Kỳ 57:

huyetthu

Hồi thứ mười ba

Việt nữ kiếm trở về cùng người Đại Việt

Hận Liên Trì, hào kiệt ứa lệ đề thơ.

*

Hồng Liệt đứng sau lưng Văn Hiến từ nãy giờ, lên tiếng ngâm:

Mới hay oan trái chữ tình

Đôi khi mình tự buộc mình vào trong

Có khi cũng bởi hóa công

Đẩy cho trần thế vào vòng khổ đau.

Văn Hiến không quay lại nói:

– Ngươi nói hay lắm! Có khi mình tự buộc mình, mà cũng có khi do con tạo trớ trêu buộc người vào đó.

– Coi bộ nàng đã nặng tình. Còn ngươi?

– Tình càng nặng chỉ càng thêm khổ đau mà thôi. Ngươi có biết gia thế của nàng thế nào không?

Hồng Liệt đến ngồi trước mũi thuyền cạnh Văn Hiến:

– Nói nghe thử.

– Bà ngoại của nàng là con gái của Ngô Tam Quế và Trần Viên Viên. Cha nàng lại chính là giọt máu của Sấm Vương Lý Tự Thành sót lại. Cuộc tao ngộ của họ thật là ly kỳ và đầy nước mắt.

– Thảo nào mọi người gọi nàng là công chúa.

Tiếng cười của Văn Hiến pha chút mỉa mai, cay đắng:

– Còn ta thì sao? Ha ha… Ngươi lại đi hỏi ta có nặng tình không?

– Tình yêu là sự rung động của hai trái tim chứ đâu phải của hai dòng họ, cũng chẳng phải của giàu nghèo, sang hèn.

– Đó chỉ là lý tưởng, hay đúng hơn là hoang tưởng. Trong thực tế đời thường thì hoàn toàn khác. Hoang tưởng dễ dẫn con người ta đi đến vực thẳm của khổ đau.

– Nàng có hỏi ngươi bao giờ trở lại không?

– Có. Ta thật hổ thẹn khi phải nối dối với nàng. Bao nhiêu đó thôi cũng đủ khiến ta thấy mình hèn mọn, nhỏ nhoi trước nàng.

– Ngươi cũng vì việc lớn mà thôi.

– Không thể dùng nó để biện minh được. Đó cũng chính là đầu mối của sợi dây oan nghiệt. Tốt hơn hết là phải tránh xa ra, ngay từ bây giờ.

– Lúc ngươi và nàng đấu nhau ở Hội An ta có hơi ngờ ngợ rồi. Cho đến khi ngươi cứu nàng ở trong động đá ở vịnh Vĩnh Hy thì ta cảm giác đây chính là chữ duyên mà người ta thường nói.

– Chỉ e nó là nghiệt duyên.

– Thì đành ôm hận thôi. Mà có khi là lương duyên, ai biết trước được chứ?

Văn Hiến bỗng đứng lên.

– Gần đến Nhà Bè rồi, chúng ta vào nói với chú Dụng đi.

Cả hai bèn vào tách riêng Hữu Dụng ra nói chuyện. Văn Hiến nói rõ ý định của mình. Hữu Dụng hơi ngạc nhiên nhưng ông nói:

– Làm như thế hay đấy! Chúc hai cậu may mắn. Nhưng sao phải xuống đến Nhà Bè mới lên bộ?

Hồng Liệt đáp:

– Sư huynh cháu có một cơ sở lớn ở xã Minh Hương vùng Gia Định. Bọn cháu muốn dùng ngựa đi một vòng vùng đất Phiên Trấn cho biết.

Văn Hiến tiếp lời:

– Cháu có phong thư, chú nhờ ai đó mang ra Trần gia ở Liên Trì, gần chợ Trà Câu, Quảng Ngãi trao cho anh Đại Bằng, hoặc giao cho người nhà Trần gia nhờ họ chuyển cho anh ấy giúp. Lúc chú trở vô, cháu muốn biết tin của bọn họ ở ngoài đó thế nào, chú lưu tâm hộ cháu nhé.

Hữu Dụng gật đầu:

– Được, tôi sẽ sai Đỗ Trọng mang đi.

