Kỳ 115:

Hồi thứ hai mươi mốt

Ơn chú Lía như mưa rào nắng hạn

Chu Muội Nương đơn kiếm loạn Truông Mây

*

Đại hạn phùng cam vũ

Tha hương ngộ cố tri

Động phòng hoa chúc dạ

Kim bảng quải danh thì.

Dịch:

Hạn lớn gặp trời mưa

Xa xứ gặp người đồng hương

Đêm động phòng hoa chúc

Bảng vàng có đề tên thi đậu.

Đó là bốn điều thống khoái mà dân gian thường nói tới trong cuộc sống hàng ngày sau những giờ làm lụng vất vả để vơi bớt nỗi cơ cực. Đối với đám dân nghèo lúc này, mà hầu như đại đa số dân bây giờ đang nghèo, còn không nghèo thì cũng gặp cảnh khó khăn, điều vui thú mà họ nói tới là chuyện hành hiệp trượng nghĩa của chú Lía. Những người đứng tuổi khi nói chuyện về chàng Lía, họ không nỡ gọi là thằng Lía vì lúc này Lía chỉ mới ngoài hai mươi tuổi nên họ gọi yêu là chú Lía. Chú Lía cướp của bọn cường hào, ác bá để phân phát lại cho họ nên họ thương, họ ca tụng người anh hùng và cũng là ân nhân của họ không hết lời. Trong thời buổi nhiễu nhương, kỷ cương tan nát, quan lại bóc lột, ức hiếp, sưu cao thuế nặng, hạn hán mất mùa… đủ mọi thứ khổ chụp xuống đầu đám dân đen, hoàn cảnh như thế mà lại xuất hiện một người hiệp sĩ cứu khốn phò nguy như chú Lía thì quả đúng là đại hạn gặp mưa rào.

Năm Đinh Sửu 1757, cửa Tư Dung, một cửa khẩu quan trọng bậc nhất của kinh đô Phú Xuân, sau một cơn động đất dữ dội đã bị khép nhỏ lại và lấp cạn. Có nơi núi sập lở, chuột đồng xuất hiện hàng hà sa số ở nhiều địa phương, chúng phá nát mùa màng cùng hoa màu, sau đó gây bệnh dịch tràn lan. Một thầy sãi bị quan quân chúa Nguyễn, hay nói đúng hơn là quan quân của quan Ngoại tả Trương Phúc Loan bắt đem chém đầu chỉ vì đã khẳng định rằng: “Những hiện tượng núi sập, cửa Tư Dung bị lấp, chuột đồng xuất hiện… chỉ là những cảnh báo cho nhiều điều sắp tới xảy ra còn tệ hại hơn nhiều như: lửa cháy khắp nước, loạn lạc, dân chết vì dịch lệ, nạn đao binh…”. Lại có một ông đạo sĩ 80 tuổi khác từ một vùng núi phía Nam khẳng định: “Chỉ có đến tám đời Chúa thôi, không hơn, cho đến khi núi biến thành đồng, cửa biển bị lấp, người quanh ta chết tiệt để cho lớp người mới đến thay thế và vương quốc sẽ chuyền tay người khác…”[1].

Những hiện tượng xấu của thiên nhiên xảy ra, những lời khẳng định của một số người có thế lực tinh thần như các thầy sãi, ông đạo đã một lần nữa làm cho dân chúng hoang mang, nhắc nhớ lời sấm truyền lúc trước: “Chỉ đến tám đời Chúa thôi sẽ trở về Trung Đô” và họ tin rằng lời sấm đó sẽ linh nghiệm. Nhân tâm xao động, triều chính rối ren, nạn mua quan bán tước diễn ra thường nhật trong hệ thống cai trị. Đứng đầu là Trương Phúc Loan, hắn đã đưa một lớp người tham lam, ngu ngốc, bất tài lên cầm quyền. Chúng bỏ tiền ra mua chức tước rồi tìm cách vơ vét của công hoặc bóp họng dân đen mà lấy lại, để gỡ cả vốn lẫn lời. Dân chúng cơ cực kêu trời không thấu, từ đó mất lòng tin vào phủ Chúa, dẫn đến cảnh đất nước loạn ly, giặc cướp nổi lên như rạ. Chỉ trong phủ Quy Nhơn đã có ba bọn cướp lớn: Ngưu Ma Vương và Tập Đình, Lý Tài ở ngoài biển; Bá Bích thành ở Tây Sơn với hai tên đầu đảng Cha Pon, Cha Sót người Chiêm và Truông Mây ở Phù Ly của cha Hồ, chú Nhẫn; chưa kể những tên cướp cạn ban ngày thì hằng hà sa số. Trong tình hình điên đảo như vậy, chú Lía xuất hiện như một hiệp sĩ cứu khốn phò nguy, thật đúng là điều thống khoái chẳng khác nào kim bảng đề danh.

