cùng nhau cai trị. Quan văn lo hành chánh dân sự, quan võ lo binh bị. Miền Bắc mấy năm gần đây đói kém lại chiến tranh liên miên vì thế dân chúng xiêu dạt khắp nơi, ruộng đồng bị hoang phế, đất thừa mà người thiếu. Thần xin hoàng thượng hạ chiếu khuyến nông để khuyến khích dân lưu cư các nơi trở về cố thổ lo canh tác. Ruộng công nên chia ra cho dân nghèo canh tác để thu thuế theo nghạch công điền.

Nguyễn Huệ nói:

–  Suy nghĩ của khanh rất hợp ý trẫm. Ngô Thời Nhậm hãy thảo một tờ chiếu khuyến nông, Hộ bộ và Công bộ dựa theo đó mà lên kế hoạch thi hành.

Huy Ích thận trọng hỏi:

– Theo ý hoàng thượng thì công cuộc cải cách lần này theo phương châm “dân giàu nước mạnh” hay “nước mạnh dân giàu”?

Nguyễn Huệ hiểu ý, gật gù có vẻ tán thưởng sự sáng suốt của Phan Huy Ích. Nhà vua đáp:

– Trẫm vừa mới lên ngôi, đất nước vừa được thống nhất, giặc ngoại xâm vừa bị đánh đuổi ra khỏi cõi bờ, lẽ ra nên đại xá thiên hạ, hoặc giảm thiểu tối đa việc thu thuế để giúp bá tánh. Nhưng phía Bắc giặc Tàu còn hăm he trở lại trả thù, trong Nam bọn Nguyễn Ánh rước giặc Tây về đánh phá, quốc khố đang rất cần tiền bạc để trang trải cho những cuộc chiến tranh sắp tới. Trẫm muốn dung hòa hai phương châm kia, các khanh liệu việc mà ban hành.

Huy Ích tâu:

–  Chúng thần tuân lệnh.

Nguyễn Huệ hỏi:

–  Trẫm biết lòng người Bắc Hà còn đang oán hận và mang mặc cảm vì bị người Nam Hà cai trị, nay muốn xóa bỏ ý nghĩ phân biệt Bắc, Nam để có được sự thống nhất và đoàn kết thì phải làm thế nào?

Huy Ích đáp:

–  Muôn tâu. Để xóa bỏ hận thù thì không gì bằng tình thương. Đức sáng của bậc đế vương chính là tình thương dành cho muôn dân vậy. Theo lẽ tự nhiên, trên ngó xuống thì tự động dưới sẽ trông lên. Hoàng thượng là người đức độ, mang hoài bảo lớn cho dân tộc, điều này bá tánh thiên hạ ai cũng nhìn thấy. Nay chỉ cần hoàng thượng dùng đức để trị, thấu hiểu lòng người Bắc Hà, thương họ như con, vì hạnh phúc của họ mà lo lắng, được như vậy thì dẫu là người ngoại tộc cũng sẽ sống thuận hòa nói gì đến anh em Việt tộc Bắc, Nam.

–  Làm sao để thấu hiểu lòng người Bắc Hà?

Trần Văn Kỷ lên tiếng đáp thay:

– Lúc trước thần có nghe hoàng thúc Tôn Thất Dục chỉ nhờ vào một buổi nói chuyện với Vô Danh thiền sư mà chế ra được chiếc đàn Độc Huyền cầm đặc trưng cho dân Việt ta…

Nguyễn Huệ tỏ vẻ ngạc nhiên ngắt lời:

–  Việc sáng chế cây đàn Độc Huyền có quan hệ gì đến câu hỏi của ta? Cuộc nói chuyện thế nào?

Trần Văn Kỷ đáp:

–  Muôn tâu. Thiền sư nói rằng “âm thanh là tiếng lòng, là biểu tượng văn hóa của một dân tộc”. Vì vậy muốn hiểu được lòng một dân tộc, một xứ sở hay một địa phương không gì bằng tìm hiểu về âm nhạc truyền thống dân gian của xứ sở đó.

–  Vậy âm nhạc truyền thống của dân gian Bắc Hà là gì?

Phan Huy Ích vốn là người giỏi về âm nhạc nên tâu:

–  Bắc Hà có kinh đô Thăng Long hàng ngàn năm nên có nền âm nhạc cung đình, liệt vào âm nhạc thượng lưu, nhưng nền âm nhạc này có pha trộn với nhạc cổ Trung Hoa và nhạc cung đình Chiêm quốc chứ không thuần Việt. Trung lưu thì có hát ả đào, hát nói, hát chèo dành cho kẻ sĩ trung lưu và người giàu có. Còn dân gian thì có làn điệu Quan họ, mang âm hưởng dân gian từ ngàn xưa, thuở dân Bách Việt chúng ta còn ở tận bên bờ sông Dương Tử, theo bước chân Nam tiến hội tụ về vùng Kinh Bắc và lưu truyền đến bây giờ.

Nguyễn Huệ thích thú nói:

–  Thời còn nhỏ trẫm đã từng theo gánh hát bội ở Quy Nhơn lưu diễn khắp nơi vì vậy rất thích những lối hát mang tính dân gian. Trẫm muốn nghe qua làn điệu Quan họ Kinh Bắc.

Thông thường những bậc vua chúa ít khi muốn nhắc đến thuở hàn vi lao nhọc của mình, nay quần thần nghe nhà vua nhắc đến quá khứ lưu linh của mình một cách thản nhiên khiến ai nấy đều hết sức khâm phục. Phan Huy Ích không dấu được sự cảm phục nên dập đầu thành tâm nói:

–  Hoàng thượng là bậc nhân quân xưa nay hiếm có. Hạ thần khâm phục tận đáy lòng. Nếu hoàng thượng muốn chứng kiến lễ hội truyền thống của dân gian miền Kinh Bắc thì ngày mai chính là ngày hội lớn ở đó, chỉ hiềm phải nhọc lòng hoàng thượng xa giá rời cung mà thôi.

Nguyễn Huệ nói:

–  Ta từng nghe Hữu Cung hoàng hậu nói về những lễ hội truyền thống của dân gian vùng Kinh Bắc cùng những di tích văn hóa cổ xưa của dân Âu Lạc ở đó. Ta muốn ghé thăm để lễ tạ tổ tiên.

Huy Ích mừng rỡ nói:

–  Nếu hoàng thượng chịu xa giá rời cung thì còn gì hay bằng. Thần sẽ cho người thông tri để quan trấn thủ chuẩn bị tiếp giá.

Nguyễn Huệ xua tay:

–  Không cần. Trẫm sẽ cùng các khanh cải dạng như dân thường để dự hội. Hãy để dân chúng dự hội một cách tự nhiên, như vậy mới nhìn rõ được sinh hoạt bình thường của họ.

–  Hoàng thượng anh minh!

Trần Văn Kỷ tâu:

–  Theo ý thần, đất Kinh Bắc vốn là nơi phát tích nền Phật giáo Luy Lâu của nước ta, nhơn dịp rằm tháng Giêng, hoàng thượng nên ngự giá đến chùa Dâu, tổ chức một lễ cầu siêu lớn để những vong hồn tử sĩ trong cuộc chiến vừa qua được siêu thoát, cũng là một cách giải bớt sát nghiệp cho quân đội Tây Sơn.

Ngô Thời Nhậm biết trong ý của Trần Văn Kỷ muốn giải bớt sát nghiệp cho đức vua nên phụ họa:

–  Thần cũng có ý định tâu xin hoàng thượng việc này.

Nguyễn Huệ phán:

–  Vậy trẫm lệnh cho những ngôi chùa lớn trong thiên hạ lập đàn chay cầu siêu cho tử sĩ trong dịp rằm tháng Giêng này.

–  Chúng thần tuân chỉ.

Nhà vua nói thêm:

–  Ngô Văn Sở và Phan Văn Lân thu xếp ngày mai đi cùng trẫm. Hai khanh cũng phải tìm hiểu tâm tình người Bắc Hà để mai này biết mà chăm lo cho họ.

Ngô Văn Sở và Phan Văn Lân hiểu ý nhà vua nên mừng rỡ lạy tạ.

***

Họ Hồng Bàng, thủy tổ dân Âu Lạc với mười tám đời vua Hùng Vương trị vì nước Văn Lang suốt hai ngàn năm. Thời Hùng Vương, nước Văn Lang chia ra mười lăm bộ, trong đó có bộ Vũ Ninh chính là vùng Kinh Bắc, là trung tâm kinh tế, thương mại và là cái nôi của nền văn hóa cổ của người Âu Lạc. Đến đời vua An Dương Vương, sau khi thống nhất các bộ lạc Bách Việt đã xây thành Cổ Loa ở Phong Khê, đất Kinh Bắc trở thành kinh đô của Âu Lạc với nhiều di tích cổ còn lưu lại đến bấy giờ như đền Thánh Gióng, mộ vị thủy tổ Kinh Dương Vương, đền thờ Bố Lạc Long Quân và Mẹ Âu Cơ, theo truyền thuyết là người đã sinh ra trăm trứng nở trăm con, từ đó sinh sôi nẩy nở thành họ Hồng Bàng, dựng nên nước Âu Lạc. Cũng vì được sinh ra trong cùng một bọc trứng, người Âu Lạc xem nhau như anh em ruột thịt và gọi nhau bằng hai tiếng đồng bào.

Quan trấn thủ Kinh Bắc là Nguyễn Cảnh Thước nhận được mật báo nên đã âm thầm chuẩn bị mọi thứ để bảo vệ phái đoàn của nhà vua về thăm lễ hội. Nguyễn Huệ và đoàn tùy tùng gồm Phạm Cần Chánh, Tín Nhi, Ngô Văn Sở, Phan Văn Lân, Phan Huy Ích… và một số vệ sĩ, hôm nay vận áo dài the, đội khăn đóng y như hàng vạn dân làng khắp nơi về dự hội bên đồi Lim ở Tiên Du. Nhìn các thiếu nữ đi dự hội mặc áo tứ thân với yếm đào và dây thắt lưng đủ màu sắc, Nguyễn Huệ thích thú nói với Phan Huy Ích đi cạnh:

–  Trang phục của những người đi dự hội thật đẹp mắt, nhất là chiếc áo nhiều lớp với thắt lưng nhiều màu sắc và chiếc khăn đội đầu của các thiếu nữ.

Phan Huy Ích giải thích:

–  Đó là chiếc áo tứ thân, mớ ba với ba lớp áo, hoặc mớ bảy với bảy lớp áo, kết hợp bởi nhiều màu sắc. Đây là chiếc áo lễ hội truyền thống vùng Quan họ. Chiếc khăn đội đầu của các cô gái gọi là khăn mỏ quạ, chiếc nón trên tay họ có tên là nón quai thao.

Tín Nhi nói:

–  Trông cách ăn mặc và lối chào hỏi của những nam nữ đi dự hội vừa cung kính vừa thân thiện, thật là thú vị. Tôi không thấy có sự cách biệt nam nữ ở đây.

Huy Ích giải thích:

–  Trong nền văn hóa cổ của dân Bách Việt, mối quan hệ giữa nam và nữ rất bình đẳng, khác hẳn với quan niệm trọng nam khinh nữ theo kiểu Hán nhân. Lát nữa chúng ta sẽ nghe trong những câu hát Quan họ đối đáp giao duyên, họ gọi nhau bằng anh Hai, chị Ba… một cách rất tôn trọng nhưng không kém phần tình tứ và âu yếm.

Nguyễn Huệ hỏi:

–  Sao lại gọi Kinh Bắc là vùng Quan họ?

–  Tương truyền mấy ngàn năm trước, vùng Kinh Bắc là nơi giao lưu văn hóa và kinh tế của dân Bách Việt với người Hán, người Ấn Độ, người Miến Điện nhờ vào con sông Tiêu Tương, khởi nguồn từ Tây Tạng chảy qua Trung Hoa về ngang Kinh Bắc này để ra biển Đông. Vật đổi sao dời, ngày nay dòng sông Tiêu Tương không còn, sông Dâu trở thành sông Đuống, nhưng điệu hát Quan họ của những người dân Âu Lạc cổ xưa sống hai bên bờ sông Tiêu Tương vẫn còn lưu truyền cho đến nay. Do đó mà làn điệu Quan họ mang đậm nét tâm linh đặc thù thù của nền minh triết Việt cổ xưa.

–  Lúc trước ta có nghe ở Tửu Quán Bên Đường bên cạnh Hoàng Đế thành một bài ca về chàng Trương Chi, họ cho rằng làn điệu Quan họ mang âm hưởng của những khúc hát và tiếng sáo Trương Chi có đúng vậy chăng?

Phan Huy Ích thích thú giải thích:

– Thật ra thì chàng Trương Chi thời đó cũng giống như một “liền anh” bậc nhất của làn Quan họ hôm nay vì giọng ca rất tuyệt vời của chàng ta. Sở dĩ người thời nay coi Trương Chi là thủy tổ làn Quan họ chỉ vì những câu hát dân gian thời đó đã trở nên bay bổng và được yêu thích khắp nơi nhờ vào giọng ca và tiếng sáo tuyệt vời của ông ta, thêm vào đó là tình cảm của người dân Quan họ dành cho chàng trai đa tài mà xấu số kia. Có thể nói sau Trương Chi, những làn điệu dân ca của người Âu Lạc đã phong phú và lan truyền rộng rãi hơn trong dân chúng. Người Kinh Bắc có lẽ nhờ vào thổ nhưỡng nên làn hơi của họ đã làm tăng thêm vẻ đẹp, vẻ tình tứ mượt mà và sâu lắng của câu ca. Vì thế mà Kinh Bắc trở thành cái nôi của làn Quan họ.

