Kỳ 76:

……..

Hiền Nhi đứng trước mũi thuyền buồn bã vẫy tay chào mọi người. Nàng theo thuyền của Hữu Dụng trở về lại Quy Nhơn mà lòng buồn khôn xiết. Qua một chuyến đi xa, được dịp nhìn thấy đất trời bao la rộng mở, tâm hồn nàng như đã lớn hơn theo tầm mắt. Và một tình yêu chân thành đã xâm chiếm trọn trái tim bé nhỏ của nàng. Nàng vẫy tay tạm biệt mà nghe trong tim thổn thức niềm đau dịu ngọt, sự dịu ngọt của nhớ nhung, tơ tưởng. Con thuyền khuất bóng, Hồng Liệt thở dài nói với Văn Hiến:

– Con bé đã trưởng thành rồi. Tội nghiệp, chuyến đi này hẳn đã mở rộng thêm tâm hồn trong sáng và trái tim nhân hậu của nó.

– Ngươi nói đúng. Nàng đã trưởng thành rồi.

Bạch Mai mỉm cười bí hiểm:

– Đúng là trái tim của Hiền Nhi đã rộng mở ra rồi.

Khi mọi người từ bến cảng trở về thì bọn Trần An Vinh, Mỹ Phụng cùng Dương Ngạn Siêu cũng ghé thăm. Mỹ Phụng nắm tay Bạch Mai nói:

– Bạch tỷ tỷ, Dương huynh muốn mời chúng ta xuống Mỹ Tho chơi một chuyến. Tỷ tỷ cùng Trương huynh, Đinh huynh đi với bọn muội đi.

Dương Ngạn Siêu nói:

– Vâng. Hôm nay có duyên được biết hai vị nhân huynh, Siêu tôi muốn mời các vị ghé xuống Mỹ Tho một chuyến để tôi được dịp tiếp đón và đàm đạo cho thỏa lòng.

Hồng Liệt ngần ngừ đưa mắt nhìn Văn Hiến. Văn Hiến từ lâu đã có ý muốn đi thăm vùng sông nước Cửu Long nên mau mắn trả lời:

– Thế thì cung kính không bằng phụng mệnh. Chúng tôi sẽ đến tư gia quấy rầy Dương huynh một chuyến mới được.

Ngạn Siêu mừng rỡ nói:

– Thật là vinh hạnh! Nhà họ Dương lúc nào cũng mở sẵn cửa để đón chào.

Mỹ Phụng lắc lắc tay Bạch Mai hỏi:

– Bạch tỷ thì sao?

Bạch Mai nhéo nhẹ vào má Mỹ Phụng, cười đáp:

– Không đi mà được với muội à?

Mỹ Phụng reo lên:

– Vậy thì vui nhất rồi! Dương huynh, chúng ta đi đi.

Họ đi bằng chiếc thuyền lớn được trang trí rất đẹp và đầy đủ tiện nghi của Dương Ngạn Siêu. Kể từ ngày Dương Ngạn Địch cùng Trần Thượng Xuyên được chúa Nguyễn cho vào Nam, họ Dương đã đưa nhóm người của mình theo cửa Soài Rạp xuống Mỹ Tho, hợp cùng người Việt, người Chân Lạp (Khmer) bản địa để khai hoang lập ấp. Vùng đồng bằng Mỹ Tho đất đai phì nhiêu nhưng người dân Chân Lạp không biết khai thác nên đất bỏ hoang rất nhiều. Họ Dương chuyên tâm về canh tác nông nghiệp nên chẳng bao lâu sau những cánh đồng bát ngát đã thành hình, phố xá theo đó mọc lên san sát bên bờ sông lớn, chợ búa đông đúc, cảnh sinh hoạt rất sung túc, vui tươi.

