damdamthuy

Kỳ 7: 

Hồi thứ ba

Chân hiệp sĩ luận bàn về đao kiếm

Thiện tao nhân đàm đạo lẽ huyền vi.

*

Cả phủ Quy Nhơn xôn xao tin quan Khâm sai đại thần từ Phú Xuân vào thăm một cách đột ngột mà không biết vì lí do gì. Vị tân Tuần phủ Nguyễn Khắc Tuyên vừa mới về nhậm chức vội vã lo chuẩn bị mọi thứ để đón quan Khâm sai. Nguyễn Khắc Tuyên vốn là người bà con của Chưởng cơ Nguyễn Cửu Thống, một trong những cánh tay đắc lực của quan Ngoại tả Trương Phúc Loan. Phúc Loan muốn tạo thế lực cho mình nên đã cài những kẻ thân tín vào giữ những chức vụ quan trọng từ trong phủ Chúa đến các dinh phủ bên ngoài.

Vì đang là mùa hạ nên thay vì đi đường bộ, vị Khâm sai đại thần đã theo đường biển vào cửa Đề Gi để lên Phù Ly chứ không theo cửa Nước Mặn đến phủ lỵ Quy Nhơn. Quan huyện Phù Ly là Bùi Thế Phát biết tin liền cho mời quan Tuần phủ ra Phù Ly và tất bật sửa soạn cho việc tiếp đón. Vị Khâm sai đợt này chính là quan Hình bộ Tôn Thất Dục, theo phụ tá là Tả hộ vệ Đoàn Phong cùng với một vị quan trong Công bộ. Sáng hôm sau, Tôn Thất Dục cho mời quan Công bộ, Tuần phủ Nguyễn Khắc Tuyên, quan Khám lý Hoàng Công Đức và quan huyện Phù Ly Bùi Thế Phát đến họp. Tôn Thất Dục nói:

– Phủ Chúa vừa nhận được thư của một người ở vùng Bích Khê này báo rằng ông ta đã phát hiện một mỏ vàng trong vùng Kim Sơn nên giao lại cho triều đình, do đó Vương thượng mới sai ta vào đây họp cùng các ông lo việc khai thác và quản lý.

Ba người nghe nói đến mỏ vàng liền tỏ vẻ vừa kinh ngạc vừa vui mừng. Bọn Nguyễn Khắc Tuyên đồng thanh nói:

– Hạ chức xin gởi lời chúc mừng Vương thượng. Ngài mới đăng Vương đã có tin vui như thế thì đúng là hồng phước tề thiên.

Tôn Thất Dục ra lệnh:

– Bây giờ chúng ta phải đến thăm người phát hiện ra mỏ vàng trước, sau đó đi thăm mỏ xem tình hình thế nào mới có thể có kế hoạch khai thác cụ thể được.

Bùi Thế Phát vội hỏi:

– Người phát hiện mỏ vàng là ai thế, thưa ngài Khâm sai?

– Là Võ Trụ, chủ trại ngựa ở núi Bích Khê gần đầm Trà Ô.

Mọi người ồ lên kinh ngạc, Bùi Thế Phát nói:

– Là ông ta à? Tôi có biết ông ấy. Một người rất tốt.

Tôn Thất Dục hối:

– Thôi chúng ta đi! Đi bằng ngựa thường, không cần người hộ tống hay mặc quan phục gì cả.

Trên đường đến Bích Khê, Đoàn Phong vừa đi vừa mỉm cười, trong lòng rất vui. Chàng thầm nghĩ: “Đúng là có duyên thì ngàn dặm cũng sẽ gặp. Không ngờ người bạn tình cờ kết giao ở chùa Thiên Mụ ngày nào lại là người phát hiện mỏ vàng và bây giờ mình lại có dịp làm việc chung với anh ta. Tuyết Hoa đã không lầm khi nhận xét anh ta là người chân thật, ngay thẳng.”

Mấy năm gần đây việc mua bán ngựa phát đạt nên trang trại của Võ Trụ sửa sang lại cũng khá khang trang. Khi đoàn người trên huyện đến trước cổng trang trại thì gặp Doãn Trọng Hào đang chơi đùa với tên sư đệ tí hon. Nhìn thấy Đoàn Phong, Trọng Hào hết sức ngạc nhiên, nó mừng rỡ kêu lên:

– Kìa Phong thúc thúc, chú vào thăm thầy cháu đó à? Nhanh thế? Trời ơi, thầy sẽ vui mừng lắm đó, người vẫn nhắc đến thúc thúc hoài. À, cháu xin chào mấy bác. Mời vào nhà, cháu sẽ đi báo với thầy ngay.

