Kỳ chót 184:

Xin cáo lỗi cùng các bạn độc giả. Theo yêu cầu của nhà phát hành và các đại lý, chúng tôi phải tạm ngưng việc đăng tải tác phẩm NHẤT THỐNG SƠN HÀ một thời gian, mong các bạn thông cảm. Nhất Thống Sơn Hà đã được Cty AMAZON phát hành khắp thế giới, độc giả yêu thích xin tìm mua tại:

Hoa Kỳ và Canada:

http://www.amazon.com/s/ref=dp_byline_sr_book_1?ie=UTF8&text=Vu+Thanh&search-alias=books&field-author=Vu+Thanh&sort=relevancerank

Châu Âu:

http://www.amazon.fr/s/ref=dp_byline_sr_book_1?ie=UTF8&text=Vu+Thanh&search-alias=books-fr-intl-us&field-author=Vu+Thanh&sort=relevancerank

Liên hệ với tác giả Vũ Thanh:

Email:  thanhquang57@gmail.com

Phone:   954-684-1875

Xin gởi tặng các bạn:

Hồi thứ ba mươi mốt

Về Kinh Bắc, vua Quang Trung yêu làn Quan họ

Sợ Tây Sơn, Thang Hùng Nghiệp tính chước cầu hòa

Vào Thăng Long được vài hôm đã có thám báo từ biên giới phi ngựa về báo tin. Vua Quang Trung cho đòi vào hỏi:

–  Tình hình biên giới thế nào?

Viên thám báo háo hức tâu:

–  Muôn tâu hoàng thượng. Hai vị Đô đốc Lộc, Đô đốc Tuyết và Hô Hổ hầu đã dàn quân càn quét toàn bộ giặc Thanh về bên kia biên giới. Tôn Sĩ Nghị, vua tôi Lê Chiêu Thống đã chạy thoát sang Tàu, chỉ có bọn Lê Duy Chỉ lẩn trốn vào rừng sâu vùng Tuyên Quang chưa bắt được. Hiện ba vị đô đốc đang đóng quân dọc theo biên giới hai nước và tung tin sẽ tấn công sang đất Thanh để bắt vua tôi nhà Lê khiến dân Thanh lo sợ bỏ cả làng xóm di tản vào sâu trong đất liền, cả một vùng biên giới sâu mấy trăm dặm vắng ngắt không có một bóng người.

Vua Quang Trung nghe báo vỗ ghế cười ha hả nói:

–  Làm hay lắm. Đây hẳn là kế rung cây nhát khỉ, đả thảo kinh xà của Nguyễn Văn Lộc phải không?

–  Dạ, hoàng thượng đoán việc như thần. Đúng là kế của Đô đốc Lộc.

Nhà vua nói:

–  Tin cho ba viên đô đốc tiếp tục giữ các cánh quân đóng dọc theo biên giới như thế. Nhất thiết theo dõi mọi động tịnh của quân Thanh thế nào báo ngay về cho trẫm biết.

Viên thám báo khấu đầu nhận lệnh lui ra, rời điện Kính Thiên tìm đến gặp Tín Nhi. Tín Nhi dặn:

–  Hoàng sư trưởng đã theo bọn quân Thanh sang Vân Nam, anh trở lại biên giới, tìm cách liên lạc với Hoàng sư trưởng rồi cho ta hay.

–  Dạ, quân trưởng. Hiện chúng ta đã có năm anh em trong sư Mãnh sư của Hoàng sư trưởng trà trộn trong đoàn người của nhà Lê chạy sang Tàu. Chúng em sẽ liên lạc với họ.

–  Tốt lắm. Anh có thể nghỉ ngơi một đêm ở đây, mai hãy lên đường.

Thu Cúc nóng lòng hỏi:

–  Tín ca cho em lên biên giới với anh em trên đó nhé?

