Kỳ 135:

……..

Rồi nàng quay người lên bờ, phóng ngựa chạy đi. Lý Vân Long cũng vội chào Lê Trung, không quên liếc đôi mắt trắng dã nhìn về phía Trần Lâm. Hắn chạy lên bờ, giục ngựa đuổi theo Đại Hồng. Trần Lâm nhìn họ lắc đầu:

– Non sông dễ đổi, bản tính khó dời. Hai người ấy vẫn như ngày nào.

Tiểu Hồng nói:

– Mặc họ! Mình lại chung vui với mấy chú đi.

Hai người trở lại bàn tiệc. Trần Lâm sực nhớ ra Phan Sinh nên vội nói:

– Để anh giới thiệu với Tiểu Hồng người bạn của anh. Một tay xứng danh “Diệu thủ” với nét họa tuyệt vời, bụng lại đầy một bồ văn chương, thi phú. Hai người nói chuyện sẽ tương đắc lắm đấy.

Chàng kéo Phan Sinh ra giới thiệu với Tiểu Hồng. Phan Sinh ôm quyền nói:

– Chào Tiểu Hồng, không lần nào gặp tôi mà Trần Lâm không nhắc đến cô.

– Anh Phan Sinh nói thật hay là đang nói bênh cho anh Lâm đó? Hai anh ở gần nhau à?

Phan Sinh đưa tay chỉ về dãy núi Bà xa xa hướng Tây Bắc nói:

– Nhà tôi ở dưới chân núi kia, Trần Lâm thì ở lưng chừng núi, trong ngôi Linh Phong tự.

Tiểu Hồng tròn xoe đôi mắt, nàng vờ làm mặt giận:

– Hai người ở đó à? Vậy mà hơn sáu năm nay không hề ghé về đây lấy một lần. Anh Lâm nói đi, tại sao vậy?

Trần Lâm bối rối đáp:

– Xin lỗi Tiểu Hồng, thầy anh chỉ có một mình anh coi sóc, người lại rất ít khi cho anh xuống núi vì sợ anh xao lãng việc học. Giờ đã trở về rồi, đừng trách anh nữa.

Tiểu Hồng nhìn thấy Trần Lâm lúng túng thì phì cười:

– Tiểu Hồng chỉ hỏi vậy thôi, không trách anh đâu. Anh về lần này ở lại với cậu Trung và theo đoàn thuyền luôn hả? Vậy thì đừng bỏ đi nữa nhé.

– Anh cũng chưa nói chuyện được với chú Trung. Việc đó tính sau. Hai người cứ nói chuyện với nhau đi, anh phải uống thêm cùng mấy chú vài chung rượu mừng nữa đã. Họ đang chờ.

Tiểu Hồng quay sang Phan Sinh hỏi:

– Anh Lâm nói anh có đôi tay diệu thủ và thổi sáo chẳng kém gì Trương Chi, anh dạy cho Tiểu Hồng đi. Từ bé Tiểu Hồng đã rất thích thư họa và âm nhạc.

Phan Sinh mỉm cười:

– Tôi cũng chỉ biết sơ sơ thôi, không dám gọi là diệu thủ đâu. E là chỉ bõ làm trò cười cho Tiểu Hồng.

– Anh đừng khiêm tốn. Tính anh Lâm, Tiểu Hồng biết rõ, anh ấy chẳng nói thêm bớt điều gì bao giờ. Tiểu Hồng tuy học qua nhiều thầy nhưng vẫn chưa vừa ý. Cha có mua được bộ chữ Lan Đình Thiếp nguyên bản của Trung Hoa nhưng tập mãi cũng không thấy thỏa mãn. Anh Sinh giúp Tiểu Hồng đi.

– Đã vậy thì tôi sẽ thử.

– Anh Sinh tự mình nghiên cứu lấy hay học qua thầy?

– Tôi học những lý thuyết căn bản với cha từ bé. Sau đó cha giao cho bộ chữ Lan Đình Thiếp và một số sách vở dạy về nghệ thuật tự họa để tôi tự thực tập lấy.