Nói rồi nó vội vàng bế đứa bé chạy vào trong nhà. Mọi người chậm rãi bước theo sau. Lát sau, Võ Trụ từ trong nhà đi ra. Nhìn thấy Đoàn Phong, Võ Trụ mừng rỡ reo lên:

– Kìa Phong huynh, nghe Trọng Hào nói tôi không tin là thật. Chà, tôi vui biết chừng nào, không ngờ Phong huynh lại tìm đến tận nhà thăm nhanh thế. A, xin chào huyện quan Bùi Thế huynh, xin chào các vị… chắc cũng là quan nhân cả phải không? Thứ cho tôi nhà quê nên chưa rõ.

Đoàn Phong cười nắm tay Võ Trụ:

– Thật vui mừng vì được gặp lại huynh. Giới thiệu với huynh, đây là quan Hình bộ Tôn Thất Dục, vị này là Phạm Hiệp quan chức ở bộ Công, còn đây là quan tân nhiệm Tuần phủ Quy Nhơn Nguyễn Khắc Tuyên và quan Khám lý Hoàng Công Đức.

Võ Trụ nghe giới thiệu giật mình vội nói:

– Hạ dân ngu muội không biết nên thất lễ, xin bốn vị đại quan thứ cho. Mời tất cả vào trong uống chén trà đạm bạc.

Tôn Thất Dục mỉm cười:

– Võ Trụ huynh không cần đa lễ. Chúng tôi đến đây với tư cách là những người dân, những người bạn. Hãy bỏ qua các chức tước đi cho dễ nói chuyện.

Võ Trụ mời mọi người vào gian nhà khách bày biện đơn sơ nhưng trang nhã. Bộ tràng kỷ bằng gỗ giáng hương chạm trổ rất tinh vi, người tinh ý sẽ nhận ra ngay là nó được mua từ trang trại gỗ của họ Lê trên huyện lỵ Phù Ly, vì ở đây chỉ có mỗi cơ sở đồ gỗ này mới có nghệ thuật chạm trổ đặc biệt điêu luyện như thế. Chờ mọi người yên vị, Võ Trụ lên tiếng hỏi:

– Chắc bốn vị quan nhân đến đây vì bức thư của sư phụ tôi gởi cho Vương thượng phải không?

Tôn Thất Dục gật đầu:

– Vâng, tôi được lệnh của Vương thượng vào đây với tư cách Khâm sai để gặp huynh bàn về việc đó. Chi tiết về việc phát hiện mỏ vàng thế nào, Võ huynh có thể nói sơ qua được chăng?

Võ Trụ thuật lại đầu đuôi việc phát hiện mỏ vàng, sau đó nói:

– Đây là kho báu của quốc gia, nay xin giao lại cho ngài Khâm sai.

Hoàng Công Đức buột miệng hỏi:

– Võ huynh khai thác được bao lâu rồi?

Võ Trụ hơi nhíu mày đáp:

– Chúng tôi vì chờ sư phụ về nên đã dò tìm trong vòng vài ba tháng nhưng dùng hai chữ “khai thác” thì không đúng lắm vì từ đầu chúng tôi không có ý độc chiếm mỏ vàng này.

Tôn Thất Dục vội chen vào:

– Nghĩa cử của Võ huynh rất ít người làm được. Việc có khai thác trước hay không đâu đáng để chúng ta phải lưu tâm.

Hoàng Công Đức biết mình lỡ lời nên cười giả lả:

– Xin lỗi, tôi chỉ vô tình buột miệng thôi chứ không có ý gì khác, xin Võ huynh đừng giận.

Lúc ấy, Chí Hiếu đã mang trà lên. Tôn Thất Dục hớp một ngụm trà thơm rồi nói:

– Vương thượng có ngự bút phê một lời khen gởi cho sư phụ của huynh nhưng có lẽ để ngày mai tôi sẽ đích thân đến gặp mặt và trao tận tay người. Chúng tôi có duyên đàm đạo với nhau trong chuyến thiền sư về Phú Xuân vừa rồi.

– Nếu vậy thì ngày mai xin mời ngài Khâm sai trở lại. Tôi sẽ thưa với sư phụ.