– Cảm ơn chú! Khi nào chú trở vào, bọn cháu sẽ ghé thăm.

Hữu Dụng ra dấu cho thuyền rẽ vào nhánh sông nhỏ xuống xã Minh Hương. Hồng Liệt và Văn Hiến lên bờ tìm đến cơ sở Thần Quyền Môn lấy hai con ngựa tốt, họ đi một vòng lên tận Bình Dương rồi trở ngược về bến Bửu Long lúc trời đã tối. Cả hai đến Long Thiền tự, được nhà sư trẻ Từ Huệ tiếp đón rồi đưa vào hậu đường. Hai người làm lễ chào sư Phật Chiếu và nho hiệp. Văn Hiến lo lắng hỏi:

– Sư phụ bị thương hôm đó đến nay đã đỡ chưa? Vết thương có độc phải không? Mấy hôm nay con lo quá.

Nho hiệp mỉm cười nói:

– Thầy đã không sao. Thiên Ưng trảo quả nhiên lợi hại. Không ngờ hắn còn luyện những móng tay mình với chất kịch độc nữa. Thầy đã uống linh đan ngừa trước, lại phải mất hai ngày đêm vận khí trục độc nếu không thì cánh tay trái e đã tàn phế rồi.

Sư Phật Chiếu nói:

– A Di Đà Phật. Ngả Phật từ bi. Tên Thiên Ưng lão quỉ đó bàn tay phải bị xoi thủng ngay huyệt lao cung, tay trái lại bị Như Lai chỉ điểm trúng huyệt thái uyên, đời này coi như hắn không còn có thể giết ai được nữa rồi. Đó cũng là quả báo cho ác nghiệp của hắn.

Nho hiệp nói với Văn Hiến và Hồng Liệt:

– Tên Lý Văn Quang này thế lực rất lớn. Cao thủ dưới tay hắn nhiều vô kể, đa phần là bọn ác đạo ở Trung Quốc. Hiến nhi và hiền điệt cùng Thần Quyền Môn muốn chống lại hắn không phải là chuyện dễ đâu. Trước tiên phải luyện tập thêm võ công, thứ đến phải tìm thêm người trợ thủ. Nếu đụng việc lớn hơn nữa thì phải nhờ đến binh lực của Trấn Biên. Ta thấy Cẩn Thành Hầu là người nghĩa khí và đởm lược, các con nên bàn bạc với ông ta. Hiền điệt đã bàn thảo cùng sư huynh chưa?

Hồng Liệt đáp:

– Dạ rồi!

Chàng quay sang chắp tay vái sư Phật Chiếu:

– Xin thứ cho đệ tử vì đã có sư môn nên không thể bái thiền sư làm thầy. Đệ tử nhất tâm thụ nghệ, nguyện đem hết sức mình phục vụ cho đồng bào và đất nước để khỏi phụ lòng kỳ vọng của thiền sư.

Phật Chiếu nở nụ cười từ hòa:

– Lành thay, lành thay! Ta cũng sắp đến ngày về hầu dưới chân Phật tổ, muốn để lại cho đời một chút công quả. Vốn biết con có tâm căn tốt nên việc truyền thụ công phu hoàn toàn do ta tự nguyện, con không phải áy náy.

Hồng Liệt quì xuống lạy Phật Chiếu một lạy nói:

– Xin nhận của con một lạy này để đáp tạ thâm ân!

Phật Chiếu nhận một lạy xong đỡ Hồng Liệt đứng lên:

– Được rồi, các con đi nghỉ đi. Ngày mai chúng ta sẽ bắt đầu.

Hôm sau, Phật Chiếu đưa hai người vào hang động kín đáo và yên tịnh sâu trong núi. Trong động thạch nhũ treo từng chùm lóng lánh, ánh dương quang bên ngoài hắt vào làm cho chúng tỏa sáng như những chùm minh châu trông đẹp vô cùng. Phật Chiếu thiền sư nói:

– Hai con ở lại đây mà luyện công, mọi nhu cầu ăn uống ta sẽ bảo Từ Huệ bảy ngày mang vào một lần. Có gì trở ngại trong lúc tập luyện thì cho ta hay. Môn nội công mà ta sắp truyền cho các con có tên Tiên thiên vô cực huyền công. Đây là sự kết hợp giữa huyền môn công phu của nho hiệp và thiền công của Phật môn du nhập từ Ấn Độ sang. Giờ các con chú ý nghe mà luyện tập.