Tín Nhi hỏi:

–  Liền anh, liền chị là gì?

–  Những người hát Quan họ nam thì gọi là liền anh, nữ gọi là liền chị.

Vừa giải thích, Phan Huy Ích vừa hướng dẫn mọi người thăm qua khắp các trò chơi của lễ hội. Nguyễn Huệ khen:

–  Lễ hội ở đây thật tưng bừng và đầy đủ các trò chơi cho bà con. Hay lắm! Nên cổ vũ và giúp đỡ các địa phương tiếp tục lưu giữ và phát triển các truyền thống văn hóa dân gian quý báu này.

Phan Huy Ích nói:

–  Trước kia hội đồi Lim không quy mô như bây giờ. Cho đến khoảng ba mươi năm trước, quan trấn thủ Thanh Hoa là Nguyễn Đình Diễn gốc người làng Đình Cả, tổng Nội Duệ, Kinh Bắc, đã dùng bổng lộc và của cải của mình cấp cho địa phương này để mở rộng và phát triển nội dung hội hè cũng như tu sửa đình làng, lăng miếu. Từ đó mà hội đồi Lim ngày một đông đảo và phong phú về cả hình thức lẫn nội dung.

Lúc ấy đoàn người đến một lán Quan họ, Huy Ích ra dấu dừng lại để nghe các “bọn nam” và “bọn nữ” hát Quan họ giao duyên đối đáp nhau. Trang phục mộc mạc nhưng rất độc đáo đã làm các cô gái có nét đẹp lạ kỳ, thêm vào làn điệu Quan họ mượt mà, tình tứ khiến Nguyễn Huệ đứng nghe đến xuất thần. Đến khi bài hát chấm dứt ông mới sực tỉnh và nức nở khen:

–  Thật duyên dáng các chàng trai và các cô gái kia và cũng thật là hay và tình tứ làm sao cái làn điệu Quan họ. Nó có nét gì đó thật thân thiết và gần gũi với ta, mặc dầu ta chỉ mới nghe lần đầu.

Phan Huy Ích giải thích:

–  Cảm nhận của Ngài (lúc này họ tránh dùng từ Hoàng thượng) thật nhạy bén và chính xác. Âm hưởng của Quan họ mang đậm nét tâm linh đặc thù của dân Lạc Việt cổ, cho nên những ai mang dòng máu Việt đều có trong tiềm thức, trong tâm linh mình không ít thì nhiều âm hưởng đó. Người mang nặng tình dân tộc, nói đúng hơn là người có nhiều dân tộc tính sẽ có sự đồng cảm mau chóng và sâu đậm hơn với giai điệu Quan họ, dù là người xứ Bắc hay đã lưu lạc từ lâu vào tận trong Nam xa xôi.

Nguyễn Huệ mỉm cười đùa:

–  Hay tổ tiên ta gốc người Kinh Bắc như Hữu cung Ngọc Hân?

Cả đoàn cười vui vẻ. Nguyễn Huệ tiếp:

–  Ta muốn tặng Hữu Cung hoàng hậu một bộ trang phục Quan họ này.

Nguyễn Cảnh Thước đi phía sau lên tiếng:

–  Thưa Ngài, việc đó tôi xin được đảm trách.

Họ tiếp tục đi xem các thuyền rồng trên sông và nghe những câu hát Quan họ đối đáp giao duyên giữa nam và nữ đến lúc trăng lên cao mới ra về.

Đêm đó nhà vua về ngự tại thành Kinh Bắc. Hôm sau Trấn thủ Nguyễn Cảnh Thước tiền hô hậu ủng hộ tống nhà vua về xứ Thuận Thành để tế mộ Kinh Dương Vương. Ngôi mộ được xây bên bờ sông Đuống, nơi có cuộc đất hội đủ tứ linh long, lân, quy, phụng của phong thủy. Sau khi lễ bái vị tổ của dân tộc, vua Quang Trung bảo:

–  Các khanh hãy nói rõ cho ta nghe về vị thủy tổ này.

Phan Huy Ích kể:

–  Theo huyền sử Việt, Đế Minh là cháu ba đời của vua Thần Nông, đi tuần thú phương Nam đến núi Ngũ Lĩnh, đóng quân tại đó rồi lấy con gái bà Vụ Tiên, sinh được một người con trai tư chất thông minh đặt tên là Lộc Tục. Sau Đế Minh truyền ngôi cho con trưởng là Đế Nghi, làm vua phương Bắc, phong cho Lộc Tục làm vua phương Nam chính là Kinh Dương Vương. Kinh Dương Vương đặt tên nước là Xích Qủy, chọn đất Kinh Bắc này làm kinh đô, truyền mười tám đời Hùng Vương, mãi đến khi Thục Phán An Dương Vương đánh thắng Âu Lạc mới dời kinh đô về đất Cổ Loa, xây thành, chống lại Triệu Đà ở Nam Quận. Nhưng đến thời Bắc thuộc, nhà Hán lại trở về Kinh Bắc dựng thành Luy Lâu để đặt bộ máy cai trị. Thời ấy, địa bàn nước Xích Qủy của vua Kinh Dương Vương rất rộng lớn, phía Bắc là miền đồng bằng thuộc lưu vực sông Dương Tử giáp Động Đình Hồ, phía Nam giáp nước Lâm Ấp, Tây giáp đất Ba Thục, Đông giáp biển Đông. Kinh Dương Vương lấy con gái Động Đình Quân là Long Nữ, sinh ra Sùng Lãm. Sau này Sùng Lãm kế vị, xưng là Lạc Long Quân. Lạc Long Quân lấy con gái của anh họ mình là vua Đế Lai (Đế Lai là con của Đế Nghi), tên là Âu Cơ. Âu Cơ được sinh ra bên bờ Âu Giang, nơi có hàng ngàn chim Âu sinh sống, vì vậy Đế Lai lấy tên chim Âu đặt cho con gái. Cũng có lẽ vì thế mà có truyền thuyết Mẹ Âu Cơ sinh ra trăm trứng nở trăm con trai tạo thành giống Bách Việt của chúng ta với nhiều bộ tộc nhỏ. Theo truyền thuyết thì vua Hùng đầu tiên chính là cháu nội của vị tổ Kinh Dương Vương này.

Nhà vua nghe kể đến đây, hỏi ngay:

–  Vậy biên giới nước ta xưa kia lên đến tận sông Dương Tử?

–  Dạ, đúng thế, tâu hoàng thượng. Cho đến đời Triệu Đà, sau khi chiến thắng vua An Dương Vương đã sáp nhập tất cả các bộ tộc Bách Việt lại với nhau lập nên nước Nam Việt và tự xưng Nam Việt Vũ Vương, đóng đô ở Phiên Ngung tức Quảng Châu ngày nay, đứng ngang hàng với nhà Hán. Cương thổ nước Nam Việt thời bấy giờ phía Bắc giáp núi Nam Lĩnh, gồm cả biên giới phía bắc của Quảng Đông và Quảng Tây, Đông đến Mân Việt, Phúc Kiến, phía Tây giáp Dạ Lang, Vân Nam và phía Nam đến Hoành Sơn của Lâm Ấp. Sau nhà Triệu bị nhà Hán tiêu diệt, dân ta phải chịu ách một ngàn năm Bắc thuộc, vùng đất Lưỡng Quảng của chúng ta đã bị người Hán chiếm lấy.

Ánh mắt vua Quang Trung chợt lóe lên một tia sáng, ông hỏi:

–  Từ sau Triệu Vũ Vương đã có ai dám đánh lại nước Trung Hoa và sánh ngang hàng với họ chưa?

Huy Ích tâu:

–  Đời Lý có Lý Thường Kiệt đánh sang nước Tống, đời Trần có Trần Hưng Đạo đánh quân Nguyên rồi đến Lê Thái Tổ đánh giặc Minh…

Nhà vua ngắt lời:

–  Nhưng đã có ai dám đánh sang để chiếm lấy đất của Tàu chưa?

–  Muôn tâu, việc này thì chưa có ai làm.

Đôi mắt vua Quang Trung lại lóe lên tia sáng cương quyết, ông hăng hái nói:

–  Chưa có ai làm vậy để trẫm làm. Chúng ta phải đòi lại đất hai tỉnh Quảng Đông và Quảng Tây về cho nước Việt.

bandonhatrieu

Phạm Cần Chánh đứng bên cạnh hừng chí lên tiếng:

–  Hoàng thượng đã được Hữu Cung hoàng hậu tặng danh hiệu “Cổ kim bách thắng Long Nhương tướng”, việc đánh sang Tàu đòi đất Lưỡng Quảng tất phải thắng lợi. Thần xin lãnh ấn tiên phuông để đánh cho chúng chích luân bất phản, phiến giáp bất hoàn như vừa rồi để từ nay bọn người Hán hết còn dám khinh thị chúng ta là Man di nữa.

Dường như vị thủy tổ Kinh Dương Vương chợt hiện về với con cháu khiến mọi người thấy tinh thần phấn chấn, hào khí bồng bột dâng cao nên đồng thanh nói:

–  Hoàng thượng ra quân, chúng thần dẫu chết cũng sẽ một tiến không lùi.

Vua Quang Trung thấy các quan hăng hái như vậy trong lòng rất đẹp. Ông nói:

–  Nếu toàn dân Việt đoàn kết lại, việc đánh thắng bọn Tàu có khó gì. Các khanh hãy xem, dân Mãn Thanh không đông bằng dân Việt, vậy mà chúng đô hộ người Hán hơn trăm năm nay rồi. Hãy dẹp bỏ lòng tự ti, thống nhất ý chí thành một khối thì giặc nào ta cũng thắng được cả. Huống chi triều đình Mãn Thanh hiện nay đang còn phải nơm nớp lo sợ người Hán, người Hồi, người Mông Cổ… nổi lên đánh đổ. Ta đem một khối thống nhất đi đánh một liên minh rệu rã thì cái thế tất thắng đã rõ ràng rồi.

Bá quan đồng thanh:

–  Chúng thần sẽ tạc dạ những lời vàng ngọc này.

Phan Huy Ích nhìn các đồng liêu phân tích thêm:

–  Đúng như lời hoàng thượng vừa dạy, đối với người Hán, chúng ta không có gì để tự ti cả như Phạm Thiết Sóc nghĩ. Suốt dòng lịch sử Trung Quốc, số phận người Hán cũng long đong, nhục nhã vì bị các dân tộc phương Bắc ức hiếp, đô hộ không biết bao nhiêu lần.

Phạm Cần Chánh thích thú giục:

–  Phan thị lang kể hết ra cho chúng tôi nghe đi.

Huy Ích vui vẻ tiếp:

–  Trong các triều đại Trung Quốc, dù Tần Thủy Hoàng đã cho xây Vạn Lý Trường Thành để che chắn mặt Bắc, nhưng triều đại nào của họ cũng bị các Rợ phương Bắc quấy nhiễu và buộc phải nộp cống. Nhà Hán thì có người Hung Nô, tức Rợ Hồ. Các vua Hồ, còn gọi là Thiền Vu, quá mạnh, đến độ các vua Hán ngoài việc triều cống rất nhiều vàng bạc, châu báu, còn phải đem cả vợ yêu của mình nộp cho họ. Đó là trường hợp của Hán Nguyên Đế, đã đem Vương Chiêu Quân, một trong Tứ đại mỹ nhân Trung Quốc, sang cống cho Thiền Vu Hồ Hán Tà, tạo nên một thiên tình sử đắng cay cho người Trung Quốc. Đến đời Tây Tấn, người Hán lại bị rợ Ngũ Hồ gồm Hung Nô, Yết, Mông Cổ, Mãn Châu và Tây Tạng đồng loạt vượt Trường thành xâm chiếm lưu vực sông Hoàng Hà và phần lớn Trung Nguyên. Thiền Vu Hung Nô là Lưu Uyên mạnh nhất trong Ngũ Hồ nên chiếm gần như toàn bộ Trung Quốc chỉ còn phần đất miền Nam sông Dương Tử là của người Hán. Lưu Uyên bỏ quốc hiệu Hán, lập nên triều đại mới là nhà Triệu, thiết lập nền cai trị khắc nghiệt đối với người Hán. Giai đoạn đó Trung Quốc bị chia cắt thành năm nước nhỏ chiến tranh liên miên, cuối cùng còn lại hai nước, đó là thời Nam Bắc Triều.

Vua Quang Trung nói:

–  Đó cũng là giai đoạn chúng đô hộ nước ta sau khi thắng nhà Triệu?

–  Tâu vâng. Thời đó, phần đất Đông Ngô của Trung Quốc không bị rợ Hung Nô xâm chiếm nên họ vẫn đủ mạnh để giữ vững nền đô hộ nước ta.

–  Kể tiếp đi.

Huy Ích nói tiếp:

–  Sau khi Lý Thế Dân thống nhất Nam Bắc Triều lập nên nhà Đường, nước Trung Hoa vẫn bị Rợ Hồ quấy nhiễu, các vua Đường phải tiến cống vàng bạc hàng năm để mua lấy sự thanh bình. Tuy vậy, sau loạn An Lộc Sơn, nhà Đường suy yếu, Rợ Hồ nhơn cơ hội xâm chiếm Trung Nguyên, vơ vét vô số tài sản và giết chết gần nửa số dân Trung Quốc.