–  Bọn Càn Long thua nhục nhã thế này tất sẽ quay lại trả thù. Chúng ta cần nắm rõ ý định của chúng. Để xem hoàng thượng xử trí thế nào, vài hôm nữa anh và em cùng đi.

Thu Cúc mừng rỡ reo lên:

–  Cảm ơn Tín ca!

Đang nói chuyện thì có thị vệ đến báo:

–  Hoàng thượng cho đòi quân trưởng đến hậu cung bàn việc.

Tín Nhi bảo Thu Cúc:

–  Em đợi anh trở về nhé.

Đến nơi, Tín Nhi quỳ xuống làm lễ ra mắt. Nguyễn Huệ bước đến đỡ dậy vỗ vai bạn nói:

–  Khi nào chỉ có riêng ta và ngươi, không cần phải thủ lễ.

Tín Nhi e dè nói:

–  Như vậy trái với đạo vua tôi.

Nguyễn Huệ mỉm cười:

–  Với ngươi ta đặc miễn cho cái lễ vua tôi ấy. Nếu không ông vua này sẽ buồn chán đến chết mất. Uống rượu nói chuyện đi.

Hai người ngồi vào bàn, Tín Nhi rót rượu ra chung nói:

–  Mừng hoàng thượng ghi thêm một chiến công nữa vào cuộc đời danh tướng của mình.

Nguyễn Huệ nghe Tín Nhi vẫn gọi mình bằng hoàng thượng thì mỉm cười:

–  Đã bảo miễn cái lễ vua tôi với ngươi rồi mà..

–  Nhưng xưng hô ta, ngươi như trước kia thì không được nữa rồi.

Nguyễn Huệ nói:

–  Ta mới làm vua hơn tháng mà đã có cảm giác cô độc và lẻ loi vì mọi người đều giữ khoảng cách thật xa với ta. Nếu làm vua vài chục năm chắc là ta sẽ chết vì hiu quạnh.

–  Biết làm sao được. Hoàng thượng giờ là vua một nước, mọi người phải có cách xưng hô và giao tiếp khác hơn xưa theo lễ quân thần.

–  Cái lễ quân thần khắc nghiệt đó đã tạo ra một khoảng trống cách biệt lớn khiến các bậc vua chúa trở nên cô độc, từ đó sa vào con đường trụy lạc hoặc trở thành u tối, độc ác và bị chung quanh lừa dối. Ta muốn có những bạn bè thật sự để sống như một người dân thường hầu khỏi rơi vào tình cảnh mất quân bình tâm lý đó.

Tín Nhi rót ly thứ hai mời, trong cách xư hô vẫn có phần miễn cưỡng:

–  Thôi được. Ly này mừng cho giấc mơ nhất thống sơn hà của ngươi đã thành sự thật.

Nguyễn Huệ uống cạn ly rượu nói:

–  Chiến thắng và đạt được điều mình mơ ước là hạnh phúc lớn của con người, tuy nhiên ta mới thu phục được đất Bắc Hà nhưng vẫn chưa thu phục được lòng dân Bắc Hà, vì vậy vẫn coi như là chưa hoàn toàn chiến thắng. Hơn nữa, bọn Càn Long thua đau lần này sẽ không chịu bỏ qua đâu. Trước mắt còn nhiều gian nan lắm đấy.

–  Ta cũng nghĩ vậy. Cái ước vọng Thập Toàn Lão Nhân của hắn bị chúng ta đập nát, e hắn bỉ mặt mà làm lớn chuyện để giữ thể diện.

Ánh mắt Nguyễn Huệ long lên:

–  Cho ta vài năm để củng cố nước nhà thì dù hắn có làm lớn chuyện ta có sợ gì.

–  Hiện giờ trong ý của ngươi muốn giảng hòa phải không?

–  Đúng vậy. Người của chúng ta có ai bên đó? Hoàng Nhi đâu?