Trở lại vấn đề khai thác vàng, ông hỏi:

– Trước kia vàng ở Kim Sơn khá nhiều, việc khai thác đã đi vào khuôn phép và có kỹ thuật, nhưng cả trăm năm nay không còn khai thác nữa. Không biết ở phủ nhà có ai có kinh nghiệm về cách khai thác không?

Nguyễn Khắc Tuyên đáp:

– Hạ quan mới về nhậm chức nên việc này thật không có chút kinh nghiệm gì. Nhưng hạ quan sẽ về phủ hỏi lại những người làm việc từ xưa, may ra họ biết.

Quan Công bộ Phạm Hiệp nói:

– Không khó gì, bộ chúng tôi vẫn còn khai thác vàng ở Quảng Nam cho nên việc đó tôi sẽ lo.

Bùi Thế Phát lên tiếng đề nghị:

– Về việc tinh lọc vàng thì ở huyện Bồng Sơn có Hoàng Kim Môn của Trần gia. Họ là những người có kinh nghiệm từ lâu đời. Không biết ngài Khâm sai và ngài Công bộ có muốn sử dụng đến họ không?

Võ Trụ mấp máy môi định nói gì nhưng lại thôi. Tôn Thất Dục biết ý hỏi:

– Võ huynh có đề nghị gì không?

Võ Trụ bình thản:

– Thưa không. Việc này hạ dân vốn mù tịt nên không có đề nghị gì cả.

– Vậy xin hỏi Võ huynh, bao giờ thì chúng tôi có thể đến thị sát mỏ để nắm rõ tình hình thực tế?

– Nếu các vị muốn đi thì ngay bây giờ cũng được.

Hoàng Công Đức chen vào:

– Như thế thì tốt quá. Chúng ta đi ngay đi.

Ông ta bao giờ cũng tỏ ra sốt sắng, thậm chí là nóng nảy trong chuyện khai thác vàng. Võ Trụ đứng lên đi ra sau, một lúc trở lại nói:

– Chúng ta đi được rồi. Mời các vị!

Chí Hiếu và một đệ tử nữa đã đứng trước sân chờ, họ mang theo vài cây cuốc và một dụng cụ đãi vàng. Võ Trụ cưỡi con huyết mã dẫn đầu, Đoàn Phong cưỡi ngựa đi kế bên. Phía sau là các vị quan chức và cuối đoàn là hai tên đệ tử. Họ thong thả cho ngựa đi chậm như đang dạo cảnh núi rừng Bích Khê và Kim Sơn. Võ Trụ vỗ vỗ vào lưng con huyết mã nói nhỏ với Đoàn Phong:

– Đây là con ngựa mà tôi cố rượt theo bắt cho kỳ được mới bị lạc đến suối vàng. Thật là con ngựa thần, nó chẳng những mang lại điều may mắn đó mà còn là con thiên lý mã thật sự. Cũng nhờ nó mà trên đường từ Phú Xuân về, tôi và vài người bạn khác đã kịp phá vỡ một âm mưu lớn của bọn Tàu khi chúng định đánh cướp Ô Long bảo đao của Đại Việt ta.

Đoàn Phong nghe Võ Trụ nói đến vụ cướp Ô Long đao liền tò mò hỏi:

– Có phải cây đao có từ thời An Dương Vương không?

– Vâng, chính là cây đao đó.

– Chuyện là thế nào vậy?

Võ Trụ kể sơ qua câu chuyện hôm trước. Xong ông nói:

– Thật may là hôm đó Thần Thâu Đinh Hồng Liệt tình cờ phát hiện ra âm mưu, nếu không thì cả nhà họ Trần lâm nguy và cây đao đã bị bọn chúng cướp mất rồi. Võ công của chúng rất cao cường, nếu không có anh em họ Trần ở Phong Điền đến kịp thì tôi chắc toi mạng rồi chứ không phải chỉ bị chúng đâm có một nhát thôi đâu.

– Chà, ước gì đệ có mặt đêm hôm đó thì tuyệt quá. Đệ vốn rất ghét bọn Tàu. Không ngờ chúng dám sang cướp bảo đao của nước ta. Hà, gặp đệ thì đệ sẽ phanh thây chúng ra mới hả dạ.