Nhắc lại chuyện Lía theo cụ Bạch học võ trên núi Trưng Sơn, thấm thoắt mà đã bảy năm trôi qua. Bảy năm dùi mài tu luyện bằng tất cả lòng ham học và căn cốt trời ban, Lía đã thụ đắc được hết sở học bình sinh của cụ Bạch. Dường như quá mãn nguyện vì đã tìm được một truyền nhân xuất sắc cho môn võ gia truyền của mình nên khi Lía thành tài thì cũng là lúc cụ Bạch lìa trần. Lía thương tiếc vô cùng, lập mộ cho thầy ngay trước gian nhà trúc. Sau đó chàng lần xuống chân núi bốc mộ của mẹ, mang hài cốt lên chôn phía sau nhà cạnh dòng suối. Chàng ở lại chăm sóc hai ngôi mộ ba tháng mới bái tạ xuống núi.

Người mà chàng tìm đến đầu tiên là Bưu, thằng bạn thân nhất ngày xưa. Bảy năm không gặp, nay Lía đã trở thành chàng thanh niên cường tráng với hai đuôi tóc tết xoắn dài quá mông khiến cho Bưu không thể nào nhận ra. Lía thấy Bưu không nhận ra mình thì cười ha hả nói:

– Không nhận ra tao hả? Lía đây. Phú Lạc Vương mà ngày xưa bọn bay hay gọi đây.

Bưu sững người một lúc rồi nhảy cẫng lên mừng rỡ:

– Lía! Trời ơi, đúng là mày rồi! Mày còn sống hả? Gặp lại mày tao mừng quá. Lâu nay mày đi đâu sao không tìm tao?

Bưu ôm chầm lấy bạn, nỗi vui mừng không sao kể xiết. Lía nói:

– Thong thả tao kể mày nghe. Mẹ mày khỏe không? Bọn thằng Sứt, thằng Nhạc bây giờ thế nào?

Bưu buồn rầu đáp:

– Mẹ tao bệnh, thằng Nhạc và ông thầy thuốc nam giúp cho bao nhiêu thuốc cũng không khỏi, đã mất hồi năm ngoái rồi. Thằng Sứt cưới con Lé lúc trước ở đợ cho nhà ông Hương chỉ, vợ chồng nó cất một căn nhà nhỏ trong vườn nhà cũ của thằng Nhạc, vừa ở vừa coi chừng nhà cho thằng Nhạc. Sau khi mày bỏ trốn, ông Phúc bị chúng bắt bỏ tù, phải lo lót tiền mới được thả ra. Thằng Nhạc phải bỏ học ở Bằng Châu về phụ cha buôn bán vì sau lần bị bắt, ông Phúc suy nhược dần. Ổng dời nhà xuống Kiên Mỹ, vài năm sau cũng mất, thằng Nhạc phải thay cha đảm đương mọi việc.

Lía nghe chuyện thở dài:

– Chia buồn với mày về bác gái nhé. Lỗi cũng ở tao một phần. Ông Phúc sống rất có tình có nghĩa, người tốt như vậy sao lại chết sớm thế? Mày thấy ông trời có bất công không?