–  Đã theo Tôn Khởi Giao về Vân Nam. Chúng ta có năm anh em trà trộn được vào bọn tùy tùng của Lê Chiêu Thống.

–  Việc Yên Tử sơn thế nào? Bọn chúng có kịp thực hiện ý đồ đen tối đó không?

–  Có. Nhưng thất bại chua cay, sau đó hay tin đại quân của chúng đã tan tác nên nhận thua lủi thủi bỏ chạy.

Nguyễn Huệ mỉm cười:

–  Bọn Tàu vẫn tự phụ về võ học Thiếu Lâm tự của chúng, huênh hoang cái gì “thiên hạ công phu xuất Thiếu Lâm”. Lần này đụng phải võ công Đại Việt phải ôm đầu lủi lủi bỏ chạy chắc bọn nhà sư Hoa Đình phải dở khóc dở cười muốn độn thổ về nước cho nhanh.

Tín Nhi cười khoan khoái nói:

–  Ta không biết núi Tung Sơn cao bao nhiêu, nhưng rõ ràng là núi Yên Tử và Tây Sơn của chúng ta đã cao hơn chúng rồi. Cho nên lẽ ra bọn Tàu phải nói rằng “thiên hạ công phu xuất Tây Sơn” mới đúng…ha…ha…

Nguyễn Huệ cũng lớn tiếng cười vui vẻ với bạn, họ rót rượu chúc mừng nhau. Cạn chung rượu, Nguyễn Huệ nói:

–  Ta muốn có người vận động cho một cuộc giảng hòa nhưng phải ở thế mạnh của kẻ chiến thắng hoặc ít nhất là ngang hàng. Muốn vậy phải có người có uy tín với các đại quan nhà Thanh.

Tín Nhi nói nhanh:

– Phan Khải Đức rất được lòng Tôn Sĩ Nghị và thân cận với Thang Hùng Nghiệp. Chỉ có ông ta là thích hợp nhất với vai trò này.

Nguyễn Huệ tươi cười nói:

–  Ta cũng đã nghĩ đến người này.

Bèn gọi một tên thị vệ vào dặn:

–  Đi gọi Phan Khải Đức đến gặp ta ngay.

Tên thị vệ đi rồi, Nguyễn Huệ nói:

–  Đợi xem phản ứng của Càn Long thế nào, ngươi cũng phải có mặt ở biên giới để liên lạc và giúp đỡ chú cháu Phan Khải Đức.

Một lúc sau, thị vệ đưa Phan Khải Đức vào. Đợi Khải Đức hành lễ xong, Nguyễn Huệ nói:

–  Đây không phải chốn triều đường, khanh cứ ngồi uống rượu cùng trẫm và quân trưởng.

Khải Đức lạy tạ nói:

–  Tạ ơn hoàng thượng.

– Trong chiến thắng quân Thanh lần này, công của khanh rất lớn, nhưng hiện nay còn một việc hết sức hệ trọng cần đến khanh ra sức. Tạm thời trẫm hãy ban cho khanh chức Đô đốc tước Đức nghĩa hầu, xong việc, trẫm sẽ luận thêm công trạng mà định sự ban thưởng một thể.

–  Tạ ơn hoàng thượng thăng thưởng, thần nguyện hết lòng chu toàn công việc.

–  Khanh và Thu Cúc phải lập tức sang Quảng Tây tiếp tục đóng vài trò cũ. Sau đó liệu bề mà hù dọa bọn Tôn Sĩ Nghị và Thang Hùng Nghiệp để chúng chủ xướng việc giảng hòa với chúng ta. Trẫm cần thời gian chấn chỉnh và phát triển đất nước, tránh được một cuộc trả thù của bọn nhà Thanh lúc này là điều rất cần thiết. Chỉ cần khéo léo ve vuốt lòng tự ái của Càn Long, đừng để hắn bẽ mặt, trẫm tin việc giảng hòa sẽ thành công.