– Phong huynh đừng lo mất phần. Bọn chúng thất bại lần này nhưng chưa bỏ cuộc đâu. Trước khi bỏ chạy chúng còn hẹn ngày quay lại nữa đấy. Chừng đó nếu Phong huynh không bận bịu việc quan thì có thể giúp bọn này một tay, tha hồ mà phanh thây chúng.

– Thế à? Được được! Huynh nhớ cho đệ biết tin với nhé. Đệ dù bỏ mạng cũng sẽ giúp các huynh một tay. Những con người hiệp sĩ ấy nếu không làm quen được với họ thì thật là uổng cho kiếp sống này.

– Ngày mai họ sẽ ghé lại trại ngựa của tôi. Phong huynh cố gắng thu xếp trở lại nhà tôi ngày mai thì sẽ gặp. Huynh nói đúng, họ thật là những người không thể không làm quen.

Đoàn Phong cười đáp:

– Ngày mai nhất định đệ sẽ đến cùng với Dục thúc thúc.

Đoàn người cuối cùng cũng đến đầu con suối có vàng. Võ Trụ nói với mọi người:

– Hôm đó tôi vì đuổi theo con Huyết Câu này mà lạc đến đây và phát hiện ra vàng ở dưới dòng suối này.

Tôn Thất Dục quan sát xung quanh rồi nói:

– Căn cứ vào mức độ đào xới thì Võ huynh cũng chưa khai thác được bao nhiêu. Bây giờ, nhờ hai chàng thanh niên đào thử rồi đãi vài sàng xem sao?

Chí Hiếu và sư đệ nghe nói liền theo cách khai thác hôm trước đào đất bỏ vào sàng rồi mang đến đãi trên dòng suối, xong trình lên cho mọi người. Tính trung bình cứ năm sàng đãi ra thì có thể thu được một số mảnh vàng nhỏ chừng năm bảy chỉ. Phạm Hiệp nói:

– Coi bộ trữ lượng vàng ở quanh con suối này lớn hơn nhiều so với những mỏ ở Quảng Nam. Chúng ta có thể tiến hành khai thác được đấy.

Tôn Thất Dục hỏi:

– Kỹ thuật khai thác và quản lý mỏ ra sao ông nắm được cả chứ?

– Dạ! Việc khai thác Thượng thư cứ để hạ chức lo. Khâu quản lý sẽ do Ngân Tượng Ti Chính cử cai quan đứng trông coi và kiêm luôn cả công đoạn nấu vàng. Vàng nấu xong cứ mười lượng đúc thành một nén vàng chín tuổi để giao nạp. Bên Nội Kim Tương Tượng Cục sẽ cử quan Nội Lệnh Sử Ti luân phiên đi thu nhận.

– Từ ngày mai, trên phủ của ông Khắc Tuyên cho người xuống khoanh vùng khu vực này lại, canh gác không cho ai lai vãng đến đây. Ông Bùi Thế Phát lo việc thành lập các Đào Sa Kim Hộ, ông Phạm Hiệp kết hợp với phủ và huyện để thành lập khu khai thác mỏ theo quy trình mà các ông vẫn thường làm ở các khu mỏ khác. Nếu cần, ông có thể huy động một số Kim Sa Hộ có kinh nghiệm từ nơi khác đến đây làm việc. Các ông tiến hành càng sớm càng tốt.

Ba người nghe dặn dò đồng thanh đáp:

– Chúng tôi sẽ cho thực hiện chỉ thị của ngài Khâm sai ngay khi trở về.

***

Sáng sớm hôm sau Tôn Thất Dục cùng Đoàn Phong trở lại trang trại ngựa. Võ Trụ vui mừng đón khách, mời vào nhà. Tôn Thất Dục nói:

– Nhờ Võ huynh báo với thiền sư, tôi muốn đích thân trao tấm thủ chương của Võ Vương đến tận tay người có được chăng?

Võ Trụ vui vẻ đáp:

– Hôm qua tôi có thưa cùng sư phụ rồi, người dặn khi nào quan Khâm sai đến thì báo cho người hay để người xuống núi đón tiếp.

Tôn Thất Dục xua tay:

– Xin đừng! Võ huynh cứ đưa tôi đến nơi gặp thiền sư là được rồi, không nên phiền người phải xuống đây.

– Nếu vậy thì xin Khâm sai theo tôi. Mời cả Phong huynh nữa, sư phụ cũng muốn gặp huynh đấy.

Đoàn Phong tươi cười:

– Thật là vinh dự cho tôi. Tôi cũng hằng mong được gặp một người tài hoa xuất chúng năm xưa.