Nhà Đường suy, Trung Quốc bị chia thành năm nước gọi là thời Ngũ Đại. Khi Triệu Khuông Dẫn diệt Ngũ Đại lập nên nhà Tống thì ở phương bắc rợ Khiết Đan và Tây Hạ cũng lớn mạnh. Khiết Đan tiêu diệt các rợ khác lập nên nước Liêu và có ý dòm ngó Trung Nguyên. Các vua Tống lại phải chịu nhục nộp cống cho nước Liêu để cầu hòa, còn phải cắt bảy trăm dặm đất để dâng cho nước Liêu. Số cống phẩm hàng năm lên đến hai mươi lăm vạn lạng bạc và hai mươi lăm vạn tấm lụa.

Mọi người kinh ngạc la lên:

–  Nhiều đến như vậy sao? Vậy thì quốc khố nước Tống còn gì?

Huy Ích nói:

–  Cho nên dân Tống lúc ấy rất nghèo khổ. Chịu nhục với nước Liêu, Tống gỡ thể diện bằng cách đem quân đánh Tây Hạ và Đại Việt, nhưng Tống bị thiệt mất gần sáu mươi vạn quân ở Tây Hạ, còn ở Đại Việt, quân Tống bị Lý Thường Kiệt đánh một trận tan tành ở sông Như Nguyệt, chết mất hai vạn quân.

Vua Quang Trung nói:

–  Và Lý Thường Kiệt đã viết nên bản tuyên ngôn độc lập đầu tiên cho nước nhà trong cuộc chiến đó.

–  Tâu vâng.

Tín Nhi nói:

–  Bọn Tống đụng đâu bị thê thảm đó thì sống sao nổi nữa.

Huy Ích nói:

–  Đúng là không sống nổi thật. Vì nước Tống bấy giờ lâm vào cảnh họa vô đơn chí. Họa nước Liêu chưa hết thì Bắc phương lại có một bộ tộc khác là Nữ Chân lớn mạnh lên và diệt nước Liêu, lập nên nước Kim. Kim quốc diệt Liêu xong đem quân đánh Tống và chiếm nửa giang san Trung Quốc, bắt vua Tống về Kim quốc, lập chính quyền bù nhìn để cai trị gọi là Bắc Tống. Cao Tôn nhà Tống chạy vào Nam lập thành nước Nam Tống, đánh nhau với Bắc Tống của Kim quốc. Sau quân Kim quá mạnh, Nam Tống lại phải chịu nhục cầu hòa, nạp cống hàng năm. Cống phẩm Nam Tống phải nộp cho Kim quốc là mười vạn lạng bạc và mười vạn tấm lụa. Vua Tống còn phải gọi vua Kim bằng bác và xưng cháu. Có thể nói thời bấy giờ, nước Trung Hoa trở thành bán thuộc địa của Kim quốc. Nhưng câu họa vô đơn chí vẫn đeo đẳng số phận nhân dân Trung Quốc khi bộ tộc Thát Đát của Thành Cát Tư Hãn thành hình lập nên đại đế quốc Mông Cổ, tiêu diệt nước Kim và chiếm trọn lãnh thổ Trung Hoa, thiết lập nên nhà Nguyên, đặt nền đô hộ ở Trung Quốc hơn trăm năm với sự đối xử hết sức phân biệt và khắc nghiệt giữa người thống trị và kẻ bị trị.

Cần Chánh hỏi:

–  Bọn Mông Cổ hung hăng như vậy nhưng khi tiến sang Đại Việt đã bị thảm bại chạy dài phải không?

–  Đúng vậy. Và không chỉ bại một, mà đến ba lần. Sau khi bị Hưng Đạo Vương đánh bại lần thứ ba, đế quốc Mông Cổ suy yếu dần. Chu Nguyên Chương nổi dậy đuổi được Mông Cổ về sa mạc, lập nên nhà Minh. Dân Trung Quốc sống thanh bình được gần ba trăm năm thì lại bị người Mãn Châu đánh chiếm và đặt nền đô hộ từ gần một thế kỷ rưỡi nay. Dấu ấn sâu đậm nhất trong lòng người Trung Quốc lần này là việc bị người Mãn Châu bắt bỏ kiểu tóc búi tó, cạo đầu phía trước và thắt hai bím dài sau lưng theo tục lệ người Mãn.

Tín Nhi hỏi:

– Như vậy so với Đại Việt nhỏ bé chúng ta, số phận của tên không lồ Trung Quốc còn bi đát và nhục nhã hơn nhiều phải không?

Phan Huy Ích cảm thán:

–  Có thể nói, hai dân tộc, một lớn một nhỏ, nhưng số phận truân chuyên thì gần như nhau.

Vua Quang Trung chợt hỏi:

–  Khanh nói Đế Minh phong Đế Nghi làm vua phương Bắc, như vậy nước của Đế Nghi có quan hệ thế nào với nước Trung Quốc của người Hán?

Huy Ích tâu:

–  Đế Nghi truyền ngôi cho con là Đế Lai. Đế Lai sau khi lên ngôi, nhớ đến chuyện tuần thú phương Nam gặp được tiên của ông nội mình là Đế Minh nên giao nước cho viên cận tướng là Xuy Vưu thay mình trông coi, còn ông dẫn con gái yêu là Âu Cơ tuần du xuống phương nam, tạo nên mối duyên lành giữa tổ Lạc Long Quân và Mẹ Âu Cơ của chúng ta. Trong khi đó ở phương Bắc, người Hán, một sắc dân du mục bên kia bờ Hoàng Hà, dưới sự lãnh đạo của Hoàng Đế đã vượt sông đánh chiếm đất nước của Đế Lai. Xuy Vưu giao chiến với Hoàng Đế một trận quyết định ở Trác Lộc nhưng thất bại, quân hai bên chết đến ức vạn. Trận đánh kinh hoàng đó còn lưu truyền mãi đến nay qua câu nói: “Tích nhựt Hoàng Đế chiến Xuy Vưu. Trác Lộc kinh kim vị nhược hưu”. Từ đó người Hán thôn tính dần lãnh thổ Trung Nguyên của Đế Lai, lập nên nước Trung Quốc. Một số dân Việt bỏ chạy vào phương Nam tìm lại anh em, đại đa số ở lại sống chung với người Hán. Với bản tính hung hăng của dân du mục, nước Trung Quốc của Hán tộc ngày một lớn mạnh, đẩy dần dân ta vào phương Nam và thừa hưởng di sản văn hóa nông nghiệp của dân Bách Việt. Đặc biệt hơn hết là nền Minh triết Việt Nho.

Chợt nhớ đến bài chiếu lên ngôi, vua Quang Trung hỏi:

– Ta nghe trong bài Bình Ngô Đại Cáo, Nguyễn Trãi đã đem những triều đại của Trung Hoa và Đại Việt ra để so sánh, trong đó có cả nhà Triệu sánh với nhà Hán, tại sao trong bài chiếu lên ngôi, Thời Nhậm chỉ ghi từ các đời Đinh, Lê, Lý, Trần?

Phan Huy Ích thất sắc vội tâu:

–  Muôn tâu. Hôm thảo chiếu, Ngô huynh có phân vân về điều này, chỉ vì trong cuốn Việt Sử Tiêu Án, nhạc phụ của hạ thần đã đưa nhà Triệu vào phần ngoại sử cho nên…

Nhà vua ngạc nhiên ngắt lời:

–  Sao lại liệt nhà Triệu vào ngoại sử?

Huy Ích lo sợ tâu:

–  Nhạc phụ cho rằng vì Triệu Vũ Vương là người Hán đem quân thôn tính các bộ lạc Bách Việt lập nên nhà Triệu. Tuy Triệu Vũ Vương đã lấy vợ Việt, áp dụng cách trị nước và mọi sinh hoạt khác theo phong tục dân Việt, nhưng vẫn phải coi nhà Triệu như là một sự đô hộ, là ngoại sử của Đại Việt. Cũng vì việc này, giữa nhạc phụ và Ngô huynh đã sinh ra xung khắc đến mức giận nhau tạo cớ cho người đời vu oan Ngô huynh đã gây nên cái chết cho nhạc phụ trong vụ án Nhâm Tý lúc trước.

–  Thời Nhậm đã không đồng ý với cha, sao trong chiếu vẫn chỉ ghi từ nhà Đinh?

Huy Ích lo sợ ngần ngại đáp:

–  Muôn tâu. Ngô huynh nghĩ lời chiếu chỉ nên nhắc đến các giai đoạn độc lập gần đây, không nhắc đến nhà Triệu vì không muốn đụng đến thời kỳ ngàn năm nô lệ.

Nhà vua biết Huy Ích không dám nói ra vấn đề Ngô Thời Nhậm tránh né vì sợ làm tủi vong linh của cha mình. Ông gật gù tỏ vẻ thông cảm hỏi:

–  Ý khanh về vấn đề này thế nào?

Huy Ích tâu:

–  Thần cũng không đồng ý với nhạc phụ. Vì lẽ tuy Triệu Đà là người Hán nhưng ông ta đã lấy vợ Việt và bị Việt hóa từ con người cho đến cách trị nước. Các đời vua kế tiếp của nhà  Triệu đều có dòng máu Việt trong người. Huống chi nếu chúng ta từ chối nhà Triệu thì phải từ chối luôn cả triều đại của Thục Phán An Dương Vương, vì ông ta là người nước Thục. Vì vậy theo ý hạ thần, những cuộc chiến tranh thời đó giữa Triệu Đà và An Dương Vương cũng chỉ là cuộc nội chiến giữa các bộ tộc Bách Việt, cuối cùng dẫn đến sự thống nhất thành nước Nam Việt, giống như hiện tình đất nước chúng ta chia rẽ thành Nam Hà, Bắc Hà, đến khi hoàng thượng đứng ra thống nhất trở lại thành một mối.

Vua Quang Trung tươi cười khen:

–  Hay lắm. Trẫm đang có ý định đòi lại đất Lưỡng Quảng về cho Đại Việt, nếu gạt bỏ nhà Triệu ra khỏi chính sử thì lấy cớ gì để yêu sách với Càn Long.

–  Dạ, hoàng thượng.

Nhà vua lại hỏi tiếp:

– Trẫm nghe nói nhà Lê hàng năm có lệ phải tiến cống người vàng cho nhà Minh để đền mạng Liễu Thăng và vẫn giữ lệ ấy cho đến nay phải không?

–  Dạ đúng vậy.

Ánh mắt vua Quang Trung long lên một tia sáng cương quyết, ông cười gằn:

–  Bọn nhà Minh vì ngân khố bị các rợ phương Bắc vét sạch nên quay sang áp bức dân ta. Chúng ta vừa giết chết Hứa Thế Hanh và vô số tướng lãnh khác, chẳng lẽ cũng phải đền cho chúng những con người vàng ấy nữa hay sao. Hừ! Từ nay trẫm sẽ bỏ cái lệ cống vàng vô lý đó xem Càn Long làm gì được chúng ta cho biết.

Sự hân hoan và thán phục hiện rõ trên nét mặt bá quan. Họ tin rằng một khi vua Quang Trung đã khẳng định, việc tất phải được thực hiện và thực hiện thành công.

*

Rời lăng mộ Kinh Dương Vương, vua Quang Trung được các quan đưa đến tế mộ của Lạc Long Quân và Âu Cơ cách đó không xa. Sau khi tế mộ các vị thủy tổ, vua Quang Trung ngự đến chùa Dâu để chủ trì lễ cầu siêu. Đây là ngôi chùa cổ nhất Đại Việt, được xây dựng vào thế kỷ thứ ba. Đến thế kỷ thứ sáu, Thiền sư Tì Ni Đa Lưu Chi từ Ấn Độ sang Trung Hoa rồi qua Đại Việt đã dừng lại ở đây và khai sáng Thiền phái Tì Ni Lưu Chi. Phật giáo Đại Việt bắt đầu phát triển mạnh từ ngôi chùa Dâu này.

Trước sân chùa, dưới chân tòa bảo tháp, tăng chúng đã cho lập một đàn cầu siêu lớn. Bấy giờ tuy đầu Xuân nhưng bầu trời khắp vùng Thăng Long tứ trấn rất âm u có lẽ do khói lửa chiến tranh và âm hồn của bao nhiêu vạn người chết còn vương vất cõi trần tụ lại. Sau lễ đọc kinh cầu siêu của các vị đại sư chùa Dâu, vua Quang Trung được mời lên đàn để đọc bài văn tế vong hồn tử sĩ do Phan Huy Ích soạn. Nhà vua hôm nay mình khoác áo đạo sĩ, đầu đội mũ tam toà, cất giọng như chuông đồng nhưng âm hưởng rất bi thương đọc bài văn tế có đoạn như sau:

“… Hỡi các oan hồn tử sĩ phương Bắc! Trẫm biết các ngươi chỉ vì tuân lệnh bề trên nên phải thác oan nơi xứ người do đó âm hồn chẳng biết về đâu, vất vưởng không nơi nương tựa. Nay Trẫm lập đàn bên sông cúng tế, cho thu nhặt hài cốt các ngươi chôn cất thành gò đống, lập miếu để thờ, không phân biệt các ngươi là người phương Bắc, lòng thương của Trẫm như nhau…

Thương thay! Hỡi các oan hồn còn vất vưởng trên kia, nay Trẫm thể theo lòng nhân của trời đất, đích thân đốt nén hương này hòa quyện cùng lòng thành thương xót, đưa tiễn các ngươi trở về nơi hương chỉ, trở lại với đất tổ quê cha để còn đầu thai hóa kiếp.

