Kỳ 108:

……….

Trương Phúc Loan loại thêm được Nguyễn Quang Tiền thì vô cùng đắc ý. Ông nói với Nguyễn Cửu Thống:

– Vậy là chặt bớt được một cái gai nữa. Ông cho người gọi tên Phạm Hiệp vào đây cho ta.

Cửu Thống “dạ” rồi lui ra ngoài bảo thuộc hạ đi gọi Phạm Hiệp. Một lúc sau Phạm Hiệp vào, hắn cúi đầu khúm núm:

– Hạ chức xin chào ngài Ngoại tả. Ngài Ngoại tả có việc gì sai bảo đến hạ chức xin cứ dạy ạ.

Phúc Loan nói:

– Ông nay đã nắm giữ Công bộ, trong quốc khố đang thiếu tiền, ông làm tờ trình lên Vương thượng xin đúc thêm tiền kẽm để chi dụng. Ông hiểu ý ta chứ?

– Dạ, hạ chức hiểu. Hạ chức sẽ thực hiện ngay ạ.

Phúc Loan gật đầu nói tiếp:

– Số vàng thu được ở Kim Sơn ông thu xếp nộp vào kho một nửa thôi, còn lại giao cho ta, ta sẽ dùng nó để thưởng công cho các ông.

Phạm Hiệp nghe nói mừng rỡ:

– Dạ, dạ! Hạ chức sẽ làm đúng lời ngài Ngoại tả dạy ạ.

Võ Vương đắm say sắc dục, suốt ngày ở trong cung Trường Lạc với Ngọc Cầu, không màng gì đến việc nước nên quyền hành phủ Chúa coi như nằm gọn trong tay Trương Phúc Loan. Chúng thông đồng nhau bòn rút của công để bỏ vào túi riêng. Chưa thỏa mãn, Phúc Loan còn bắt Công bộ và Hộ bộ tìm cách tăng thuế ngoài dân chúng để bù vào những khoảng trống mà chúng đã bòn rút từ công quĩ. Một cõi sơn hà đang trên đà phát triển bỗng rơi vào cảnh loạn lạc, đói kém tơi bời.

***

Nói về Đoàn Phong đêm đó phóng ngựa theo bờ sông Hương xuống đến cửa Thuận An tìm vào một làng chài ven biển xin tá túc đỡ qua đêm vì Tuyết Hoa đang bệnh, Quỳnh Như thì còn quá bé. Duyên may đưa đẩy, người chủ nhà là một bà cụ đã ngoài sáu mươi, sống cô độc một mình. Bà cụ thấy vợ chồng Đoàn Phong phong thái cao sang, đoan chính, hai đứa bé Đoàn Phi và Quỳnh Như lại kháu khỉnh dễ thương nên bà hết sức vui vẻ đón tiếp. Tuyết Hoa trong người đã suy nhược, nay lâm cảnh trốn chạy nên bệnh tình càng trở nên trầm trọng hơn. Bà cụ chỉ Đoàn Phong đi mời thầy thuốc nhưng lại gặp phải lão lang băm nên tình trạng Tuyết Hoa ngày càng tồi tệ hơn. Đoàn Phong nóng lòng về tin tức của Tôn Thất Dục nhưng ngặt nỗi Tuyết Hoa quá suy nhược nên chàng đành phải bấm bụng ở lại chăm sóc cho vợ.

Có lần Đoàn Phong liều mạng phóng ngựa lén về Phú Xuân để dò la tin tức thì biết Tôn Thất Dục đang bị nhốt trong ngục, Ngô Mãnh biệt tăm, những người thân tín trong Hình bộ lúc xưa thì kẻ bỏ đi người bị bắt. Bọn Phúc Loan vẫn đang ráo riết truy tìm tung tích của chàng và Ngô Mãnh, những tờ lệnh truy nã vẽ hình hai người được dán khắp nơi trong và ngoài thành Phú Xuân. Chàng vừa lo vừa chán ngán cảnh triều đình nên muốn buông xuôi tất cả. Tình trạng đó kéo dài gần ba tháng thì một hôm Tuyết Hoa thấy trong người kiệt sức, nàng biết mình không thể qua khỏi nên nói với chồng:

– Thiếp không xong rồi. Chàng ráng bảo trọng thân mình để lo cho hai con, chúng là hậu duệ duy nhất của hai họ Đoàn – Lê nhà chúng ta.