Võ Trụ ngạc nhiên hỏi:

– Phong huynh cũng đã biết qua cuộc đời lúc xưa của sư phụ tôi à?

– Dục thúc đã có dịp đàm đạo với Vô Danh thiền sư. Hơn nữa ở chốn kinh sư cũng có rất nhiều người biết Vô Danh thiền sư chính là Ngũ Tuyệt thư sinh vang danh thiên hạ năm xưa.

– À, ra là thế. Vậy chúng ta đi.

Nơi tĩnh tu của Vô Danh thiền sư là một cái am nhỏ được cất bên cạnh một con suối. Quanh am là một vùng đất rộng lớn trồng nhiều loại dược thảo, phía sau am có một gian nhà tranh dùng làm nơi chế thuốc. Thuốc chế được, ông sai Võ Trụ đem giúp cho dân chúng, những người bệnh quanh vùng. Lúc cả ba lên đến nơi, thiền sư đang ở trong gian nhà chế thuốc phía sau. Võ Trụ đưa Tôn Thất Dục và Đoàn Phong vào gặp sư phụ. Thiền sư thấy Tôn Thất Dục đến liền mỉm cười nói:

– Đúng là hữu duyên thì sẽ được hội ngộ. Bần tăng và thí chủ hẳn có mối duyên sâu nên vừa chia tay đã được gặp lại. Còn vị thí chủ này là…

Võ Trụ tiếp lời thầy:

– Đây là Đoàn Phong huynh, người bạn đệ tử mới quen và cũng là Tả hộ vệ của quan Hình bộ Thượng thư.

Tôn Thất Dục chắp tay:

– Đời kẻ hèn có lẽ được gặp thiền sư là phước duyên lớn nhất. Kẻ hèn cũng theo đòi cầm kỳ thi họa nhưng vì tư chất ngu muội nên cầu xin thiền sư chỉ điểm thêm cho để có thể thấy được cái tinh hoa của nghệ thuật và khỏi hổ thẹn khi luận bàn với bạn bè.

Đoàn Phong cũng chắp tay thưa:

– Đệ tử Đoàn Phong xin thỉnh an thiền sư.

Vô Danh thiền sư mỉm cười:

– Tôn Thất Dục thí chủ danh dậy đất kinh sư sao còn nói chi lời khiêm tốn như thế? Vị hiệp sĩ này dáng vẻ phi phàm, hẳn là nhân tài hiếm có trong lớp trẻ ngày nay. Thiền phòng chật hẹp, chúng ta ngồi nơi đây đàm đạo có được chăng? Trụ nhi, con đi pha trà mời hai vị quan nhân.

Võ Trụ vâng dạ rồi đi ra sau bếp pha trà. Đoàn Phong vội theo chân Võ Trụ.

Tôn Thất Dục chắp tay xá:

– Nơi đất Phật chốn nào cũng tôn nghiêm cả, kẻ hạ nhân xin phép được ngồi đây hầu chuyện cùng thiền sư.

Họ ngồi vào chiếc bàn ở giữa căn nhà bào chế thuốc. Sau đó, Tôn Thất Dục đứng dậy lấy trong túi áo ra một phong bì vàng dán kín có dấu ấn của Võ Vương niêm phong bên ngoài trao cho Vô Danh thiền sư.

– Đây là thủ bút của Vương thượng gởi cho thiền sư, xin ngài nhận cho.

Vô Danh thiền sư vội vàng đứng lên cung kính nhận bức thư:

– Vương thượng vạn tuế! Tôi có thể đọc ngay ở đây chứ?

– Xin thiền sư tự nhiên.

Bức thư như sau:

Quả nhân thật có phước duyên nên trong đại điển đăng Vương đã được sự có mặt của thiền sư hộ lễ. Chia tay chưa tròn tháng, lòng nhớ chưa nguôi lại nhận được thư của thiền sư mang lại cho Vương triều một mối lợi lớn. Thật là duyên phúc trùng lai. Quả nhân có lời khen tặng đức độ và thiện tâm của thiền sư cùng hiền đồ. Nay Quả nhân phong cho Võ Trụ chức Tổng quản thay mặt Quả nhân và quan Khâm sai trông coi việc khai thác mỏ. Xin chớ chối từ.

Cầu Phật tổ gia hộ cho thiền sư chóng viên thành chánh quả.”