Thượng hưởng”

Khi nhà vua đọc dứt bài văn tế, lạ thay bầu trời Thăng Long tứ trấn đang âm u bỗng trở nên quang đãng, rực rỡ nắng xuân. Hàng ngàn người có mặt tại sân chùa đều cho rằng lòng thành của nhà vua đã khiến cho những oan hồn của mấy mươi vạn quân Thanh và tử sĩ Đại Việt cảm thông và siêu thoát.

***

Tám trăm quân kỵ dưới quyền chỉ huy của Tôn Khánh Thành đã tìm cách băng rừng vượt suối hộ tống Tôn Sĩ Nghị chạy về được bên kia biên giới của nước mình. Về tới Gia Lâm thuộc Quảng Tây, vì tuổi già sức yếu lại phải bôn ba suốt mấy ngày đêm, Tôn Sĩ Nghị gần như kiệt sức, phải nằm dưỡng bệnh một thời gian mới tạm hồi phục. Liên tục những ngày sau đó, vua tôi Lê Chiêu Thống và gia quyến cùng một số bồi thần cũng lần lượt chạy qua biên giới, được quan quân nhà Thanh đưa đến Gia Lâm để tị nạn. Gặp lại Lê Chiêu Thống, Tôn Sĩ Nghị nói bằng một giọng căm tức:

–  Ngày nào chưa diệt được tên Nguyễn Quang Bình thì ta nhất định không chịu thôi[1].

Chiêu Thống buồn rầu nói:

–  Đa tạ Tôn đại soái đã có lòng chiếu cố. Chỉ bởi tôi có số truân kiểu mới khiến cho Tôn đại soái phải một phen lao nhọc, hao quân. Nay chúng tôi chỉ xin tạm lánh nạn ít lâu rồi sẽ tự thân trở về cố thổ mưu đồ phục quốc, không dám phiền lụy đến thiên triều nữa.

Tôn Sĩ Nghị thấy Chiêu Thống như đã mất hết niềm tin đối với thiên triều thì trấn an:

–  Quốc vương đừng vội nản chí. Ta sẽ tấu cùng hoàng thượng xin cử đại binh chín tỉnh để sang báo thù bọn Tây Sơn. Tạm thời Quốc vương cứ ở lại Gia Lâm mà chờ tin.

Lê Chiêu Thống đang lúc đường cùng nên phải nghe theo. Vài hôm sau, Thang Hùng Nghiệp cùng bọn Phan Khải Đức và binh lính thiên triều lục tục vượt biên giới chạy về nước, người nào kẻ nấy chỉ còn một tấm thân tàn ma dại, quần áo rách bươm vì phải vượt núi băng rừng để thoát khỏi sự truy lùng của quân Tây Sơn. Tôn Sĩ Nghị viết ngay một tờ biểu chương tâu trình việc đại quân bị bại trận để gởi về Yên Kinh chịu tội cùng vua Càn Long. Ông cũng không quên sai người mang thật nhiều châu báu đến đút lót cho Hòa Khôn, nhờ ông ta gỡ tội. Tời biểu tạ tội có vài đoạn như sau:

” … Kinh thành nhà Lê đã thu phục, phần đất phía Nam tiếp giáp với Tây Sơn vua Lê tự cai quản lấy. Cứ theo lời cáo tri của quốc vương thì ngày mồng 2 tháng Giêng năm nay, quân Tây Sơn lại hưng khởi. Quan quân của thần trước kia thắng giặc Tây nhiều trận liên tiếp, vậy mà quốc vương Lê Duy Kỳ mới nghe Nguyễn Huệ thân đến đã vội vàng tay bồng con thơ, tay dắt mẹ già bỏ chạy qua sông Phú Lương. Dân chúng thấy vậy hoảng sợ trốn hết…”

“…Thần cùng Đề đốc Hứa Thế Hanh đốc suất quân quyết một phen huyết chiến. Nhưng giặc đến quá đông, bủa vây bốn mặt, thần và Hứa Thế Hanh không liên lạc được với nhau. Thần phải đột phá trùng vi mà ra. Đến phù kiều, sai Tổng binh Lý Hóa Long qua sông chiếm Bắc ngạn. Chẳng ngờ Lý Hóa Long ra đến giữa sông, sẩy chân rơi xuống nước. Thần sai phó tướng Khánh Thành quay lại bắn súng điểu thương, đem quân từ phù kiều đến bắc ngạn đến đóng ở sông Thị Cầu. Sai người đến Lạng Sơn, Nam Quan trông coi mẹ con Lê Duy Kỳ, bảo vào cửa quan tạm trú.

“Thần lãnh trách nhiệm nặng, không sớm thành công, xin được cách chức và trị tội để làm gương răn đe những kẻ điều khiển trái phép…”[2]

Tin đại quân hai mươi vạn đã bị Tây Sơn tiêu diệt, Đề đốc Hứa Thế Hanh và các tướng tử trận cùng với tờ biểu tạ tội của Tôn Sĩ Nghị bay về đến Yên Kinh khiến vua tôi Càn Long kinh hồn bạt vía. Càn Long vội triệu tập Quân Cơ Xứ lại, tức tối vỗ án phán như thét:

–  A Quế lập tức ra lệnh triệu hồi Tôn Sĩ Nghị về kinh trị tội. Điều Phúc Khang An từ Phúc Kiến sang giữ chức tổng đốc Lưỡng Quảng, lãnh binh năm mươi vạn lấy từ chín tỉnh kéo sang tiêu diệt bọn An Nam trả mối hận này cho trẫm ngay.

Trận thua nhục nhã này đã khiến cho vua tôi nhà Thanh ai nấy đều cảm thấy bỉ mặt, khi nghe vua Càn Long ra lệnh cử đại binh trả thù, tất cả Quân Cơ đại thần đều hưởng ứng ngay. A Quế tâu:

–  Quyết định của hoàng thượng thật anh minh. Phúc Khang An là người có tài điều binh khiển tướng có thể trả được mối hận này. Thần lập tức lên kế hoạch để xuất quân.

Hòa Khôn đã nhận được của đút lót của Sĩ Nghị nên tâu giúp:

–  Việc cử binh tiễu phạt để báo thù thật nên làm, duy việc trị tội Tôn Sĩ Nghị, thần xin hoàng thượng xét lại cho ông ta.

Càn Long giận dữ hỏi:

–  Sĩ Nghị thân làm đại soái lại để tổn hao đến hơn mười vạn quân, chết mất mấy người Đề, Trấn, tội ấy làm sao có thể tha được?

Hòa Khôn tâu:

–  Căn cứ theo tờ biểu tạ tội của họ Tôn thì trăm sự cũng bởi bọn Lê Duy Kỳ chết nhát mà ra, chưa chi đã bỏ chạy khiến lòng dân rối loạn, tạo thế cho giặc hung hăng thêm, dẫn đến quân ta bị cô lập rồi thất thố. Hơn nữa, xét theo công trạng của họ Tôn trong chiến dịch này, chỉ chưa đầy một tháng mà ông ta đã thu phục được thành Lê, giao nước lại cho Chiêu Thống, thực hiện đúng ý chỉ “hưng diệt kế tuyệt” của hoàng thượng đề ra. Luận về công và tội, theo ý thần, họ Tôn chưa đến độ phải bị xử phạt. Xin hoàng thượng anh minh xét lại.

Càn Long nghe Hòa Khôn phân giải một hồi, lại nghĩ việc tiến đánh An Nam lần này phần lớn là do ý mình đề xuất nên cơn giận cũng nguôi dần, nhà vua nói:

–  Lời khanh nói cũng có lý, vậy chuyện xử tội hãy đợi trẫm xem xét lại, nhưng việc triệu hồi hắn về kinh để Phúc Khang An thay thế giữ chức tổng đốc Lưỡng Quảng chuẩn bị đem quân hỏi tội bọn An Nam thì phải tiến hành ngay.

Hoà Khôn sụp lạy nói:

–  Hạ thần tuân chỉ.

Càn Long lại nói:

–  Theo báo cáo, đề đốc Hứa Thế Hanh, ba tổng binh Thượng Duy Thăng, Trương Triều Long, Lý Hóa Long, tham tướng Dương Hưng Long, Vương Tuyên, Anh Lâm, du kích Minh Quế… vì nước hy sinh, phải lo biệt thưởng tử tuất và cho con cháu được hưởng quyền thế tập. Giặc Huệ dám giết đại quan của thiên triều, tức phạm tội đại ác không thể dung tha. Tuy nhiên xứ này đang vào tiết xuân có nhiều chướng lệ chưa tiện thâm nhập hỏi tội, trẫm lệnh cho các đốc phủ miền duyên biên cùng các doanh cho quân luyện tập tinh nhuệ, chuẩn bị binh lương đầy đủ, sẵn sàng đợi lịnh tiến binh hỏi tội. Các khanh mau thông tri xuống các nơi lập tức thi hành.[3]

Quân Cơ Xứ lập tức thi hành mệnh lệnh. Tin đến Phúc Kiến, Phúc Khang An vội vã lên đường sang Nam Ninh nhậm chức. Đến nơi, công văn chín tỉnh cũng vừa gởi đến báo cáo việc chuẩn bị binh lương đã đầy đủ, sẵn sàng đợi lệnh của tân tổng đốc điều hợp.

Phúc Khang An cho gọi Tôn Vĩnh Thanh và Thang Hùng Nghiệp đến hỏi:

–  Nay hoàng thượng chỉ định cho ta chuẩn bị năm mươi vạn quân mở cuộc Nam chinh trả hận bọn Tây Sơn, hai ông đã từng tham chiến, nói cho ta biết sự lợi hại, mạnh yếu của giặc Tây thế nào?

Thang Hùng Nghiệp vừa từ cõi chết trở về nên nỗi sợ hãi hãy còn ám ảnh trong lòng, nghe hỏi ông ta vô tình đưa tay sờ vào cổ mình rồi thở dài nói:

–  Từ lâu chúng ta đã đánh giá bọn Nam man một cách hết sức sai lầm. Đất nước đó địa bàn trùng trùng hiểm trở, dân nước đó khi có giặc ngoại bang thì thống nhất làm một, còn quân đội đó, bọn Tây Sơn, là một đám quân vừa tinh nhuệ, vừa đánh giỏi lại không biết sợ chết là gì. Lâm trận chúng chỉ biết tiến chứ không biết lùi, dù phải xông lên giữa rừng tên đạn. Đánh một kẻ không sợ chết đã khó, nay chúng ta phải đánh hàng vạn tên liều mạng như vậy thì cuộc chiến này là cuộc chiến tất bại, không có một phần thắng nào trong tay ta cả.

Phúc Khang An trợn mắt có vẻ không tin, hỏi lại:

–  Ông nói thật chứ? Bọn Tây Sơn hung dữ đến mức đó à?

Thang Hùng Nghiệp vô tình đưa tay sờ lại cổ mình lần nữa, giọng ngán ngẩm tiếp:

–  Xin tổng đốc đừng cho tôi sợ giặc mà nói quá. Tổng đốc hãy hỏi Trần Nguyên Nhiếp, người cầm ấn tín của Hứa đề đốc chạy về đây thì rõ.

Khang An xua tay:

–  Ta chỉ hỏi vậy thôi chứ nào có nghi ngờ lời ông nói. Theo ý hai ông, chúng ta nên làm gì trong trường hợp tiến thoái lưỡng nan này?

Trước khi Phúc Khang An đến Nam Ninh, Tôn Vĩnh Thanh và Thang Hùng Nghiệp đã hội ý với nhau trước nên khi nghe Khang An hỏi, Hùng Nghiệp đưa mắt nhìn Vĩnh Thanh. Tôn Vĩnh Thanh hiểu ý đáp:

–  Đánh mà không thể thắng chi bằng ta nghĩ cách giảng hòa cho tiện lợi đôi bên.

Phúc Khang An vừa trải qua trận chiến gian khổ ở Đài Loan nên đã ngán ngẩm việc chiến tranh, lại thấy gương thảm bại của Tôn Sĩ Nghị cũng lo sợ. Nghe hai người đều có ý chủ hòa nên xuôi theo, hỏi:

–  Hoàng thượng đang rất tức giận, quyết ý trả thù. Việc giảng hòa tiến hành thế nào để hoàng thượng vui lòng chấp thuận?

Hùng Nghiệp nói:

–  Lê thần Phan Khải Đức là người Tôn tổng đốc rất tin cẩn, ta cứ giao cho hắn tiếp xúc với bọn Tây Sơn.

–  Vậy được. Ông hãy viết một bức thư hù dọa bọn Tây Sơn, bảo chúng phải sang khất hàng và chịu tội cùng thiên triều để khỏi bị trừng phạt.

Hùng Nghiệp vâng lệnh trở về thảo một bức mật thư giao cho Phan Khải Đức đem đến trấn Nam Quan trao cho Hô Hổ hầu. Trước khi đi, Hùng Nghiệp dặn:

– Ngươi bảo bọn Hô Hổ hầu nói với Nguyễn Huệ nên mau chóng thực hiện việc cầu hòa, mọi việc đã có ta đứng sau lo liệu. Đừng chậm trễ, nếu để Đại hoàng đế hạ chỉ xuất quân thì không tốt đâu.

Phan Khải Đức vâng dạ rồi tìm đến trấn Nam Quan trao thư. Hô Hổ hầu hỏi:

–  Ý tứ của bọn chúng thế nào?

Khải Đức đáp:

–  Rất sợ Tây Sơn nên không dám ra quân. Hô Hổ hầu tin cho hoàng thượng hay, cứ giữ thế thượng phong mà thương thuyết. Mọi việc bên trong đã có Thang Hùng Nghiệp và Tôn Vĩnh Thanh giúp đỡ.