Thiền sư bắt đầu giảng giải:

– Trước hết phải ngồi tọa công bằng tư thế kiết già, gạt bỏ mọi tạp niệm, tập trung ý chí. Khi tạp niệm không còn, vừa hít vào vừa dùng ý để thu hút linh khí trời đất từ bên ngoài xuyên qua huyệt thần đình, theo âm kinh của nhâm mạch qua huyệt đản trung rồi đưa xuống đan điền. Tụ khí ở đan điền trong một thời gian ngắn rồi thở ra từ từ đưa chân khí tản mát khắp các huyệt đạo ở châu thân. Đó là bước đầu luyện khí khai thông nhâm mạch. Luyện như thế liên tục cho đến khi các con cảm thấy lúc thở ra, chân khí lưu thông khắp châu thân một cách thông suốt thì luyện sang giai đoạn hai. Giai đoạn hai là giai đoạn luân chuyển vòng tiểu chu thiên, luyện nội công. Ở giai đoạn này, khi khí tụ đan điền rồi thì ngưng hô hấp, dùng ý chuyển khí qua các huyệt trường cường, hội âm, theo dương kinh của đốc mạch lên huyệt mệnh môn, đến huyệt đại chùy, lên huyệt bách hội rồi trở lại thần đình. Đến đây là hết một vòng tiểu chu thiên. Luyện vận hành khí theo vòng tiểu chu thiên càng nhiều, chân khí trong người càng thông suốt, giúp đả thông mọi bế tắc trong hai hệ kinh mạch nhâm và đốc, đồng thời giúp cho hai khí âm, dương trong cơ thể và kỳ kinh bát mạch giao thông, hòa hợp với nhau. Khi khí đã lưu thông một vòng tiểu chu thiên được thuần thục các con sẽ thấy mỗi lần đề khí, khí sẽ tụ ở đan điền rất sung mãn. Từ đó, nội lực sẽ tăng lên rất nhanh. Đến đây các con đã qua được giai đoạn khai thông nhâm đốc nhị mạch. Sau đó sẽ tập luyện chuyển chân khí khắp châu thân theo vòng đại chu thiên để bước vào giai đoạn thứ ba là phát triển ngoại công. Nhờ khí lực sung mãn ở đan điền, dùng ý đưa chân khí đi qua các đại tiểu huyệt khắp châu thân theo các hệ túc thái dương kinh, túc thiếu dương kinh… Thực hiện vòng đại chu thiên này thông suốt sẽ đả thông được sinh tử huyền quan, chân khí đầy thân thể, thu phát tự nhiên theo ý muốn. Nên nhớ rằng, ý đâu thì thần và khí ở đó. Việc đả thông được sinh tử huyền quan ở ngọc chẩm huyệt là mức thành tựu tối cần của võ học để trở thành cao thủ thượng thừa. Đạt được cảnh giới Tam hoa tụ đính, Ngũ khí triều nguyên là bước tối hậu của một cao thủ tuyệt đỉnh, nhưng điều này hoàn toàn tùy thuộc vào căn cốt bẩm sinh của từng cao thủ, không thể miễn cưỡng được. Trăm năm chỉ có một, nếu miễn cưỡng sẽ đưa đến hậu quả thảm khốc là tẩu hỏa nhập ma hay mất mạng. Vì nguyên lý cơ bản của sự tu luyện là phải để nội khí vận hành theo luật tự nhiên của cấu tạo cơ thể, hòa hợp với sự vận hành tự nhiên của hai khí âm dương trong trời đất nên không thể cưỡng cầu. Hai con hiểu thông suốt cả ba giai đoạn này không?

Văn Hiến và Hồng Liệt đồng thanh đáp:

– Dạ, chúng con đã thông suốt!