Khải Đức vội quỳ xuống tâu:

–  Tạ ơn hoàng thượng đã tin tưởng giao phó trách nhiệm này. Thần nguyện hết sức hoàn thành để đáp tạ thâm ân.

–  Hãy uống cùng trẫm chung rượu này. Còn lại hai chung, khi đại công cáo thành trẫm sẽ tự tay rót để ban thưởng lần nữa.

Bèn tự tay rót rượu đưa cho Phan Khải Đức. Hai tay của Phan Khải Đức đón chung ngự tửu đã run lên vì cảm kích. Ông nói:

–  Ân tình này đến chết thần vẫn không quên.

Nguyễn Huệ nói:

–  Trẫm sẽ để Hô Hổ hầu trấn thủ Nam Quan, ông ta là người có chữ nghĩa, có thể ứng đối tốt trong việc bang giao. Trước mắt, mọi việc cứ liên lạc với ông ta.

Khải Đức lạy tạ lui ra. Tín Nhi nói:

–  Ta cần dặn Thu Cúc một số việc trước khi nó lên biên giới.

–  Mang một số châu báu đến cho Thu Cúc để chú cháu họ sử dụng. Khi nào ngươi đi ta sẽ cấp cho một số nữa dùng để mua chuộc bọn quan lại nhà Thanh.

Tín Nhi cười:

–  Quan lại nhà Thanh từ Hòa Khôn xuống đến tận làng xã đều là một bọn tham ô, nếu có của đút lót, việc sẽ dễ như trở bàn tay.

–  Sách lược ngoại giao là, trước hù dọa sau vận động, cuối cùng thì mở lối cho Càn Long khỏi bẽ mặt. Đối với một ông già như hắn, tâm lý tất muốn cầu an, vật gì khó nuốt hẳn là không muốn ăn. Cho hắn một cái bánh vẽ cho dễ nuốt là được.

Nét mặt Tín Nhi chợt ngưng trọng, giọng lo lắng:

–  Tin từ Gia Định gởi về rất xấu. Ngươi phải lo trừ tên tiểu tử Nguyễn Ánh càng sớm càng hay.

Ánh mắt Nguyễn Huệ long lên:

–  Sau khi ổn định Bắc Hà ta sẽ trở về Phú Xuân để tính tới việc Gia Định. Phần ngươi lo cho tốt việc bang giao để yên mặt Bắc là được.

Tín Nhi đứng lên chắp tay xá dài lớn tiếng:

–  Dạ, hoàng thượng.

Cả hai nhìn nhau cùng bật cười sảng khoái.

Hôm sau thiết triều, Ngô Thời Nhậm dâng lên tờ chiếu, tâu:

–  Vâng lệnh hoàng thượng, thần đã thảo xong tờ chiếu cầu hiền, xin trình lên để hoàng thượng ngự giám.

Nguyễn Huệ đọc qua, chiếu có những đoạn khiến nhà vua đắc ý gật gù:

“…Trẫm đang ghé chiếu lắng nghe, thức ngủ mong mỏi mà có người tài cao học rộng chưa từng thấy đến. Hay Trẫm ít đức không đáng để phò tá chăng? Hay đang thời đổ nát chưa thể ra phụng sự?... Trẫm nơm nớp lo nghĩ, một ngày hai ngày cũng có hàng vạn sự việc nảy sinh. Ngẫm cho kỹ: cái nhà to lớn – sức một cây không dễ gì chống đỡ, sự nghiệp thái bình – sức một người không thể đảm đương…