Chín năm sau, phó tướng Hoàng Tiến làm phản giết Dương Ngạn Địch. Sau Hoàng Tiến bị tướng nhà Nguyễn là Mai Vạn Long và Trần Thượng Xuyên đánh dẹp. Ngạn Siêu là cháu nội của Ngạn Địch, thay cha là Ngạn Thanh vừa qua đời cai quản những cơ ngơi đồ sộ mà cha ông đã tạo dựng. Dương gia trang rộng lớn được xây cất ngay trên bờ Cửu Long giang, gần nơi phố thị sầm uất nhất. Sau khi mọi người đến nơi nghỉ ngơi thì hôm sau Ngạn Siêu dùng thuyền đưa họ đi thăm khắp vùng Định Tường. Đến cửa sông Rạch Gầm, Ngạn Siêu nói:

– Đây là nơi tướng Mai Vạn Long và Trần Thượng Công đã đóng quân để bắt tên phản tặc Hoàng Tiến. Năm 1700, sau khi bình định và phủ dụ vua Cao Miên là Nặc Ông Thu xong, Lễ Thành Hầu Nguyễn Hữu Cảnh đã kéo quân về đóng ở An Giang rồi ngã bệnh. Khi thuyền đưa ông về đến ngã ba Sầm Giang (tức sông Rạch Gầm) này thì ông mất. Cũng kể từ năm đó, toàn bộ dinh Long Hồ gồm trấn Định Tường, Vĩnh Thanh và Hà Tiên qui thuộc vào lãnh thổ của Đại Việt ta.

Văn Hiến đưa mắt quan sát vùng sông nước, cồn cát chằng chịt này một lúc lâu rồi nói:

– Vùng sông nước và cù lao này thật là nơi lý tưởng để tổ chức những cuộc hành quân hay phục kích trong một trận đại thủy chiến.

Ngạn Siêu tiếp lời:

– Nói về việc binh bị thì đúng là vùng đồng bằng Cửu Long có sông nước chằng chịt, ruộng lúa phì nhiêu rất tiện cho việc nuôi và dưỡng quân. Từ đây kéo binh ra thì có thể đánh thiên hạ, mà lui về ẩn lánh thì địch vô phương lùng bắt. Thật là một vùng đất để anh hùng dựng nghiệp.

Khi thuyền của họ trở ra sông lớn thì Bạch Mai chợt chỉ tay về phía một chiếc thuyền lớn đang đi ngược dòng nói:

– Ủa? Kia không phải là thuyền của Diệp Sanh Ký sao? Hình như mấy người đứng trước mũi thuyền là Hà Huy và Tạ Tam. Có cả Lý Văn Quang nữa, bọn họ làm gì ở đây vậy?

Văn Hiến nhìn theo ngón tay của Bạch Mai thấy quả đúng là bọn người Diệp Sanh Ký. Linh cơ xuất động, chàng vội kéo mọi người vào trong khoang thuyền nói nhỏ:

– Đừng để bọn chúng trông thấy. Chúng ta thử theo dõi xem bọn đầu não của Diệp Sanh Ký đi lên đây làm gì?

Ngạn Siêu nói:

– Đây là thủy lộ chính để lên thành Bích La. Không chừng bọn chúng muốn tới kinh đô nước Cao Miên.

– Chúng ta phải theo sát bọn chúng nhưng đi đông người thế này không tiện lắm. Dương huynh có thể tìm thêm một chiếc thuyền khác ở quanh đây không?

– Ở Long Hồ có một trại thủy quân, tôi có người bạn làm Cai đội ở đó, Trương huynh muốn mượn thuyền của họ để đi thành Bích La à?

– Không. Ta phải dùng chiếc thuyền dân sự này để tránh bọn họ phát hiện. Chiếc thuyền kia là để đưa mấy vị tiểu thư trở lại Mỹ Tho.

Mỹ Phụng phụng phịu nói:

– Trương huynh tính đuổi bọn muội về hả?