Vô Danh thiền sư đọc xong thư chắp tay kính cẩn:

– Đa tạ Vương thượng! Cầu Phật tổ phù hộ cho Vương thượng phước như Đông Hải.

Võ Trụ và Đoàn Phong từ dưới bếp bưng trà lên. Họ rót trà ra ly.

– Mời thầy và ngài Khâm sai dùng trà.

Vô Danh thiền sư trao bức thư cho Võ Trụ bảo:

– Con đọc lá thư này đi.

Võ Trụ nhận lá thư từ tay sư phụ. Đọc xong ông cung kính nói:

– Tạ ơn Vương thượng! Cầu Vương thượng phước như Đông Hải.

Tôn Thất Dục nói:

– Xin chúc mừng Võ Trụ huynh. Giờ mọi việc khai thác vàng ở đây đều do huynh trông coi vậy. Hai chúng tôi chỉ ở đây một thời gian, đến khi mọi việc đã vào khuôn phép sẽ trở lại kinh sư. Võ huynh phối hợp với phủ huyện để điều hành.

Võ Trụ nói:

– Lệnh trên đã ban, Võ Trụ xin hết lòng làm việc.

Lúc ấy bỗng thấy Chí Hiếu từ dưới trại chạy lên thưa:

– Đệ tử xin tham kiến sư tổ. Thưa thầy, dưới trại có ba vị hiệp sĩ từ xa đến thăm thầy. Con đã mời họ chờ ở phòng khách.

Võ Trụ nghe nói cả mừng, vội thưa với Vô Danh thiền sư:

– Đó là ba người bạn con mới quen trong chuyến đi Phú Xuân vừa rồi. Con xin phép thầy cùng ngài Khâm sai để xuống đón họ.

Vô Danh thiền sư gật đầu:

– Con cứ đi đi.

Võ Trụ kéo tay Đoàn Phong xuống núi. Vừa bước vào phòng khách Võ Trụ đã vui mừng reo lên:

– Thật là vinh hạnh cho trang trại nhỏ xó núi này trong một lúc được tiếp đón ba vị hiệp sĩ đại danh lẫy lừng khắp cõi.

 Trần Đại Bằng đứng dậy chào rồi nói:

– Ông bạn đừng có tâng bốc người mà tự hạ mình xuống như thế. Bốn biển là nhà, ông bạn nếu không chê thì cho anh em tôi coi như đây là nhà mình có được không?

Võ Trụ vui vẻ:

– Được, được, tất nhiên là được chứ!

Nói xong bèn giới thiệu mọi người với nhau. Đoàn Phong lên tiếng:

– Phong tôi từng nghe tiếng tăm của Phong Điền Tam Hữu và Đinh huynh nghĩa khí ngút trời mây, lòng vẫn luôn ao ước có ngày hội ngộ, không ngờ hôm nay gặp được ở đây thật là may mắn biết bao.

Ba người thấy Đoàn Phong nghi biểu khác phàm, như rồng như phượng trong loài người thì trong lòng nảy sinh thiện cảm ngay. Đinh Hồng Liệt cười ha hả nói:

– Khách sáo rồi. Thôi bỏ qua hết những lề thói hủ nho ấy đi. Xin Võ huynh một hồ rượu để chúng ta uống mừng ngày gặp mặt có được không?

Trần Kim Hùng vỗ tay tán thưởng:

– Đúng lắm! Một chung rượu bằng ba lời nói. Ngàn chung thì càng hay hơn nữa vì không cần nói lời nào cả.

Võ Trụ cười lớn:

– Ngàn chung thì không có đủ bây giờ nhưng vài vò thì có ngay. Quí vị hàn huyên đi, tôi trở lại ngay.

Đoàn Phong lên tiếng:

– Hôm qua tôi được nghe Võ huynh kể lại chuyện các vị đánh bọn cướp Tàu bảo vệ cây Ô Long đao mà lòng tiếc nuối vô cùng, chỉ ước sao có được sự may mắn tham gia trong trận chiến đó thì sảng khoái dường nào.

Đại Bằng nói:

– Nếu Phong huynh có lòng tương trợ thì vẫn còn dịp đấy. Chắc chắn chúng sẽ trở lại nhưng chưa biết khi nào. Đáng tiếc chúng tôi chưa dò ra được tung tích bọn chúng để nghĩ ra cách đối phó hữu hiệu hơn.