– Vậy là anh có thiên khiếu bẩm sinh rồi. Tiểu Hồng tư chất ngu muội nên loay hoay mãi mà chẳng được gì.

– Chỉ nghe nói thôi tôi đã biết Tiểu Hồng là một tay danh họa rồi.

Tiểu Hồng tròn xoe đôi mắt bồ câu đen lay láy của nàng hỏi:

– Căn cứ vào đâu mà anh nói vậy?

– Chân lý của nghệ thuật cũng gần như “Đạo” vậy. Thư họa là một loại hình nghệ thuật bị ảnh hưởng rất lớn, gần như tuyệt đối bởi tâm hồn người thể hiện nó. Một tâm hồn trong sáng, khiêm cung cộng với sự đam mê sẽ được thể hiện rõ qua nét họa của người đó. Tiểu Hồng hội đủ những điều kiện tối ưu này.

– Anh đánh giá Tiểu Hồng quá cao rồi. Cảm ơn anh. Anh nói rõ hơn về đạo và nghệ thuật đi.

– Về thư họa, tinh thần của nét họa tồn tại ở tâm con người, còn hình thể tồn tại ở sách vở. Lý thuyết vỡ lòng nhưng căn bản nhất của nghệ thuật tự họa là “ý tại bút tiên”. Tâm hồn trong sáng, bình lặng thì nét họa sẽ có thần. Tâm hồn vẩn đục, nóng nảy thì nét họa sẽ chết cứng. Sách vở dạy ta lý thuyết để thực hành nhưng ta cần phải quên nó đi thì khi viết hay vẽ nét bút mới truyền đạt được cái thần của người. Giống như lý thuyết ngón tay chỉ trăng của Phật giáo vậy: “Ngón tay là phương tiện, là Phật pháp. Mặt trăng là chân lý, là giác ngộ”. Phật pháp là phương tiện để đạt đến chân lý hay sự giác ngộ, bản thân Phật pháp không phải là chân lý hay giác ngộ. Nghệ thuật viết chữ cũng vậy.

Tiểu Hồng nhìn Phan Sinh với ánh mắt đầy khâm phục:

– Cách giải thích và ví dụ của anh thật cao siêu, hơn hẳn mấy ông thầy của Tiểu Hồng trước nay. Hay quá!

– Nói là sự thể hiện của kiến thức, mà kiến thức chỉ là bề mặt của sự việc được tích lũy qua thời gian và sự cần cù tìm học. Hiểu được lời người khác nói cũng chỉ là tri thức. Tâm lĩnh được lời nói mới là biểu hiện của sự giác ngộ sâu thẳm bên trong của vấn đề. Tiểu Hồng lĩnh hội lời nói của tôi một cách toàn triệt từ ngoài vào trong, điều đó thật đáng quí. Tri thức và tâm thức vốn khác nhau xa. Như trường hợp sư Thần Tú và Lục tổ Huệ Năng vậy.

– Anh lại quá khen Tiểu Hồng nữa rồi. Làm sao anh biết Tiểu Hồng đã tâm lĩnh lời và ý của anh nói?

– Tôi chỉ nói những gì tôi cảm nhận được mà thôi.

– Mà sư Thần Tú và Lục tổ Huệ Năng khác nhau thế nào?

Phan Sinh mỉm cười đáp:

– Tiểu Hồng làm như tôi là Sư phụ Ông Núi không bằng. Thần Tú là người tinh thông Phật pháp, kinh tạng đọc đến thiên kinh vạn quyển. Lục tổ Huệ Năng chỉ nhờ nghe có một câu kinh Kim Cang: “Ưng vô sở trụ nhi sinh kỳ tâm” mà giác ngộ, được truyền y bát. Cùng nói về một cây bồ đề nhưng hai vị ấy có hai cách nhìn khác nhau. Thần Tú nhìn bằng tri thức nên thấy cây bồ đề có hình tướng rồi theo đó mà tu trì để đến với đạo. Huệ Năng nhìn bằng huệ nhãn, bằng tâm thức nên nhận ra rằng bồ đề vốn vô tướng, vô sinh, vô diệt, vô sở trụ. Vì vậy hai bài kệ của họ làm ra rất khác nhau.

