Kỳ 158:

…………

Cả hai quay vào trong, Trần Lâm bóc phong thư ra đọc. Thư viết:

“Ái Trúc Trai ở Vu Lai kính gởi quân sư Truông Mây Trần Lâm nhã giám.

Kẻ thảo dã này đã lánh đời, không màng đến thế sự nhưng vì sinh mạng của bao nhiêu anh em, đồng bào ruột thịt Việt tộc nên đành viết bức thư này gởi đến nhân huynh như một lời yêu cầu, mong nhận được sự tha thứ và đồng tình.

Kẻ thảo dã này may mắn học được tinh yếu trong cuốn hạ của ngài lão tổ sư Trạng Trình, tuy lòng không muốn nhưng vì lời ghi chú của tổ sư nên mạo muội kính xin nhân huynh bãi bỏ ý định dùng Tiểu trận Bát quái trong cuộc chiến tranh tuy chính nghĩa nhưng mang tính huynh đệ tương tàn này. Xin hãy dành nó trong việc đối phó với giặc ngoại xâm.

Vì đồng bào ruột thịt, vì đức hiếu sinh của đấng Thượng Thiên, vì lời dặn của tổ sư, nay kính bút.

Vu Lai Ái Trúc Trai Ngô Thế Lân.”

Trần Lâm đọc xong bức thư thở dài đưa sang cho Lía:

– Đại ca đọc đi.

Lía cầm bức thư đọc xong hỏi:

– Như vậy là sao?

– Ngài Trạng Trình khi nghiên cứu ra Tiểu Bát quái trận đã căn dặn người lập trận chỉ được dùng nó trong cuộc chiến tranh chống giặc ngoại xâm mà thôi. Để phòng ngừa, ngài đã viết ra cuốn hạ dạy phép phá trận. Nếu trận bị phá, sự thiệt hại của đôi bên sẽ như nhau. Ngô Thế Lân vì không muốn ra giúp nhà Nguyễn nên gởi thư này yêu cầu chúng ta đừng dùng trận đồ để tiêu diệt đồng bào mình. Đệ nghĩ chúng ta đành phải nghe theo.

– Không có trận Bát quái chúng ta vẫn có thể thắng địch được mà.

– Đành phải nhờ vào đôi tay của anh em vậy. Thú thật với đại ca, khi nhìn hàng ngàn binh triều bị chết thảm trong trận La Bích hôm rồi, lòng đệ thấy vô cùng bất nhẫn. Ngay cả trời cao cũng không tán thành việc tàn sát với qui mô lớn ấy nên đã đổ trận mưa dông can thiệp. Sát nghiệp của đệ quá nặng rồi.

Lía an ủi:

– Đệ đừng buồn. Chiến tranh là như vậy đó, chúng ta cũng chỉ vì trăm họ mà thôi.

Trần Lâm thở dài như để trút đi bao nhiêu lo âu rồi nói:

– Giờ chúng ta đưa cha Hồ về lại Truông Mây. Không còn bao lâu nữa đâu. Đệ muốn xem tam ca và anh em thương tích thế nào rồi, cả Tín Nhi nữa, tội nghiệp thằng bé. Nó thật ngoan cường!

Hai người bèn sai anh em chuẩn bị đưa cha Hồ về Truông Mây. Chú Nhẫn rơi lệ chia tay để về lại Phù Ly. Khi về đến huyện thành, ông đã thấy Quỳnh Dao đợi ở nơi khách sảnh. Quỳnh Dao hôm nay trang điểm thật lộng lẫy, nàng mặc chiếc áo chẽn bằng lụa màu mỡ gà bó sát. Màu y phục thật hợp với làn da trắng mịn của nàng, như càng làm tăng thêm sức hấp dẫn, khêu gợi. Chú Nhẫn đã gặp người thiếu phụ này hai lần nhưng lần này khi vừa nhìn thấy, ông đã không khỏi giật mình bởi nét kiều diễm và thân hình quyến rũ của nàng. Sau một lúc bàng hoàng, ông niềm nở chào hỏi:

– Hôm nay phu nhân trở lại để hoàn tất mọi giấy tờ bàn giao phải không?

Quỳnh Dao nở nụ cười mĩ miều:

– Dạ đúng vậy. Huyện huynh có thể cùng tôi ghé sang bên đó để tiếp nhận mọi thứ hay không?

– Ngay bây giờ à?

Quỳnh Dao đáp, giọng rầu rầu:

– Dạ đúng vậy. Tôi muốn mọi việc kết thúc sớm để còn trở về quê. Ở đây sắp có chiến tranh, tôi là phận đàn bà lẻ loi, thật sợ lắm.

Chú Nhẫn thông cảm cho nỗi lo sợ của người mỹ phụ. Ông hỏi:

– Phu nhân không có ai thân thích ở đây sao? Rồi phu nhân trở về đâu?

Ánh mắt của Quỳnh Dao đượm một vẻ u sầu man mác, nàng đáp:

– Dạ, không có ai. Tôi không có quê, tôi nói trở về quê là tính trở về Phú Xuân, nơi mà trước kia tôi đã làm nghề ca hát để nuôi thân.

– Phu nhân định quay lại nghề cũ ư?

– Bơ vơ một thân một mình, không sản nghiệp, chỉ có giọng hát làm vốn nuôi thân nên đành chấp nhận. À, thật xin lỗi đã làm mất thời giờ của huyện huynh. Giờ chúng ta đi được chưa?