Bức mật thư của Thang Hùng Nghiệp được cấp tốc mang về Thăng Long, vua Quang Trung mở ra đọc, nội dung thư viết như sau:

“…Lê Duy Kỳ bỏ nước trốn, Thiên triều quyết không đem nước An Nam cho y nữa. Hãy thừa lúc trước khi chưa vâng chỉ dụ xuất binh tảo phạt, cử người gõ cửa quan kêu xin, ngõ hầu có thể ngưỡng cầu ân điển…

Bản đạo nhân vì giữ chức ở biên giới, tương lai có rất nhiều việc giao thiệp với các ngươi vì vậy viết kín thư này bảo cho biết. Thuận theo thì hưởng phước, nghịch lại thì chuốc họa, tùy ngươi tự chủ lấy.”[4]

Vua Quang Trung đọc xong cả cười nói với quần thần:

–  Bọn chúng đã sợ uy quân ta nên mở lối xúi ta cầu hòa trước. Thời Nhậm hãy dùng lời lẽ của kẻ chiến thắng viết một tờ biểu trần tình để dằn mặt chúng trước cho chúng biết ta không vì sợ trả thù mà gõ cửa quan cầu xin.

Thời Nhậm nghe theo thảo ngay tờ biểu dâng lên. Vua Quang Trung đọc xong gật gù tán thưởng, giao thư cho Tín Nhi mang đi và dặn:

–  Ngươi mang thư cùng một số ngân lượng lên Nam Quan lo việc giảng hòa cho ta. Ý tứ thế nào ngươi đã rõ rồi.

Tín Nhi vâng lệnh lên ngay biên giới. Bấy giờ Phúc Khang An đã đem rất nhiều binh mã đóng dọc theo biên giới để thị uy, cờ xí rợp trời, khí thế dời non. Bên này, Tây Sơn cũng cho tập trung đại quân, doanh trại đóng giăng giăng hàng mấy dặm, không khí biên giới hai nước hết sức căng thẳng. Hô Hổ hầu nhận tờ biểu liền đích thân mang đến cho Thang Hùng Nghiệp. Hùng Nghiệp mở ra đọc, biểu viết có những đoạn:

“…Đốc bộ đường Tôn Sĩ Nghị là đại thần ở biên giới đáng lẽ phải tra xét kỹ, tìm nguyên do vì sao Duy Kỳ bỏ nước và vì sao tôi phải đem quân vào, rồi tâu rõ lên Đại hoàng đế, chờ ngài phân xử… Thế mà vì nghe theo lời người đến trước, Sĩ Nghị xé biểu chương của tôi ném xuống đất, rồi truyền hịch khắp trong nước, mượn tiếng khôi phục nhà Lê… Nghị điều binh qua cửa ải, chực “nhổ cỏ, nhổ cả rễ”, chém giết bừa bãi để hả dạ tham tàn. Tôi ở tít tận chân trời xa xôi, chẳng biết việc đó là do Đại hoàng đế sai khiến hay là tự kẻ bầy tôi nơi biên giới trá mệnh để cầu công?...”

“Ngày hôm ấy, quân Sĩ Nghị xông ra đánh trước, vừa mới giao phong đã vỡ chạy tán loạn, thây chết chồng chất lên nhau, đầy đồng, nghẽn sông…”

“Này, đường đường là triều đình Thiên tử lại đi so hơn thua với nước rợ nhỏ thì ắt là muốn cùng khốn binh sĩ, lạm dụng vũ lực hầu sướng khoái lòng tham tàn thì thật cái lòng của Thánh thượng không nhẫn.”

“Trong muôn một nếu can qua nối tiếp không dứt, tình thế đến nỗi nào thì thật không phải do tôi muốn, mà cũng không dám biết nữa.”

“Tôi đóng quân ở thành Long Biên, ngóng trông về cửa trời… có tờ biểu tạ tội và trần tình này, nhờ quan Quảng Tây phân tuần Tả giang binh bị đạo chuyển tâu trình giúp…

Tôi kính cẩn sai sứ sang cửa khuyết, xưng phiên thần, sửa lễ cống… Lại sẽ xin đem số người hiện còn của nhà vua mà dâng nộp để bày tỏ tấc lòng chân thật này”[5].

Thang Hùng Nghiệp đọc xong thất kinh nói:

–  Nay không phải hai nước đánh nhau, sao hành sự toàn một giọng giận dữ? Nói thế là muốn cầu hòa hay muốn gây tiếp can qua chăng? Ông về bảo vua ông hãy viết lại, dùng lời lẽ nhã nhặn hơn để được lòng thánh thượng.

Rồi sao lại một bản, bản chính trả cho Hô Hổ hầu đem về. Theo lệ nhà Thanh, thư của sứ giả các nước khi đến biên giới không được dán kín, quan giữ biên giới xem qua rồi mới dán lại gởi về triều. Tờ biểu trần tình của Tây Sơn tuy bị trả lại nhưng bản sao vẫn được gửi về cho Càn Long. Trong thời gian qua, vì có sự lo lót của nhóm Phúc Khang An, Tôn Vĩnh Thanh và Thang Hùng Nghiệp, sủng thần Hòa Khôn đã khéo léo khuyên vua Càn Long nên chấp nhận đề nghị cầu hòa của Tây Sơn, do đó sau khi đọc tờ trần tình, Càn Long ra chỉ dụ bảo Phúc Khang An, dụ có đoạn:

““… Phúc Khang An truyền hịch dụ Nguyễn Huệ, trong sự nghiêm khắc nên mở một con đường. Nên dụ rằng: “Ngươi hối tội đầu hàng, nhưng trong biểu văn dùng từ cũng chưa ổn; Bản bộ đường đáng phải bác trả lại. Nếu tình và từ ngữ thành khẩn, lập ngôn cung thuận, sẽ giúp ngươi trần tấu, để đợi chỉ tuân hành…”

“Nguyễn Huệ như muốn khất hàng, trước hết phải đưa các quan binh tống xuất, trói những tên đã giết các Đề, Trấn đem hiến, như vậy Bản bộ đường mới có thể tâu thay để khẩn cầu Đại hoàng đế gia ân mở lượng khoan hồng… Nếu Nguyễn Huệ không lo sửa đổi ngay chỉ gởi người đến để thử, Bản bộ đường sẽ cử binh bốn lộ hội tiễu, quét sạch sào huyệt thì chẳng còn hối được nữa.[6]

Phúc Khang An nhận được chỉ dụ, theo lời dặn vội viết thư sai người đem đến Nam Quan. Hô Hổ hầu  cho mang gấp về Thăng Long. Vua Quang Trung đọc thư xong bảo Ngô Thời Nhậm:

–  Vậy là bọn chúng đã chấp thuận việc cầu hòa. Từ nay nên dùng lời lẽ nhu thuận vuốt mặt Càn Long. Khanh hãy thảo tờ biểu cầu phong giao cho Quang Hiển thay ta sang Yên Kinh nộp cống, xưng thần. Ngày mai ta phải trở về Phú Xuân để Nguyễn Ánh e dè, mọi việc bang giao, khanh cùng Phan Huy Ích và các quan bàn bạc sao cho có kết quả tốt đẹp, trừ phi là việc tối quan trọng, đừng chờ đợi ý của trẫm làm mất thời gian.

Ngô Thời Nhậm tâu:

–  Thần sẽ hết sức để không phụ lòng tin cậy của hoàng thượng.

Vua Quang Trung dặn Ngô Văn Sở:

–  Khanh cho người hộ tống tất cả tù binh lên biên giới trao trả lại cho Phúc Khang An. Việc quân quản ngoài này giao cho khanh cùng Ngô Thời Nhậm trông coi.

Văn Sở tâu:

–  Thần tuân chỉ.

Nhà vua dặn Quang Hiển:

–  Nếu Càn Long chấp thuận hòa hảo cho đến Yên Kinh gặp mặt, cháu thay mặt ta sang gặp lão, để Tín Nhi đi theo hộ tống. Hắn biết phải làm gì cho ta.

–  Dạ cháu hiểu rồi.

Hôm sau Ngô Thời Nhậm dâng tờ biểu lên và tâu:

–  Thần theo ý hoàng thượng dùng lời lẽ mềm mỏng, chỉ sợ tổn hại đến người. Mời hoàng thượng xem qua.

Vua Quang Trung đọc qua:

“…Thần khởi lên ở đất Tây Sơn, đầu tiên có đất Quảng Nam, vốn không có sự phân biệt cao thấp với họ Lê.

“Năm ngoái thần đã từng sai người gõ cửa quan trình bày đầy đủ duyên cớ việc gây hấn với họ Lê. Quan Trấn thủ biên cương bác thơ không đề đạt ngay lên Bệ hạ.

“Kịp khi binh ra quan ải đi chinh phạt, thì tháng Giêng năm nay thần đã ra Lê thành để hỏi duyên cớ và kêu xin quân của Thiên triều.

” Không ngờ  vừa trông thấy, quan quân liền phấn khởi hăng hái tàn sát, bọn thủ hạ của thần thình lình khó bó tay chịu trói, lại gặp cầu trên sông bị gãy, quan binh bị tổn thương, kinh hoàng khôn xiết.

“Thần đã nhiều lần sai người gõ cửa quan xin tội, cùng đưa về những quan binh chưa chạy khỏi nước An Nam. Còn những kẻ đã sát hại quan Đề, Trấn thì trót đã mắt thấy nên đem xử theo pháp luật rồi.

“Thần vốn phải đích thân đến triều khuyết trần tình xin tội, nhưng vì trong nước việc binh cách dân tình chưa yên, kính cẩn sai cháu ruột là Nguyễn Quang Hiển mang theo tờ biểu vào chầu..”[7]

Đọc xong nhà vua mỉm cười nói:

–  Viết hay lắm. Lời lẽ của Càn Long và Phúc Khang An càng hống hách bao nhiêu, khanh cứ thay ta mềm mỏng bấy nhiêu để vua tôi hắn hởi dạ mà gật đầu. Trẫm chẳng màng đến những việc nhỏ mọn này đâu.

Ngô Thời Nhậm thầm phục trong lòng. Ông cúi đầu nói:

–  Thần lãnh ý hoàng thượng.

Thu xếp mọi việc xong, vua Quang Trung lên đường trở lại Phú Xuân, không quên sai quân mang theo một số cành hoa đào Thăng Long về làm quà cho các hoàng hậu cùng chiếc áo dài Quan họ tặng riêng cho Hữu cung Ngọc Hân.

** * * *

[1] Nguyên văn câu nói của Tôn Sĩ Nghị: “Quang Bình bất diệt tất bất hưu!”

[2] Thanh Cao Tông Thực Lục. Trích từ dụ số 50, ngày 19-2-1789. Bản dịch Hồ Bạch Thảo.

[3] Cao Tông Thực Lục. Dụ số 51, ngày 20-2- 1789.

[4] Bản dịch chữ Hán của Hoa Bằng.

[5] Bang giao tập – Ngô Thời Nhậm.

[6] Cao Tông Thực Lục – Dụ ngày 27-2-1789.

[7] Theo Đại Nam Chính Biên Liệt Truyện.

NTSH – Hồi thứ năm (tt)

Kỳ 183:

……..

Trước hôm khao quân, ông bà Bùi Đắc Chí, cha mẹ của Bùi Thị Xuân và Bùi Văn Nhựt, Bùi Đắc Tuyên chú nàng, vợ chồng La Xuân Kiều và tiểu thư La Bích Ngọc đã có mặt ở An Khê chuẩn bị cho hỷ sự. Đến trưa Trần Quang Diệu trở lại cùng hai người anh và một người thanh niên trẻ, nét mặt phương phi, tướng mạo đường đường. Diệu giới thiệu hai anh mình với Nguyễn Nhạc xong nói:

–  Em giới thiệu anh Cả một vị anh hùng, coi như đền ơn ông mai.

Nhạc nhìn chàng thanh niên thầm khen trong bụng, hỏi:

–  Là ai đây? Nhìn tướng cách, biết ngay anh hùng xuất thiếu niên.

Diệu đáp:

–  Vũ Văn Nhậm, vốn là thuộc tướng của Trấn thủ dinh Quảng Nam nhưng vì bất mãn quan trên nên bị bắt tội, bỏ trốn vào Quy Nhơn. Đến Phù Ly nghe có lão thổ hào ức hiếp con gái nhà lành, nổi giận giết chết, đang định trói mình nộp lên huyện thì gặp em. Em biết được bèn mời chàng ta về với Tây Sơn.

Nhạc mừng rỡ bước tới vịn vai Vũ Văn Nhậm nói:

–  Tây Sơn may mắn được tráng sĩ theo về. Từ nay anh làm việc bên cạnh tôi, chúng ta đồng tâm hiệp lực mưu cầu hạnh phúc cho muôn dân.

Vũ Văn Nhậm cúi đầu bái tạ:

–  Tiếng đồn Tây Sơn đãi sĩ chiêu hiền quả không ngoa. Vũ Văn Nhậm này nguyện theo dưới cờ, dẫu chết không từ để đền ơn tri ngộ.

Hôm sau nhóm người của Nguyễn Thung đã lên đến. Phạm Ngạn trước đó đã cho lập ở giáo trường ba khán đài có mái che, khán đài ở giữa cao hơn để quan khách ngồi xem duyệt binh, hai cái hai bên thấp hơn,  để cho những người thân của các tướng lãnh. Trên khán đài, Nguyễn Nhạc ngồi giữa, bên trái có Giáo Hiến, bên phải có Nguyễn Lữ. Vũ Văn Nhậm, Ngô Văn Sở và Võ Đình Tú đứng vòng tay hầu phía sau. Tiếp theo, bên tả làm nhóm Nguyễn Thung, Huyền Khê, Lý Tài, Tập Đình, Nữ chúa Thị Hỏa và bốn anh em Châu Văn Tiếp. Bên hữu dành cho các tộc trưởng các tộc thiểu số vùng An Khê theo về với Tây Sơn.