Đoàn Phong nói:

– Điều phải quan tâm và giải quyết trước tiên là sự an nguy của Trần gia. Họ là dòng dõi anh kiệt của nước nhà, không thể để xảy ra chuyện đáng tiếc.

Đại Bằng tán thành:

– Phong huynh nói đúng. Cho nên anh em tôi tạm thời ở lại Trần gia để bảo vệ họ. Tôi cũng đang tìm cách nhắn tin cho tam đệ của tôi vào, xem hắn có kế hoạch gì hay để đối phó với tình hình này không?

– Tam đệ của huynh có phải là Trại Ức Trai[1] Trương Văn Hiến không?

Đại Bằng gật đầu:

– Chính là hắn!

– Tôi có nghe qua, Trương Văn Hiến huynh bụng chứa kinh luân, tài kiêm văn võ, lại túc trí đa mưu. Khâm phục đã lâu.

Võ Trụ trở lại phòng khách cùng năm người đệ tử. Họ bưng vào ba hũ rượu lớn, vài chiếc bát bằng sứ Gò Sành cùng mấy đĩa thức ăn còn bốc khói. Võ Trụ nói:

– Mời tất cả, chúng ta nâng ly uống mừng ngày hội ngộ.

Thanh khí tương đồng, cuộc rượu thật là tương đắc. Trần Đại Bằng lên tiếng hỏi:

– Nghe giọng nói của Phong huynh dường như là người Đàng Ngoài có đúng vậy chăng?

Đoàn Phong gật đầu:

– Vâng. Lúc trước tôi giúp Hoàng thúc Lê Duy Mật nổi loạn nhằm giết tên bạo chúa Trịnh Giang nhưng thất bại vì có kẻ bán đứng. Nhạc phụ tôi vốn là chỗ tâm giao với Tôn Thất Dục thúc thúc nên vợ chồng tôi trốn vào Nam nương nhờ người đã được năm năm rồi.

Đại Bằng thở dài:

– Cuộc nổi loạn của Lê Duy Mật lúc ấy đã gây chấn động đến tận Đàng Trong này. Tiếc rằng nhà Lê dựng nghiệp đã hơn ba trăm năm, nay đã đến lúc suy vong nên mới khiến cho chúa Trịnh lộng hành tác quái. Phong huynh đệ vì dân trừ bạo thật đáng khâm phục. Có điều vạn vật đều có lúc thịnh lúc suy, lúc sinh lúc diệt, cho nên việc phục hưng nhà Lê e nan giải vô cùng.

– Bằng huynh nói đúng, tuy vậy, nhìn cảnh Trịnh Giang lộng hành, khắp nơi loạn lạc, bá tánh lầm than khiến kẻ có lòng ai mà không nghiến răng căm giận cho được. Phong tôi tuy vô dụng và biết việc khó thành nhưng cũng không thể nhắm mắt làm ngơ.

Kim Hùng nâng bát rượu đang cầm trên tay nói:

– Đó mới là phong độ của người hiệp sĩ chân chính. Kim Hùng tôi xin kính Phong huynh một ly.

Nói xong hai tay đưa bát rượu cho Đoàn Phong. Đoàn Phong nâng bát uống cạn rồi nói:

– Đa tạ Hùng huynh!

Võ Trụ chợt nhớ ra điều gì nên quay sang hỏi Đại Bằng:

– Về việc lập bang Hành Khất và kế hoạch giúp cho Trần gia các bạn tính thế nào?

Đại Bằng đáp:

– Bang Hành Khất là việc lâu dài, tôi sẽ tiến hành từ từ. Còn việc bảo vệ Trần gia mới cấp bách và nan giải. Sau khi Võ huynh rời đi, chúng tôi phát hiện một bức thư hăm dọa, rằng bất kỳ người nào trong Trần gia đi quá khu vực Liên Trì thì sẽ bị giết, được nhét ở cổng.

Đoàn Phong nóng nảy hỏi:

– Chúng có thực hiện lời hăm dọa đó không?

[1]  Ức Trai: Tức Nguyễn Trãi – vị quân sư tài ba giúp Lê Lợi chiến thắng nhà Minh lập nên nhà Hậu Lê. Chữ “Trại” ở đây có nghĩa là giống, ý tác giả ví Trương Văn Hiến cũng tài ba như bậc hiền nhân ngày xưa (Nxb).

 (xem tiếp vào ngày mai)