Đoàn Phong nắm tay vợ buồn rầu nói:

– Ta có lỗi với hiền thê. Hoàn cảnh chúng ta hiện nay đã làm ta thúc thủ đành ngồi nhìn nàng mỗi ngày một suy nhược dần mà không thể làm được gì. Ta thật vô dụng.

Tuyết Hoa âu yếm nhìn chồng an ủi:

– Chàng đừng tự trách mình. Tại thiếp vắn số mà thôi. Dù sao chúng ta cũng đã có Phi nhi và Quỳnh Như để nối dõi. Chúng ta hãy mãn nguyện với điều đó.

Đoàn Phong nhìn vợ cố nhoẻn miệng cười. Chàng biết Tuyết Hoa là người cứng rắn và sáng suốt nên những câu an ủi có tính lấy lệ sẽ không làm cho nàng vui. Chàng chỉ im lặng gật đầu. Tuyết Hoa nói:

– Chúa Nguyễn đã theo vết xe đổ của Chúa Trịnh nên cũng sắp sụp đổ đến nơi, chàng không cần quan tâm đến họ nữa, hãy ráng đào tạo cho hai con. Phi nhi là đứa thông tuệ, đợi nó lớn lên chàng giao cuốn “Tiểu Bát quái trận đồ” mà em đã chú giải cho nó. Nó sẽ giúp được cho đời sau này.

– Nàng an tâm. Ta coi như đời mình đã bỏ đi. Ta sẽ lo cho hai con nên người hữu dụng sau này.

Tuyết Hoa nhờ chồng mang hai đứa con lại nằm cạnh mình, nàng ôm hai con trong lòng, nói lời cảm ơn với bà cụ chủ nhà, nhìn chồng âm yếm nở nụ cười lần cuối rồi nhắm mắt lại. Không bao lâu sau đó, nàng trút hơi thở cuối cùng. Đoàn Phong bây giờ mới dám để cho những giọt nước mắt mặc sức tuôn trào. Chỉ sau một đêm ngồi nhìn xác vợ mà trông chàng đã già đi cả mười năm. Chàng chôn vợ ở khu gò mả chung của thôn.

Nửa tháng sau chàng trở lại Phú Xuân thì hay tin Tôn Thất Dục đã được thả ra nhưng bị bãi chức. Đến nhà Dục thúc tìm thì người lão bộc cho hay Dục công đã vân du tứ hải không thấy về. Chàng nhờ người bán ngôi nhà cũ ở bến Vĩ Dạ, từ đó tuyệt giao với đời, sống ẩn dật nuôi hai đứa con cùng bà cụ chủ nhà. Ít lâu sau chàng sắm một chiếc thuyền chài nhỏ, ngày ngày ra biển đánh cá kiếm kế sinh nhai. Bà cụ sau đó cũng từ trần, vì không con cháu nên giao ngôi nhà lại cho Đoàn Phong.

Chàng phần vì nhớ vợ, phần vì uất hận cho hoàn cảnh trớ trêu của mình nên đã cố gắng đem trí tuệ cả đời truyền dạy lại cho đứa con trai duy nhất. Chàng cũng bắt đầu uống nhiều rượu hơn. Nhiều đêm dưới ánh trăng nơi thôn dã, sau khi dạy kiếm cho Đoàn Phi xong, chàng một mình uống rượu múa gươm mà tiếc thời oanh liệt xưa. Hận chứa đầy gan, chàng ngửa mặt vung kiếm ngâm mấy câu thơ:

Quốc phá gia vong kỷ độ hà

Dục tương khinh kỵ vãn can qua

Thiên bế, nhân u, vô hạn hận

Điếu đồ tuyệt lộ tửu cuồng ca.[1]

Dịch:

Nước mất nhà tan đã mấy độ bởi vì đâu

Muốn dùng đoàn chiến mã để cứu vãn cảnh binh lửa

Mệnh trời bế tắc, lòng người (vua) hôn ám đành ôm hận

Tên ngư phủ cùng đường cuồng say ca hát.