Đúng giờ Ngọ, từ phía cuối giáo trường bỗng vang lên một hồi trống trận. Tiếng trống nghe hào hùng như tiếng sấm nổ vang, thúc giục lòng người. Đội kỵ binh của Lý Văn Bưu xuất hiện đầu tiên. Bốn trăm con ngựa cao lớn đồng loạt phi nước đại qua một quảng đường dài mà đội hình vẫn giữ nguyên không hề thay đổi, chứng tỏ cách điều khiển ngựa hết sức tài tình của các kỵ sĩ. Lý Văn Bưu và hai người khác phóng ngựa đi đầu, hai kỵ sĩ hai bên tay cầm hai lá đại kỳ đỏ chói có thêu chữ Tây bên phải và chữ Sơn bên trái, hai lá đại kỳ bay phần phật trong gió. Đoàn kỵ mã đang phi rầm rập với tốc độ kinh hoàng nhưng khi đến trước khán đài bỗng nhiên đồng loạt đứng yên lại. Bốn trăm con ngựa cất tiếng hí vang, tám trăm chiếc vó trước đồng cất cao trông hết sức ngoạn mục. Các kỵ sĩ vẫy tay chào quan khách trên khán đài, sau đó phóng nhanh về phía cuối giáo trường. Cũng may đêm qua có cơn mưa nhẹ, nếu không với cách dừng ngựa kiểu đó, cả giáo trường bụi đất sẽ phủ mờ.

Khi đoàn kỵ mã phóng trở lại họ đi theo hàng một, mỗi kỵ sĩ đã có trong tay một cây cung, đến trước khán đài, ở phía xa trước mặt đã cắm sẵn một dãy trụ bia nhỏ vẽ những vòng tròn với hồng tâm ở giữa. Đoàn kỵ mã đang lao đi vun vút, các kỵ sĩ trên lưng ngựa dương cung lắp tên bắn vào những hồng tâm. Ba trăm mũi tên xé gió cắm vào những tấm bảng không lệch một mũi tên nào. Từ vị trí ngựa đang phóng đến trụ hồng tâm, khoảng cách ít nhất hai mươi trượng (hơn 100m), ba trăm kỵ sĩ đã không bắn hụt một mũi tên nào, quả là một điều hiếm thấy xưa nay. Đến lượt một trăm kỵ mã sau cùng, họ dùng một loại nõ liên châu, mỗi phát bắn ra được năm, sáu mũi tên, tuy ngựa đang phi với một tốc độ lớn, những mũi tên liên châu được họ bắn ra cũng chẳng trược ra ngoài bia mũi nào. Cả khán đài và những người đang xem duyệt binh đều đồng loạt vỗ tay tán thưởng vang động cả giáo trường.

Đoàn quân khinh kỵ vừa rút đi, một hồi trống trận thứ hai lại vang lên, đội Tượng binh mười con do Bùi Thị Xuân chỉ huy tiến tới trước khán đài, mỗi con voi do một nữ binh ngồi trên lưng điều khiển. Hai vị nữ tướng trên mình hai con voi đi kế sau Bùi Thị Xuân chính là Bùi Thị Lan và Trần Thị Lan. Đi sau đàn voi là một toán nữ binh một trăm người, vũ khí sáng giới, dẫn đầu là hai bé gái chừng mười hai, mười ba mặc võ phục. Đàn voi chiến đến trước khán đài, Bùi Thị Xuân bỗng hét to một tiếng, mười con voi đồng loạt quỳ xuống. Một tiếng hét nữa vang lên, đàn voi đồng loạt đứng lên, sau đó theo hiệu cờ trong tay Bùi Thị Xuân, mười nữ binh điều khiển voi đi theo những thế trận rất ngoạn mục, cuối cùng Bùi Thị Xuân lại phất cờ và hét lớn một tiếng, mười con voi bỗng vùng lên phóng chạy nhanh về phía cuối giáo trường, toán nữ binh rầm rập chay theo, trong sự kinh ngạc tột cùng của bao nhiêu người đang hiện diện.

Nhạc quay sang hỏi Lữ:

–  Hai cô bé đi đầu con cái nhà ai vậy?

Giáo Hiến đáp thay:

–  Cô bé bên phải lúc nãy là Nguyễn Thị Dung, em của Nguyễn Văn Xuân. Cô bên trái là Huỳnh Thị Cúc, em của Huỳnh Văn Thuận, cả bốn đều ở Quảng Ngãi. Xuân và Thuận đều là những người có tiếng ở Quảng Ngãi, họ hứa sẽ theo về với Tây Sơn khi nào chúng ta xuống đồng bằng. Đầu năm nay Xuân và Thuận có đưa hai cô gái vào xin theo học với tôi nhưng tôi không nhận học trò nữ nên giới thiệu lên cô Xuân. Cả hai tuy còn nhỏ nhưng căn bản văn, võ khá vững vàng, rất có triển vọng trong tương lai.

Đoàn Tượng binh vừa khuất dạng, đội Hỏa quân ba trăm người của Nguyễn Văn Lộc ào ào chạy tới với một tốc độ rất nhanh, họ dàn hàng ngang mười người, hàng trước cách hàng sau vài mươi thước. Trên tay họ cầm một loại vũ khí trông lạ mắt, vừa nhọn như cây giáo cán dài, lại có cả lưỡi câu liêm, thêm một sợi dây cột một đoạn lao ngắn vào cán giáo, đầu lao lại có một chùm như bùi nhùi. Khi đoàn hỏa quân đến trước khán đài, Nguyễn Văn Lộc vẫy tay chào Nguyễn Nhạc, sau đó phất cây cờ đỏ trong tay, hai người đi sau Lộc liền đốt hai trái hỏa pháo quẳng ra xa. Hai tiếng nổ lớn vang lên khiến mọi người giật mình. Liền sau hai tiếng nổ, những người đi ở mé ngoài của từng hàng quân liền châm lửa vào cái bùi nhùi đầu ngọn lao, ngọn lửa vừa bốc cháy, người thứ hai liền mồi vào đầu cây của mình, sau đó mồi cho người thứ ba, cứ như vậy chỉ thoáng chốc, ba trăm cái bùi nhùi đều bốc cháy. Nguyễn Văn Lộc lại đưa cao cây cờ trong tay phất mạnh một cái, tức thì ba trăm cái bùi nhùi và đoản côn trong cây giáo bỗng bay vụt tới trước, sau một tiếng “tách” vang lên từ chiếc cò lẩy trên cán giáo, những hạt dầu rái ở đầu bùi nhùi đang cháy bắn ra tung tóe. Những hạt lửa bay ra mang theo mùi khét lẹt của dầu rái cùng khói dầu bốc lên tạo ra một khung cảnh vừa uy mãnh vừa khủng khiếp. Châu Văn Tiếp đang ngồi xem bỗng cất tiếng hỏi:

–  Loại vũ khí gì mà ghê gớm quá vậy Cả Nhạc?

Nguyễn Nhạc mỉm cười, mặt không dấu được vẻ đắc ý, đáp lớn cho mọi người cùng nghe:

–  Đó là Hỏa Hổ. Nó vừa có công dụng đánh trận, đốt địch ở tầm xa, lại có thể leo thành vượt lũy. Một sáng kiến mới của anh em thợ rèn Tây Sơn đó.

Nguyễn Thung nói, giọng kinh khiếp:

–  Loại vũ khí này nếu có nhiều thì chiến trường nào mà không đánh thắng, quân địch nào mà không thảm bại.

Nguyễn Nhạc nói:

–  Chúng tôi đang cố gắng chế tạo thêm nhưng không đủ nguyên vật liệu. Không dễ làm đâu.

Đoàn Hỏa quân vừa rút lui thì tiếng trống trận lại vang lên dồn dập, vang động cả thao trường. Toán bộ binh ba ngàn người vừa Kinh, vừa Thượng hùng dũng tiến tới theo nhịp trống. Đại quân chia làm ba toán, Tiền quân có Nguyễn Huệ, Nguyễn Văn Tuyết và A Phàm của tộc SêĐăng cưỡi ngựa đi đầu, khi đến gần khán đài, Nguyễn Huệ tách ra, hướng về một chiếc đài cao, nhảy xuống ngựa rồi bước lên đài, tay cầm một lá cờ lệnh, thanh kiếm lệnh dắt bên hông trong thật oai phong. Toán trung quân có Trần Quang Diệu cưỡi ngựa đi đầu, hậu quân do Lê Văn Hưng, Nguyễn Văn Kim điều khiển.  Khi cả đại quân đã dàn ngang trước vùng khán đài, Nguyễn Huệ tay cầm cờ lệnh phất lên, ba ngàn nghĩa quân theo hiệu cờ mà di chuyển, tạo thành những thế trận khác nhau, biến đổi từ  Phương trận sang Viên trận, rồi trở thành Trường xà trận, Bát môn kim tỏa trận… thiên hình vạn trạng. Điều khiến cho số người quan sát kinh ngạc và thán phục nhất là ba ngàn con người dưới kia, từ động tác đến tiếng hô đều đồng nhất y như một. Châu Doãn Chữ buộc miệng khen:

–  Nguyễn Huệ điều binh khiển tướng không khác gì các danh tướng thuở xưa ghi trong sách vở. Đời tôi được chứng kiến cảnh tượng này phải nói là một dịp may hãn hữu.

Lý Tài ngồi bên cũng lên tiếng khen:

–  Hàn Tín ngày xưa luyện binh chắc cũng như thế này thôi.

Nguyễn Nhạc cười ha hả nói:

–  Cảm ơn các vị quá khen. Đây chỉ là một đạo binh nhỏ nên mới được vậy mà thôi.

Doãn Chữ là người am hiểu binh pháp nên nói:

–  Không hẳn thế. Điều binh ăn thua ở cái uy và tài trí của người chủ soái, một vạn cũng vậy mà trăm vạn cũng vậy, bậc thần tướng trong thiên hạ coi như nhau. Nguyễn Huệ, theo tôi, có đủ khả năng này.

Phía bên khán đài thấp hơn, ba cô gái Ngọc Lan, Liên nhi, Út Hương đang ngồi với nhau theo dõi duyệt binh. Liên nhi nói nhỏ:

–  Chị Hương coi anh Lộc kìa, thật là một trang hổ tướng. Chị có một đấng trượng phu như thế thật không bỏ công giấu rượu cho chàng đó nhé. Sau duyệt binh là phải nhanh chân về nhà sửa soạn cho tối tân hôn.

Út Hương đỏ mặt vì sung sướng nói:

–  Chị Liên ghẹo em hoài.

Liên nhi cười nói:

–  Cả chị Ngọc Lan nữa, xem con người anh Huệ trước thiên binh vạn mã oai phong như thế mà gặp chị thì cứ như chú thỏ đế, nói chẳng nên lời. Hi… hi…

Ngọc Lan cả thẹn dùng cùi chỏ thúc nhẹ vào hông Liên nhi:

–  Chị chỉ khéo tài chọc ghẹo thiên hạ mà thôi. Em để ý khi anh Huệ đứng trên kỳ đài điều khiển ba quân, ánh mắt của chị mới say đắm làm sao ấy.

Liên nhi đỏ mặt chối:

–  Làm gì có, chị đừng suy bụng ta ra bụng người.

Út Hương mỉm cười chồm tới giữa hai người thầm thì:

–  Trai năm thê bảy thiếp, em thấy hai người về sống chung một nhà là hay nhất, khỏi cãi nữa.

Hai cô gái nghe nói thẹn quá cùng đấm túi bụi vào lưng Út Hương.

Buổi chiều hôm đó Tây Sơn mở tiệc khao quân vừa mừng chiến thắng đầu tiên vừa mừng hỷ sự của bốn vị tướng chỉ huy. Rừng Tây Nguyên đêm đó vui như mở hội. Tiếng cồng, tiếng chiêng vang động núi rừng, các cô sơn nữ và trai bản làng múa hát suốt đêm. Suốt thời gian đó Nguyễn Nhạc không hề đá động đến việc hợp tác với các thủ lãnh các nhóm khác. Hôm sau, lúc tiễn khách ra về, Nhạc nói với Nguyễn Thung và Huyền Khê:

–  Tôi cần một thời gian nữa để chuẩn bị binh mã, vũ khí, hai ông về dưới đó tích trữ lương thảo và khí tài. Nhất là việc trợ giúp muối và đồ biển khô lên cho chúng tôi, Phạm Ngạn sẽ liên lạc với các ông. Ngày tôi kéo quân xuống Tây Sơn hạ sẽ thông báo cho hai ông hay.

Đúng như dự đoán của Nhạc, hai người vâng dạ không ngớt miệng. Quay sang Lý Tài và Tập Đình, Nhạc tươi cười nói:

–  Nhị vị tướng quân đang có trong tay hai đạo quân thiện chiến, Tây Sơn rất cần sự giúp đỡ của nhị vị. Mong sự hợp tác của chúng ta mãi tốt đẹp.

Lý Tài ôm quyền đáp:

–  Ông Cả an tâm mà chuẩn bị, anh em chúng tôi sẵn sàng.