Quỳnh Dao một điều huyện huynh, hai điều huyện huynh bằng một giọng nói hết sức êm ái, ngọt ngào và ánh nhìn thật đằm thắm khiến cho chú Nhẫn cảm thấy nao nao tấc dạ. Ông là một người đàn ông sống độc thân từ khi còn là kẻ đi buôn, đến khi lên Truông Mây làm ăn cướp và cho tới bây giờ vẫn ở vậy. Lần đầu tiên tiếp xúc với một người đàn bà vừa đẹp, vừa có một hoàn cảnh đáng thương như vậy đã làm ông xuyến xao, động lòng trắc ẩn. Ông vội nói:

– Được, mời phu nhân.

Trại gỗ không xa huyện thành cho lắm, hai người thả ngựa đi nước kiệu một lúc đã đến nơi. Chú Nhẫn nhìn Quỳnh Dao ngồi trên lưng ngựa không khỏi buột miệng khen:

– Tôi cứ ngỡ phu nhân đào tơ liễu yếu, không ngờ lại biết cưỡi ngựa mà còn cưỡi thật khéo nữa. Cứ như một vị nữ hiệp.

Quỳnh Dao cười nói:

– Ở phủ Quy Nhơn này phụ nữ ai cũng biết cưỡi ngựa cả. Lúc trước tôi đâu biết, sau về đây Nguyễn Dao đã huấn luyện cho đấy. Dù vậy tôi cũng rất ít khi cưỡi ngựa một mình.

Đến trại mộc, chú Nhẫn xuống ngựa rồi theo phép lịch sự ông bước đến đưa tay ra cho Quỳnh Dao vịn vào để xuống. Quỳnh Dao đưa bàn tay búp măng cho chú Nhẫn nắm lấy rồi bỏ chân sang một bên để nhảy xuống. Không may, chân của nàng lại vướng vào bàn đạp nên cả thân hình đã té gọn vào lòng của chú Nhẫn. Chú Nhẫn vội vàng ôm đỡ nàng rồi đặt xuống đất. Sự va chạm tuy chỉ trong khoảnh khắc nhưng cũng đủ khiến cho chú Nhẫn rùng mình tê tái. Ông bối rối nói nhanh:

– Xin lỗi phu nhân.

Quỳnh Dao đôi má đỏ ửng trông càng diễm lệ vô song, nàng e thẹn nói:

– Tôi là người xin lỗi huyện huynh mới phải. Mời vào trong.

Hai người vào trong, trang trại vắng tanh không một bóng người. Chú Nhẫn hỏi:

– Không có ai ở đây à?

– Tôi đã cho mọi người nghỉ việc để chờ bàn giao cơ sở lại cho huyện huynh. Huynh có thể kiểm kê rồi tiếp nhận ngay hôm nay.

– Ngay hôm nay à? Rồi phu nhân ở đâu?

Quỳnh Dao hé nụ cười buồn:

– Tôi đã thuê tạm một gian phòng ở khách sạn Phù Ly, chờ xong việc sẽ lên đường.

Chú Nhẫn buông một tiếng thở dài thông cảm. Quỳnh Dao đưa ông đi khắp nơi để xem xét. Cuối cùng nàng nói:

– Vậy là từ nay trang trại này thuộc về các huynh, tôi không còn trách nhiệm hay quyền hạn gì nữa.

– Cảm ơn phu nhân. Chúc phu nhân gặp nhiều may mắn trên đường đời sau này.

Quỳnh Dao nhỏ giọng:

– Cảm ơn huynh, tôi chỉ mong được như vậy.

Bên ngoài trời bắt đầu đổ mưa. Quỳnh Dao vội nói:

– Trời mưa rồi. Chúng ta về nhanh thôi, tôi đã làm mất nhiều thời gian của huyện huynh quá rồi.

Chú Nhẫn mỉm cười nói:

– Không sao, mưa thế này, cưỡi ngựa vừa bị ướt lại vừa nguy hiểm lắm. Chúng ta hãy ráng đợi một lát mưa tạnh, tôi sẽ đưa phu nhân về.

Quỳnh Dao bỗng rùng mình, đưa hai tay ôm trước ngực vì có một cơn gió mang bụi mưa hắt vào qua cửa. Ngoài kia, trời đổ mưa như trút nước. Chú Nhẫn bước đến khép kín cửa lại để gió khỏi hắt vào. Bỗng một tiếng sấm nổ vang, Quỳnh Dao sợ hãi hét lên rồi nhào vào lòng chú Nhẫn và ôm cứng lấy ông. Chú Nhẫn theo phản xạ tự nhiên đã đưa hai tay ôm thân hình nhỏ bé của Quỳnh Dao để che chở cho nàng. Cơn sợ hãi đã qua, cả hai đều bối rối vừa định buông tay ra thì một tiếng sấm nữa lại nổ vang. Quỳnh Dao hoảng hốt hét lên và hai người lại ôm chầm lấy nhau. Mùi hương của mỹ phụ, hơi ấm của người đàn ông lực lưỡng như quyện vào nhau trong bóng tối ở căn nhà vắng đã làm cho họ không còn đứng vững được nữa. Họ từ từ ngã quỵ xuống sàn. Ngoài trời mưa ầm ầm như thác đổ, những tiếng sấm rền vang khiến họ chẳng dám rời nhau. Mưa tuy to, sấm tuy lớn nhưng cũng không át được tiếng thở dồn dập của hai người trong căn nhà vắng.

Thật là:

Ghê thay sóng hạnh khóe đào

Dẫu cho sắt đá cũng nhào cũng xiêu.

***

(xem tiếp vào ngày mai)