Năm Đoàn Phi được mười tuổi, về cơ bản nó đã nắm vững đường kiếm gia truyền của dòng họ Đoàn. Ngoài học võ, Đoàn Phong còn bắt nó cùng Quỳnh Như phải học chữ. Việc dạy dỗ con của chàng rất nghiêm túc, đến độ cứng rắn.

Một hôm, Đoàn Phong dong buồm ra khơi đánh cá vắng nhà. Buổi chiều, sau giờ học, Đoàn Phi rủ em ra vườn chặt mía ăn, không may lưỡi dao sút cán, văng trúng trúng ngay đầu Quỳnh Như, máu ra lai láng khiến con bé ngã xuống bất tỉnh. Đoàn Phi lay gọi em thật lâu mà Quỳnh Như vẫn nằm yên bất động. Nó tưởng em mình đã chết, lại nghĩ đến cơn thịnh nộ của cha lúc trở về nên sợ quá băng mình chạy trốn. Nó nhắm mắt chạy ra đến cửa Hội An thì trời đã tối mịt, thấy bên bờ sông có đoàn thuyền đang đậu, nó leo đại lên rồi núp vào trong đống vật dụng trên boong thuyền. Cảm thấy chưa an toàn, nó kéo mấy tấm vải dùng để đậy hàng phủ lên người mình. Sợ hãi, mệt mỏi, nó ngủ quên lúc nào không hay.

Nó bị đánh thức bởi sức nóng kinh hoàng bên trong tấm vải phủ. Ngộp quá, nó đưa tay kéo tấm vải phủ trên người ra. Ánh nắng chói chang, gay gắt của mặt trời mùa hạ buộc nó phải nhắm mắt lại một lúc rồi mới mở ra lại. Trên nền trời trong xanh, từng đám mây trắng bay đi rất nhanh, xéo bên kia là mấy cây cột cao giương những cánh buồm đang phần phật bay trong gió. Nó còn chưa hình dung được mình đang ở đâu vì đầu óc nóng ran và nhức như búa bổ. Sực nhớ là đêm qua nó đã leo lên một chiếc thuyền để trốn đi, nó hoảng hồn ráng sức ngồi dậy, chui ra khỏi đống đồ rồi bò ra mé thuyền. Quanh nó là biển xanh ngút một màu, phía xa xa những rặng núi thấp thoáng ẩn hiện. Nó chợt hiểu ra con thuyền mà nó chui lên trốn đã ra khơi và đang lênh đênh giữa biển cả. Trên boong thuyền, trời nắng như thiêu đốt nên không có người nào cả. Nó hoảng sợ vô cùng nhưng cơn mệt mỏi chợt ập tới khiến nó không sao gắng gượng được, nó nằm vật xuống rồi thiếp đi.

Lúc mở mắt ra, dưới ánh sáng lờ mờ của cây bấc, Đoàn Phi trông thấy một người đàn ông có khuôn mặt hiền lành đang ngồi nhìn mình. Thấy nó tỉnh lại, người ấy mỉm cười hỏi:

– Cháu đã tỉnh lại rồi, cảm thấy trong người thế nào?

Nó cảm thấy miệng đắng nghét, đầu còn nóng ran nhưng vẫn đáp:

– Dạ cháu không sao.

Người đàn ông đưa tay sờ trán nó nói:

– Cháu còn sốt cao lắm, chú đã nấu cháo và sắc sẵn thuốc, ăn cháo xong uống thuốc rồi tiếp tục nghỉ ngơi vài hôm sẽ khỏi thôi.

Ăn cháo và uống thuốc xong nó hỏi:

– Cảm ơn chú. Cháu đang ở đâu vậy chú?

– Cháu đang ở trên thuyền. Thuyền đi buôn của chú. Cháu nghỉ ngơi đi, đừng hỏi han gì vội. Khỏi bệnh rồi nói chuyện sau.

[1]  Trích Trường thi Hòn Vọng Phu, Vũ Thanh, Nxb Trẻ 2012.

………..

(xem tiếp vào ngày mai)