– Tốt lắm! Hai con đã có căn bản võ học nên việc thực hiện hai giai đoạn đầu sẽ không khó khăn lắm. Từ hôm nay cứ bắt đầu tập luyện cho thật thông suốt rồi hãy sang giai đoạn thứ ba. Giai đoạn thứ tư ta sẽ hướng dẫn sau.

Văn Hiến hỏi:

– Tư thế ngồi kiết già có tác dụng thế nào trong việc đả thông hai mạch nhâm đốc và sinh tử huyền quan, thưa sư bá?

– Luyện công theo lối đả tọa mà các con đã theo từ trước là cách thức thông thường của người học võ. Nhưng luyện công kết hợp với tư thế ngồi kiết già sẽ giúp người luyện công cùng lúc đả thông kỳ kinh bát mạch và khai mở bảy Luân Xa dọc theo cột sống để phát triển thêm năng lượng, bổ sung thêm khí lực cho cơ thể. Đây chính là giai đoạn thứ tư.

Hồng Liệt hỏi:

– Luân Xa là gì, thưa sư bá?

– Đó là tên gọi của bảy vùng năng lượng nằm tại sáu đại huyệt có gốc từ cột sống và một đại huyệt ở đỉnh đầu, chi phối những chức năng riêng của cơ thể. Tiếng Phạn cổ gọi là “Chakra”, chúng ta gọi là Luân Xa. Nó là những điểm xoáy dùng làm nơi trao đổi năng lượng của cơ thể với năng lượng của vũ trụ. Khai mở Luân Xa nào thì cơ thể sẽ có thể hấp thu năng lượng của vũ trụ và giúp phát triển tốt chức năng của cơ thể thuộc hệ kinh mạch ảnh hưởng bởi Luân Xa đó. Sự khai mở Luân Xa nếu sai lệch sẽ dẫn đến nguy hiểm, dễ bị tẩu hỏa nhập ma, có khi đưa con người vào ma cảnh. Do đó, thế ngồi kiết già vừa giúp tập luyện được tâm tịnh vừa giúp cho nội khí lưu chuyển dễ dàng từ Luân Xa này đến Luân Xa khác.

Sau đó, Phật Chiếu vừa giải thích vừa chỉ rõ cho hai người:

– Luân Xa thứ nhất nằm tại huyệt hội âm, thứ hai tại huyệt trường cường, thứ ba tại huyệt khí hải, thứ tư tại huyệt đản trung, thứ năm tại huyệt đại chùy, thứ sáu tại huyệt ấn đường và thứ bảy là huyệt bách hội. Khai mở hoàn toàn được cả bảy Luân Xa này con người sẽ trở thành bậc đại thánh. Tuy nhiên, điều này rất hiếm, vì bất kỳ người nào cũng có những khiếm khuyết trên cơ thể, cho nên Luân Xa của bộ phận khiếm khuyết đó không thể khai mở hoàn toàn được.

Từ đó, Văn Hiến và Hồng Liệt mỗi người một gian động chu trì tập luyện. Trong khi Hồng Liệt an nhiên tu tập thì Văn Hiến lại bị bao nhiêu tạp niệm quấy rối. Hình bóng của Dung Dung, những giọt nước mắt, chiếc khăn tay và bài thơ cứ lảng vảng trong đầu. Phải mất gần bảy ngày với sự cố gắng ghê gớm chàng mới dẹp bỏ được những tạp niệm mà chuyên tâm tịnh trí tĩnh tọa. Khi đói thì đã có thức ăn do Từ Huệ mang vào, khi khát thì đã có dòng suối chảy qua lòng động đá cho nên hai người cứ như vậy mà chuyên tâm tập luyện đến quên cả thời gian. Thỉnh thoảng, sư Phật Chiếu ghé lên hỏi thăm thành quả đạt được, chỉ dẫn thêm cách đưa chân khí theo vòng đại chu thiên đến từng kinh mạch nhỏ khắp cơ thể. Trong suốt thời gian đó, mọi liên lạc với bên ngoài đều bị thiền sư cắt đứt để tránh phiền nhiễu đến tâm của hai người.

***

……

(xem tiếp vào ngày mai)