*

Mùa đông năm đó, khí trời vùng núi rừng An Khê rất lạnh, chứng ho của bà Giáo bấy lâu nay trở nên trầm trọng hơn khiến bà ngày càng suy nhược. Đôi khi bà ho ra máu, Giáo Hiến biết vợ mình đã mắc chứng lao phổi, nhưng điều kiện thuốc men ở núi rừng chỉ cho phép ông điều trị vợ mình một cách cầm chừng. Trong lòng ông rất lo nhưng ngoài mặt cố giữ sự bình thản. Hàng ngày ngoài việc thỉnh thoảng giúp Nhạc và Huệ một số ý kiến, ông dạy học cho đám đông học trò ở trại. Nhạc cho mở lớp học này để lớp nhỏ con của anh em nghĩa binh và bà con có chữ nghĩa và võ nghệ sau này ra giúp cho phong trào. Hoàng Nhi cũng được Tín Nhi gởi theo học với Giáo Hiến. Cha nó lúc trước là thầy đồ ở Bồng Sơn, bởi vậy nó và Phạm Công Trị, con của chị Tư Hoa, cháu gọi Nguyễn Nhạc bằng cậu, là hai đứa trẻ giỏi nhất trong đám học trò vùng Tây Sơn thượng.

Trong khi Nguyễn Huệ mãi mê tập luyện binh sĩ rất ít khi ghé thăm bà Giáo thì Trần Lập, vì lo việc quân nhu có hơi rảnh rang nên năng tới lui thăm hỏi, mỗi lần ghé thăm lại mang theo đủ thứ vật dụng đến biếu xén. Tính tình Lập lại vui vẻ hoạt bát nên mỗi lần có mặt anh ta, không khí nhà Giáo Hiến vui nhộn hẳn lên, do vậy mối giao tình giữa Lập và gia đình Giáo Hiến ngày càng gần gũi hơn, nhất là bà Giáo. Một hôm chỉ có Ngọc Lan bên giường bệnh, bà Giáo cầm tay con gái nói:

–  Mẹ e rằng sẽ không qua khỏi cơn bệnh hiểm nghèo này. Điều mẹ boăn khoăn nhất là việc chung thân của con.

Ngọc Lan nói:

–  Mẹ an tâm dưỡng bệnh, lo làm gì đến việc ấy cho hao tổn tinh thần. Con chưa nghĩ đến chuyện lập gia đình đâu.

Bà Giáo mỉm cười:

–  Con cũng giống mẹ thuở còn con gái. Lúc anh Cả nói tới chuyện hôn nhân với cha thì cứ lắc đầu nguầy nguậy, trong khi lúc nào tâm trí cũng nhớ đến cha con.

Ngọc Lan mỉm cười:

–  Vậy là mẹ lãng mạn hơn con rồi. Con không có ai để nhớ hết.

Bà Giáo vỗ nhẹ vào bàn tay con gái:

–  Cô qua mắt được mẹ cô sao? Thú thật đi, giữa Huệ và Lập, cô nghĩ đến ai nhiều hơn?

Mặt Ngọc Lan đỏ bừng lên vì thẹn:

–  Mẹ hỏi kỳ quá. Con không nghĩ đến ai hết.

Bà Giáo thở dài, giọng nặng nhọc:

–  Bác Cả Hồng Liệt của con, người mẹ xem như cha nuôi, cũng chỉ vì chuyện đấu tranh mà chết thảm ở chiến trường. Nay cha con lại đi theo con đường đó, mẹ rất lo. Anh hai con và hai em, chúng là con trai, có vùng vẫy trong cuộc đời cũng là điều dễ chấp nhận. Nhưng con là con gái, mẹ chỉ mong con có một mái ấm gia đình, một mái gia đình không gặp nhiều sóng gió trong thời buổi loạn lạc này. Con hiểu ý mẹ không?

Ngọc Lan cúi đầu thở nhẹ:

–  Con chỉ mơ hồ hiểu.

–  Con thương thằng Huệ, con cũng có cảm tình với thằng Lập, mẹ biết rõ điều này. Huệ là người có đại chí, suốt đời nó sẽ hiến dâng cho công cuộc đấu tranh chưa biết bao giờ kết thúc này. Huệ là con người của thời cuộc, của thiên hạ rộng lớn, không phải của gia đình nhỏ, không phải của con. Mẹ chỉ có bấy nhiêu để nói với con, suy nghĩ cho kỹ đừng để sau này đau khổ.

Ngọc Lan ngồi im lặng, hai hàng nước mắt từ từ chảy xuống đôi má. Bà Giáo âu yếm đưa bàn tay yếu ớt vừa húng hắn ho vừa lau nước mắt cho nàng.

Cuối đông năm đó, bà Giáo qua đời.

Một buổi chiều gió rừng lạnh buốt, Ngọc Lan đang ngồi lặng lẽ một mình bên mộ mẹ, tâm hồn lơ đãng tận đâu đâu với bao nhiêu ý tưởng quay cuồng trong đầu, đến khi Nguyễn Huệ đem hoa đến đặt lên mộ bà Giáo nàng mới giật mình trở về thực tại. Huệ ngại ngùng nói:

–  Tình cờ đem hoa viếng cô giáo, không ngờ gặp Lan ở đây. Gió lạnh quá, cẩn thận nếu không sẽ bị cảm lạnh.

Nói xong chàng cởi chiếc áo khoác, e dè choàng lên vai Ngọc Lan. Nàng ngồi yên lặng để Huệ khoác áo cho mình:

–  Cảm ơn anh Huệ.

–  Tôi thật có lỗi với cô, những ngày tháng cô bệnh, bận bịu quá nên không đến thăm được. Điều này khiến tôi áy náy mãi trong lòng.

Lan nói, giọng như hờn dỗi:

–  Anh Huệ là người chỉ huy của phong trào, chuyện anh bận bịu là lẽ thường, ai cũng hiểu mà.

–  Không phải Lan đang trách tôi đó sao?

–  Lan đâu có trách anh. Trái lại còn rất thông cảm cho anh nữa.

–  Xin lỗi. Nhưng tôi lại cảm giác trong giọng nói buồn buồn của Lan như có điều trách móc.

–  Anh an tâm để lo công việc. Chỉ vì Lan không thích không khí ở đây. Lạnh lẽo, u buồn, sặc mùi chiến tranh. Lan thật muốn trở về ngôi trường ở An Thái. Ở đó ấm áp biết bao.

Huệ thở dài:

–  Trong thâm tâm tôi cũng có ý muốn như Lan vậy, nhưng..

–  Nhưng anh bây giờ đã trở thành con người của thời cuộc, của thiên hạ rồi. Thân của anh bây giờ bất do kỷ rồi phải không?

Huệ im lặng một lúc lâu mới nói:

–  Biết làm sao được. Điều này Lan hiểu mà, phải không?

–  Lan hiểu. Bởi hiểu như vậy nên Lan càng chán ghét nơi này.

Huệ hiểu ý tứ trong câu nói của nàng, trong lòng chợt dâng lên một cảm giác ấm áp. Chàng dè dặt đặt bàn tay mình lên bàn tay của Lan đang để trên đầu gối nàng. Lan giật mình rút vội tay về. Nàng bỗng nhớ lại lời nói của mẹ hôm trước nên cúi đầu nói nhỏ:

–  Đừng anh Huệ.

Rồi nàng khóc. Huệ có cảm giác như mọi thứ trong đầu, trong cơ thể chàng đều vụt thoát ra ngoài. Tất cả con người chàng bỗng trống không, một sự trống rỗng tối đen. Cả hai cùng yên lặng, mỗi người đeo đuổi những ý tưởng đang xáo trộn trong đầu mình. Lâu lắm Huệ mới lên tiếng:

–  Tôi đưa Lan về, sương chiều rừng núi độc lắm.

Họ lặng lẽ đi về, mỗi người trĩu nặng trong lòng một khối u sầu. Họ bước song đôi nhưng giữ một khoảng cách ở giữa khá lớn. Sau một hàng cây, đôi mắt của Liên nhi sáng lên một ánh nhìn đầy hy vọng. Khoảng không gian cách biệt giữa Lan và Huệ chính là khoảng trời hy vọng của nàng. Liên nhi tựa lưng vào thân cây, nhắm mắt thầm ao ước cho khoảng không gian kia cứ mãi lớn lên, tách hai người họ ra xa, thật xa.

*

Huệ tiễn Ngọc Lan về gần đến nhà thì chia tay nàng, ghé thăm chị Da Đố vừa lúc Liên nhi từ ngoài về. Liên nhi gặp Huệ mừng rỡ reo lên:

–  Kìa anh Huệ! Lâu lắm không thấy anh ghé thăm chị Da Đố và em? Anh bận lắm phải không? Chao ơi! Hôm duyệt binh trông anh mới oai phong làm sao!

Huệ mỉm cười, chàng cảm thấy thật thoải mái khi gặp Liên nhi, cảm giác nặng nề lúc nãy khi đi bên Ngọc Lan vụt biến mất:

–  Ừ. Dạo này anh bận lắm, em sống với chị Da Đố vui vẻ chứ?

–  Dạ. Chị Da Đố tốt với em lắm. Em và chị Hương vợ anh Lộc đang phụ chị ấy coi sóc cánh đồng ở rừng Mộ Điểu.

–  Vậy là anh an tâm. Anh chỉ sợ em lẻ loi một mình sẽ buồn chán.

Liên nhi cười thật tươi:

–  Cảm ơn anh, em lúc nào cũng có thể tìm thấy niềm vui quanh mình. Anh đừng lo. Nhưng mà…

–  Nhưng mà sao?

–  Chị Da Đố nói, lúc này có chị Cả Huệ lên đây, chị ấy định hỏi anh Cả dời nhà xuống Mộ Điểu. Vậy là em phải đi theo chị ấy rồi.

–  Em muốn ở lại đây phải không?

Liên nhi cúi đầu đáp nhỏ:

–  Dạ…nhưng…

–  Nhưng sao?

–  Nhưng… ở đây với ai?

–  Để anh hỏi anh Cả cho em ở lại căn nhà này. Em có tài đánh đàn, có thể ở đây dạy cho Thọ Hương và Thảo Hương cùng những đứa trẻ khác. Thỉnh thoảng các em ca hát giúp vui cho bà con ở đây cũng là việc hay đấy chứ.

Liên nhi mỉm cười, nheo mắt nhìn Huệ:

–  Rồi ai nuôi cơm em?

–  Anh. Anh sẽ chia phần lương thực của anh cho em. Được chứ?

– Được chứ sao không. Như lúc trước chúng ta cũng đã từng chia cơm cho nhau vậy đó. Thọ Hương và Thảo Hương là ai vậy anh?

–  Là hai đứa con gái lớn của anh Cả, thằng Bảo là út. Chị Da Đố có nhà không? Chừng nào chị ấy dời xuống dưới kia?

–  Chị ấy đang ở trong bản. Nghe nói sắp rồi. Anh Huệ này. Sao em không thấy anh có nhà riêng cho mình? Anh là thủ lĩnh mà?

Huệ cười:

–  Anh sống trong trại với anh em cho vui. Anh muốn chia sẻ mọi thứ với họ một cách đồng đều, bình đẳng, trong sinh hoạt cũng như trong luyện tập.

–  Nhưng em nghĩ người thủ lĩnh phải có chút ưu tiên hơn chứ?

–  Chúng ta còn đang trong thời kỳ chuẩn bị, chưa có thành quả gì mà đã đòi hưởng thụ, làm sao anh em họ nghe mình. Hơn nữa, anh không nghĩ đến việc phải được ưu đãi hơn anh em, dù là sau này. Bình đẳng, đó là lý tưởng của anh và của phong trào.

Liên nhi cười tinh nghịch:

–  Trời ơi! Vậy mà anh đòi chia phần cơm cho em thì cả hai chỉ có chết đói.

Huệ vui lây với câu nói này, chàng nói:

–  Thôi để anh nói anh Bảy cấp phần lương thực cho em vậy. Coi như là trả công cho cô trưởng ban văn nghệ của trại.

Liên nhi nói như đùa, như thật:

–  Em đùa cho anh vui thôi. Em muốn được lãnh phần cơm của anh chia cho hơn.

–  Vậy thì rán chịu bữa đói bữa no nhé. Thôi em vào nhà đi, anh phải đi tìm Tín Nhi có việc.

Họ chia tay nhau. Huệ về trại mới biết Tín Nhi vừa cưỡi ngựa đi ra ngoài, chàng bèn lên ngựa phóng đi tìm. Hoàng hôn đã buông xuống, ánh trăng rằm tháng Chạp vừa nhú lên ở phương Đông soi sáng cả núi rừng cô tịch. Tín Nhi đang ngồi một mình bên vực Trầm Hương uống rượu ngắm trăng lên. Huệ xuống ngựa đến ngồi bên bạn:

–  Ta tìm ngươi trong trại không thấy, biết ngươi đang ở đây. Lại nhớ tới cô bé Hoài Quân bên dòng sông Vàm Cỏ à?

Tín Nhi vẫn nhìn ánh trăng lung linh trên mặt vực, đưa bầu rượu cho bạn đáp:

–  Nhớ thì ít mà lo thì nhiều.

Huệ đưa bầu rượu lên nốc một hơi dài, thở khà một tiếng hỏi:

–  Lo cái gì?

–  Lo cho cô bé cứ phải hàng ngày ra bờ sông chờ ta vẫy chiếc khăn đỏ này.

Tín Nhi rút chiếc khăn đỏ quấn quanh cổ ra, đưa cho Huệ coi. Nói tiếp:

–  Trong cách nói của Hoài Quân ta có cảm giác là cô bé ấy nhất định sẽ làm theo lời nói. Bởi vậy ta cứ lo cho sự hoài công của nàng.