Bưu gật đầu:

– Ừ, như cha con thằng Đằng đó, nịnh hót cấp trên nên giờ cha nó đã làm Xã trưởng xã mình, còn thằng Đằng thì thay cha làm Đốc trưng trông coi việc thu lúa cho huyện. Hống hách hết chỗ nói luôn. Thằng Nhạc bị nhà lão soi mói làm khó đủ điều. Mà mấy người gian ác như vậy thì cứ sống nhăn ra để hà hiếp bọn cu đen như mình.

– Mình ghé thăm vợ chồng thằng Sứt đi. Tụi nó làm ăn được không?

– Được. Nó được thằng Nhạc giao cho một mẫu ruộng để làm, thu hoạch được bao nhiêu thì hưởng, rồi coi ngó giúp bốn mẫu ruộng còn lại cho thằng Nhạc. Tao cũng được thằng Nhạc giao cho năm sào, phụ với thằng Sứt canh tác phần còn lại đó cho nó.

– Vậy là hai đứa bay yên chí rồi. Thằng Nhạc thật tốt. Nó buôn bán khá không?

– Rất khá. Nó đang bỏ tiền mua rẫy trên Tây Sơn thượng rồi thuê người lên đó canh tác. Nhiều việc quá nên nó bận như con ong thợ đi tìm mật vậy.

– Mày ví von hay quá há. Đi thăm thằng Sứt một chút rồi xuống thăm thằng Nhạc. Tao phải cảm ơn gia đình nó một tiếng.

– Thằng Sứt giờ chắc đang ở dưới Trường Trầu phụ việc cho thằng Nhạc. Mày không nên xuống đó. Lệnh truy nã mày vẫn còn dán ở khắp nơi, ở Trường Trầu có lính canh, mày xuống mà bị chúng phát hiện được thì mệt lắm. Để tao chạy xuống gọi tụi nó lên. Đêm nay, mình uống một trận thật đã để mừng ngày mày trở về nghen. Tao đi rồi mày ở yên đây đừng đi đâu nghen, cái đám nhà thằng Đằng mà thấy mày là nó hô hoán lên liền đó.

Lía thở dài:

– Ừ. Cũng được. Xứ sở này, xã hội này không thừa nhận tao, thôi đành vậy. Mà tao cũng cóc cần. Có khi tao phải đập nát nó ra để xây dựng lại cái khác cũng không chừng.

– Mày đi đâu? Mày tính làm gì?

Hai mắt Lía long lanh, Bưu đọc được sự căm tức trong ánh mắt đó. Lía nói:

– Tao cũng chưa biết. Xuống đồng bằng thì bọn cầm quyền đuổi bắt, cuộc đời tao giờ chỉ còn núi rừng là nơi có thể dung thân mà thôi.

Bưu nhìn bạn ái ngại:

– Làm gì thì làm, đừng làm ăn cướp nghen Lía. Như bọn cướp người Chiêm ở thành Bá Bích bên kia sông, chúng ăn cướp, hãm hiếp đàn bà thật chẳng thua gì cầm thú.

Lía nghe nói giật mình:

– Thật vậy à? Chúng hoạt động bao lâu rồi?

– Chừng năm sáu năm nay. Đám quan quân chết nhát của huyện Tuy Viễn chỉ giỏi bắt nạt dân lành, còn bọn cướp hung ác kia thì cứ mỗi lần kéo quân đi lại kéo quân về, chẳng làm nên tích sự gì cả. Bọn cướp vẫn hoành hành tác quái, chẳng kiêng nể gì ai.

– Chúng đông lắm à?

– Nghe thiên hạ đồn bọn chúng khá đông. Địa bàn hoạt động của chúng rộng lắm, cả miệt tả ngạn sông Côn xuống khỏi An Thái, lên cả Tây Sơn thượng.

Lía mỉm cười:

– Vậy là tao có việc làm rồi.

Bưu ngạc nhiên hỏi:

– Mày định làm gì?

– Đập cho bể đầu bọn cướp khốn kiếp đó chứ làm gì nữa.

[1]  Bài sử khác cho Việt Nam, Tạ Chí Đại Trường.

…………….

(xem tiếp vào ngày mai)