– Anh đọc hai bài kệ đó cho Tiểu Hồng nghe đi.

– Bài kệ của Thần Tú viết:

Thân thị bồ đề thụ                   Thân như cây bồ đề

Tâm như minh kính đài            Tâm như đài gương sáng

Thời thời thường phất thức      Luôn luôn siêng lau chùi

Vật sử nhạ trần ai.                    Chớ cho dính bụi trần.

Lục tổ lại viết:

Bồ đề bản vô thụ                      Bồ đề vốn chẳng cây

Minh cảnh diệc phi đài             Gương sáng chẳng phải đài

Bổn lai vô nhất vật                   Xưa nay không một vật

Hà xứ nhạ trần ai?                    Nơi nào dính bụi trần?

Tiểu Hồng thấy sự khác biệt giữa hai người rồi chứ? Cũng giống như kiến thức của tôi nói ra và sự tâm lĩnh của Tiểu Hồng vậy.

Tiểu Hồng bật cười, tiếng cười của nàng trong như pha lê và hồn nhiên như đứa trẻ:

– Anh Phan Sinh thật khéo ăn nói làm mát lòng người. Ở bên cạnh anh lâu ngày chắc Tiểu Hồng sẽ mập phì lên vì mát dạ quá. Thôi, chúng ta lại kéo anh Lâm về nhà đi, Tiểu Hồng rất nóng lòng được nhìn nét bút và nghe tiếng sáo của anh Phan Sinh.

Hai người gọi Trần Lâm. Họ đi bộ, Trần Lâm dắt con ngựa của Tiểu Hồng cưỡi ra lúc nãy. Trần Lâm hỏi:

– Tôi nói có đúng không? Hai người rất tâm đắc khi nói chuyện với nhau phải không?

Tiểu Hồng nói:

– Anh Phan Sinh phải làm thầy dạy học cho một đứa học trò ngu dốt nên anh ấy đang khổ sở vô cùng đấy.

Phan Sinh cười nói:

– Cô học trò này mà liệt vào hàng dốt thì thế gian này toàn là một lũ đại dốt không thôi.

Tiểu Hồng lại bật cười. Trần Lâm liếc nhìn cô bạn gái thuở nhỏ, nay đã trở thành một tiểu thư xinh đẹp. Nghe chú Lê Trung nói, nàng thừa hưởng nét đẹp cao quí của mẹ nàng ngày xưa. So với Đại Hồng thì đúng là mỗi người mỗi vẻ. Đại Hồng sắc sảo, quyến rũ, khêu gợi bao nhiêu thì Tiểu Hồng đoan trang, khả kính bấy nhiêu. Một người sinh ra để mê hoặc lòng người còn một người để cho người khác phải tôn thờ và kính trọng. Bỗng nghe Tiểu Hồng nói:

– Nãy giờ mải mê học tập mà chưa nghe anh Lâm nói về quãng thời gian sáu năm qua của mình. Anh kể nghe đi.

Trần Lâm bèn kể vắn tắt mọi việc cho nàng nghe. Tiểu Hồng buồn bã nói:

– Thật tội nghệp anh Lưu Phương. Anh ấy chết thảm quá.

– Mối thù đó anh quyết bắt bọn chúng trả đủ để an ủi vong linh anh ấy và mấy chú thủy thủ.

Tiểu Hồng lo lắng nói:

– Bọn cướp đó vừa đông vừa hung dữ. Anh làm sao trả thù được?

Trần Lâm ậm ừ:

– Thì từ từ tìm cách. Hai người cùng nhau nghiên cứu thư họa nhé, tôi mượn con ngựa đi một vòng ngắm biển hoàng hôn rồi trở lại.

– Anh nhớ về sớm nha. Tối nay Tiểu Hồng sẽ làm một buổi tiệc mừng anh trở về cũng như để đãi vị khách quí và cũng là thầy của Tiểu Hồng đây.

Trần Lâm nhảy lên ngựa nói:

– Anh sẽ về đúng giờ. Hai người vui vẻ.

……….

(xem tiếp vào ngày mai)