–  Vẫn chưa có việc gì ở trong Nam để ngươi vào. Ngươi chịu khó bớt lo đi vậy.

–  Ta biết.

–  Đội thám báo và truyền tin của ngươi ra sao rồi?

–  Hơn trăm người rồi. Ta đang ráo riết luyện tập cho họ.

–  Con số đó còn ít lắm.

–  Ta biết. Trong thời gian tới khi tiếp nhận người mới lên, ngươi tuyển thêm cho ta. Nguyên tắc của đội thám báo là hoạt động âm thầm, càng ít người biết càng tốt. Trừ những thủ lĩnh.

–  Ta biết. Trước mắt ta sẽ cố gắng tuyển cho ngươi ít nhất năm trăm người nữa. Có như vậy mới đủ lực lượng cung ứng kịp thời cho hoạt động của phong trào khi nó lớn mạnh.

–  Ngươi và anh Cả đã có dự tính lúc nào xuống núi chưa?

–  Theo ta thì Tây Sơn phải có trong tay ít nhất năm nghìn nghĩa quân được luyện tập vững vàng mới khởi sự được. Sau đó khi chiếm vùng đất nào, ta mộ lính thêm ở vùng đó. Có lẽ phải đến sang xuân năm tới. Bởi vậy đội của ngươi phải bắt đầu hoạt động vào trước thời điểm đó.

–  Càng thận trọng càng đỡ sơ xuất. Ngày trước, Truông Mây vì vụ đốt phủ Quy Nhơn nên can qua dấy động sớm khi phong trào chưa đủ lực. Thất bại phần lớn là do vậy.

–  Đó là bài học quý giá cho Tây Sơn. Ta định ngày mai sẽ họp hết các chỉ huy cùng với thầy bàn về việc thống nhất cách luyện tập cho nghĩa quân, ngươi muốn tới dự không?

–  Ta càng ít xuất hiện càng có lợi hơn cho ngươi sau này.

–  Cũng được. Về việc huấn luyện anh em thám báo, ngươi cần ta giúp gì không?

–  Sư phụ ta và thầy ngươi sở học căn bản giống nhau, nhưng nếu ngươi có thời gian đến giúp ta một số ý kiến cũng được.

–  Ta sẽ thu xếp.

–  Mai này ta sẽ phải bôn ba đây đó vì công việc, Hoàng Nhi giao lại cho ngươi nhé. Ngươi ráng đào tạo, nó sẽ là một thuộc tướng giỏi dưới tay ngươi.

–  Ta sẽ chăm sóc nó thay ngươi. Nghe thầy khen nó và thằng Trị con chị Tư của ta lắm.

–  Ta chưa gặp qua chị Tư ngươi.

–  Chị Tư Hoa là vợ anh Sáu Bá, em của anh Năm Ngạn, ngươi biết Năm Ngạn rồi phải không? Họ Phạm nhà anh Năm Ngạn rất thân với nhà ta. Thằng Phạm Công Trị là con trai lớn của chị Tư. Chị Tư lấy chồng rất sớm nên thằng Trị chỉ nhỏ hơn ta vài tuổi, ngươi gặp nó sẽ rất ngạc nhiên.

–  Vì sao?

–  Vì nó giống ta như hệt. Cậu cháu mà như anh em sinh đôi vậy.

Tín Nhi bỗng hỏi:

–  Chuyện của ngươi và Ngọc Lan thế nào rồi?

Huệ nhặt một viên sỏi ném xuống mặt vực nước, ánh trăng loang ra theo những con sóng. Chàng thở dài:

–  Chẳng thế nào cả. Lo công việc trước đã, chuyện ấy cứ thả mặc cho tự nhiên.

Hai người im lặng chia nhau bầu rượu cho đến cạn sạch mới trở về.

*

Hôm sau Huệ mời các thủ lĩnh Tây Sơn đến thăm Giáo Hiến. Chàng thưa với thầy:

–  Con có ý định tinh lọc, đúc kết và hệ thống tất cả các môn võ của các phái lại thành những bài học từ căn bản đến cao cấp để huấn luyện cho nghĩa quân. Theo thầy việc này có nên không?

Giáo Hiến đáp:

–  Việc này vừa rất cần thiết cho việc huấn luyện, vừa có lợi cho nền võ thuật dân tộc. Điều lo ngại duy nhất là từ lâu, phái nào, nhà nào, cũng muốn giữ riêng tuyệt nghệ của mình, không muốn phổ biến cho đại chúng. Việc anh làm chỉ sợ đụng chạm đến họ.

Huệ nói:

–  Tính tư hữu, cục bộ đó từ lâu đã làm cho nền võ thuật nước nhà bị thui chột và chậm phát triển, lúc nước biến không đủ lực để chống ngoại xâm. Chúng ta phải vượt lên trên những tư hữu nhỏ nhen ấy mới mong nước nhà vững mạnh lên được.

Giáo Hiến nói:

–  Đó là điều mong ước của đại đa số, nhưng thiểu số sở hữu những bí truyền vẫn không muốn để lộ ra cho người khác biết. Tâm lý của họ là lo sợ không còn tuyệt chiêu để tranh hơn thua với kẻ khác.

–  Chúng ta làm việc này không phải cho một cá nhân hay một bang hội, mà là cho cả dân tộc, con tin sự đụng chạm kia dẫu có rồi cũng sẽ qua, các môn phái sẽ hiểu mục đích lớn của chúng ta.

Rồi chàng nhìn mọi người hỏi:

–  Các anh ở đây mỗi người đều có tuyệt nghệ riêng, có sẵn sàng chia sẻ cho tất cả anh em nghĩa quân không?

Lý Văn Bưu lên tiếng:

–  Sao lại không chớ. Anh Huệ cần gì cứ nói, tôi sẵn sàng.

Sáu người còn lại trong Thất Hổ tướng và Bùi Thị Xuân đều lên tiếng tán thành. Huệ nói:

–  Như vậy thì chúng ta hãy bắt đầu từ các bài quyền và vũ khí độc môn của tám vị ở đây trước. Nhờ thầy và các anh chị đúc kết lại thành những bài học từ căn bản đến cao cấp để huấn luyện anh em.

Chàng ngừng lại một chút, thấy không có ai nói gì, bèn nói tiếp:

–  Sau vụ Tín Nhi bị súng hỏa điêu bắn trúng, tôi giật mình nghiệm ra rằng, chiến tranh bây giờ không còn như xưa, một binh đội không nên phụ thuộc hoàn toàn vào viên tướng chỉ huy mà tất cả binh sĩ phải có khả năng tự chiến đấu, người tướng súy chỉ giữ vai trò điều động kế hoạch tác chiến. Thắng lợi của trận chiến phải dựa trên sự tài giỏi và lòng dũng cảm của những người lính.

Võ Đình Tú lên tiếng:

–  Nói rất hợp ý tôi. Nếu chiến trận chỉ dựa vào vị chỉ huy, chẳng may bị đạn lạc chết, cả binh đoàn phải thua trận thì quá thất sách.

Huệ được Tú ủng hộ nên hăng hái nói thêm:

–  Cho nên việc huấn luyện cho tất cả nghĩa quân có một trình độ võ công cao, có ý thức về chiến trận, nhất là lòng tin vào chiến thắng vững mạnh thì ra quân ta có thể nắm chắc phần thắng địch.

Tú nói thêm:

–  Như vậy, vị chỉ huy không những võ nghệ phải cao cường mà còn phải tinh thông thao lược để lúc lâm trận phải biết tùy cơ ứng biến cho thích hợp với tình hình. Binh pháp nói tùy vào hình, thế mà đánh địch là như vậy.

Giáo Hiến gục gật đầu tỏ vẻ ngợi khen. Ông nói:

–  Các ý kiến của anh Tú và anh Huệ rất đúng. Chúng ta phải làm việc từ dưới lên. Nghĩa là từng nghĩa binh phải giỏi để giúp cho các đội trưởng, từng đội trưởng phải giỏi để giúp cho binh trưởng v.v… Tổ chức được một quân đội như vậy thì chiến trường nào cũng có cách để đánh thắng, lại giảm thiểu tối đa sự sơ xuất của từng đơn vị tác chiến. Để làm được điều này trước hết chúng ta phải coi nhau như anh em, từ chỉ huy đến người lính, đặt công việc chung lên hàng đầu, danh dự cá nhân xuống thứ yếu. Thứ đến là phải chịu học hỏi, và siêng năng học tập, người tướng lĩnh có khi phải học ở người lính dưới quyền của mình.

Huệ thêm:

–  Từ nay, mỗi đêm các cấp chỉ huy từ Tốt (100 người), Lữ (500 người) đến Sư (2.500 người) phải có một khắc học tập binh pháp, hai khắc học võ thuật, sau đó về dạy lại cho các anh em trong bộ phận của mình. Về binh pháp, anh Tú và anh Sở giúp tôi một tay, về võ thuật, các anh sau khi thống nhất với thầy xong, mỗi người đảm trách việc huấn luyện cho anh em của mình. Kỳ hẹn ba tháng sẽ có một lần tranh tài trong các binh chủng.

Quang Diệu nói:

–  Tôi có biết bài quyền tên Ngọc Trản Ngân Đài của tộc họ Trương ở Phù Ly. Bài quyền này từ lời thiệu cho đến các thế đánh rất thích hợp để làm bài quyền nhập môn.

Giáo Hiến nói:

–  Anh đọc bài thiệu và biểu diễn các thế cho chúng tôi xem.

Quang Diệu đứng lên bước ra chỗ trống, vừa đọc lời thiệu vừa ra thế:

Ngọc trản ngân đài

Tả, hữu tấn khai thập tự

Liên diệp liên hoa

Đả sát túc, tọa, hồi mai phục

Tấn đả tam chiến

Thoái thủ nhị linh

Hoành tả, tọa, bạch xà lan lộ

Hữu hoành sát thanh long biên giang

Phụ tử tương tùy

Hoành hữu, tọa, bạch xà lan lộ

Tả hoành sát thanh long biên giang

Phụ tử tương tùy

Hồi tàng địa hổ

Song phi, triển dực

Hạ bàn đoản đả

Hồi tiễn tọa khai cung

Huỳnh long quyển địa

Tấn đả song quyền

Hoành tả, phục hạc khai linh

Trực tiền quyển địa

Tấn đả song quyền

Hoành hữu, phục hạc khai linh

Trực tiền quyển địa

Tấn, đả song quyền

Hướng, hậu đả thập tự

Diện tý

Hồi, tẩu mã giang tiên

Bái tổ, lập như tiền

Quang Diệu đi dứt bài quyền, Giáo Hiến khen:

–  Rất hay, vừa văn, vừa võ, lại mang tính chất đặc trưng của người Việt ta. Chọn bài này làm căn bản nhập môn là hợp cách nhất.

Huệ đề nghị:

–  Xin thầy dịch lời thiệu ra tiếng Nôm ta cho anh em dễ nhớ. Về sau, mọi thứ con thấy ta nên lấy chữ Nôm làm căn bản cho đại chúng dễ hiểu thầy ạ.

Giáo Hiến nói:

–  Ý hay. Tôi sẽ làm theo lời anh từ việc giấy tờ cho đến trong lớp học dạy bọn trẻ.

Huệ vội thưa:

–  Tạ thầy.

Theo tinh thần đã bàn, nghĩa quân Tây Sơn từ chỉ huy xuống đến nghĩa quân đều gắng công rèn luyện võ nghệ và học hỏi binh pháp. Tuy Nguyễn Huệ không nói đến môn phái, bang hội, nhưng vô hình trung, võ Tây Sơn đã hình thành và lớn mạnh, góp phần to lớn trong việc phát huy nền Việt Võ Đạo từ đó về sau. Cũng từ đó trong giới võ lâm Đại Việt truyền tụng câu “Đại Việt võ công xuất Tây Sơn”.

Đến mùa thu năm Qúy Tỵ, 1773, Tây Sơn đã có một đội quân chủ lực đông hơn năm ngàn. Hôm Nguyễn Huệ tổng diễn tập ở luyện võ trường, Nguyễn Nhạc cùng Giáo Hiến và các tộc trưởng các tộc Tây Nguyên ngồi trên khán đài dự khán đã không tiếc lời khen ngợi trước sự dũng mãnh của ba quân cũng như tinh thần kỷ luật cao độ của họ. Nhạc cố nén niềm vui nói với Giáo Hiến:

–  Với đoàn quân này, theo ý thầy đã đến lúc chúng ta khởi sự chưa?

Giáo Hiến đáp:

–  Để chiếm lấy Quy Nhơn, Quảng Ngãi và Phú Yên thì được, nhưng muốn đủ lực chống đỡ quân Nguyễn ở cả hai mặt nam, bắc cần phải tuyển thêm nhiều quân lính nữa.

–  Chúng ta chiếm đất đến đâu, mộ quân đến đó. Tôi dự trù để chú Huệ và vài tướng lãnh ở lại đây luyện quân, số còn lại bắt đầu khởi sự. Ý thầy thế nào?

–  Tôi tán thành.

Nhạc mừng rỡ nói:

–  Thầy đã đồng ý, ngày mai tôi sẽ cho mời bọn Nguyễn Thung, Huyền Khê về An Khê họp bàn để thống nhất kế hoạch tổng khởi nghĩa. Nhờ thầy đề xuất chiến lược ra quân và mục tiêu khởi nghĩa của phong trào.

Giáo Hiến nói:

–  Việc này tôi đã có chủ kiến, ông Cả cứ tiến hành.

*****