– Xin lỗi tiểu thư, chúng tôi phải theo dõi bọn chúng, nếu phải sang tận Bích La thành thì đông người thế này vừa bất tiện vừa nguy hiểm. Phiền tiểu thư, Bạch muội và Trần huynh trở lại Mỹ Tho chờ, chúng tôi xong việc sẽ trở về ngay.

Trần An Vinh xen vào:

– Việc hệ trọng, muội muội không nên làm khó Trương huynh.

Mỹ Phụng chu môi lên làm bộ giận:

– Lúc nào cũng cho người ta là vô tích sự cả!

Văn Hiến nói:

– Xin lỗi Trần tiểu thư vậy. Nhờ Dương huynh ghé Long Hồ mượn thuyền càng nhanh càng hay.

Ngạn Siêu liền bảo bọn tài công cho thuyền quay đầu lại, đi thật nhanh vượt qua mặt chiếc thuyền của Diệp Sanh Ký. Họ đến thủy trại của dinh Long Hồ ngay ngã ba sông Tiền Giang và sông Cổ Chiên gặp Cai đội ở đó, ông ta cho lính đem thuyền chở An Vinh, Mỹ Phụng và Bạch Mai trở lại Mỹ Tho. Thuyền của Ngạn Siêu tiếp tục bám theo sau chiếc thuyền của Diệp Sanh Ký. Đến bến Tân Châu, bọn Diệp Sanh Ký dừng lại nghỉ đêm, mấy người của nhóm Dương Ngạn Siêu cũng dừng thuyền trên bến nhưng không lên bờ.

Hôm sau hai chiếc thuyền cùng đến thành Bích La. Thành Bích La là kinh đô của nước Cao Miên từ sau khi kinh đô Angkor Thom ở Tây Bắc bị quân Xiêm tiêu diệt vào thế kỷ thứ 15. Thành Bích La được xây dựng ngay nơi hợp lưu của sông Tonle Sap và sông Mekong (tức sông Cửu Long). Vì kinh đô mới dời về đây nên cung điện của vua chúa nước Cao Miên hãy còn thô sơ, chưa lấy gì tráng lệ so với kinh đô cũ của thời Angkor vàng son thuở trước. Sau này, đến thời vua Norodom I thế kỷ 19, cung điện Nam Vang mới được xây dựng lại to hơn và nguy nga hơn.

Vì là nơi hợp lưu của hai con sông lớn nên dân cư ở thành Bích La rất đông đúc, phố xá buôn bán sầm uất, thu hút nhiều thuyền buôn từ Đại Việt lên và từ Vạn Tượng của Lào đổ xuống. Chỗ hợp lưu này còn có một con sông nhỏ tên Bassac chảy ngang qua rồi đổ về Châu Đốc tạo thành sông Hậu Giang, còn nhánh chính chảy sang Đại Việt ở Tân Châu gọi là Tiền Giang. Theo một truyền thuyết của người Cao Miên, có bà già tên Pênh nhặt được một khúc gỗ trôi trên sông này, khi chẻ ra thấy có một tượng Phật bốn mặt nên đem về lập chùa thờ. Từ đó, thành có tên là Phnôm Pênh (Nam Vang) hay còn gọi là thành Bốn Mặt.

Hai chiếc thuyền cập bến thành Bích La khi trời vừa sập tối. Bọn Diệp Sanh Ký đậu thuyền dưới cảng rồi lên bờ vào nghỉ trọ ở một khách sạn lớn, sang trọng gần cửa đông thành. Dương Ngạn Siêu đưa Văn Hiến và Hồng Liệt vào một khách điếm đối diện với khách sạn của bọn Diệp Sanh Ký nghỉ ngơi. Họ chọn ba căn phòng ngay mặt tiền để tiện việc theo dõi. Vào khoảng giờ Tị hôm sau, Hà Huy và Tạ Tam rời khách sạn để vào thành. Ngạn Siêu nói:

– Hai người ở lại đây theo dõi Lý Văn Quang, tôi theo hai tên này xem bọn chúng đi đâu.

…………

(xem tiếp vào ngày mai)