… Vậy ban chiếu xuống quan liêu lớn nhỏ và dân chúng trăm họ, ai có tài năng học thuật, mưu hay giúp ích cho đời đều cho phép được dâng thư tỏ bày công việc. Lời có thể dùng được thì đăng, bổ dụng. Lời không dùng được thì để đấy, chớ không ai bắt tội vu khoác. Những người có tài nghệ gì có thể dùng được cho đời thì cho các quan văn võ được tiến cử, lại cho dẫn đến yết kiến tùy tài mà bổ dụng. Hoặc có người từ trước đến nay giấu tài im tiếng không ai biết đều cũng cho phép được đăng thư tự cử, chớ ngại cho thế là “Đem ngọc bán rao”. Ôi! “Trời đất bế tắc thì hiền tài ẩn náu”. Xưa thì đúng vậy, còn nay trời đất thanh bình, chính lúc người hiền gặp gỡ gió mây. Những ai tài đức nên gắng lên để rạng rỡ chốn vương đình, một lòng cung kính để cùng hưởng phúc tôn vinh. Bố cáo gần xa để cùng nghe biết”.

Đọc xong nhà vua lớn tiếng khen:

–  Tịnh phái hầu thật hiểu bụng trẫm. Bài chiếu này đáng được liệt vào hàng tài tử của văn chương nước nhà. Hay lắm! Hay lắm thay!

Ngô Thời Nhậm lạy tạ:

–  Tạ ơn hoàng thượng khen ngợi. Thần chỉ dựa theo ý chỉ của hoàng thượng để thảo ra mà thôi. Lòng không thành thì ý chỉ không cao thâm và không đủ sức thuyết phục. Cho nên dẫu văn chương có trau chuốc cũng không thể lay động người đọc được. Đều là do hoàng thượng thật dạ cầu hiền mà thành.

Nguyễn Huệ nói:

–  Hãy cho phổ biến tờ chiếu này khắp thiên hạ. Việc tiếp nhận hiền tài giao cho khanh và Võ Văn Ước đảm nhiệm. Trước mắt trẫm muốn cải tổ về cơ cấu hành chánh và kinh tế, các khanh ai có sáng kiến gì hãy suy nghĩ thấu đáo rồi trình lên để trẫm xem xét sau đó bắt tay thực hiện.

Phan Huy Ích tâu:

–  Hoàng thượng mưu sự thâm viễn và có tầm nhìn rộng rãi, lại có lượng bao dung, lo lắng cho thiên hạ bá tánh thật là phúc lớn cho nước nhà.

Nguyễn Huệ hỏi:

–  Về việc cải cách hành chánh, quan Hộ bộ Tả thị lang có sáng kiến gì không?

Huy Ích tâu:

–  Muôn tâu, theo ý của hạ thần, địa phương từ huyện trở lên chúng ta nên đặt hai chức quan một văn là Phân Tri, một võ là Phân Suất để cùng nhau cai trị. Quan văn lo hành chánh dân sự, quan võ lo binh bị. Miền Bắc mấy năm gần đây đói kém lại chiến tranh liên miên vì thế dân chúng xiêu dạt khắp nơi, ruộng đồng bị hoang phế, đất thừa mà người thiếu. Thần xin hoàng thượng hạ chiếu khuyến nông để khuyến khích dân lưu cư các nơi trở về cố thổ lo canh tác. Ruộng công nên chia ra cho dân nghèo canh tác để thu thuế theo nghạch công điền.

Nguyễn Huệ nói:

–  Suy nghĩ của khanh rất hợp ý trẫm. Ngô Thời Nhậm hãy thảo một tờ chiếu khuyến nông, Hộ bộ và Công bộ dựa theo đó mà lên kế hoạch thi hành.

Huy Ích thận trọng hỏi:

– Theo ý hoàng thượng thì công cuộc cải cách lần này theo phương châm “dân giàu nước mạnh” hay “nước mạnh dân giàu”?

Nguyễn Huệ hiểu ý, gật gù có vẻ tán thưởng sự sáng suốt của Phan Huy Ích. Nhà vua đáp:

– Trẫm vừa mới lên ngôi, đất nước vừa được thống nhất, giặc ngoại xâm vừa bị đánh đuổi ra khỏi cõi bờ, lẽ ra nên đại xá thiên hạ, hoặc giảm thiểu tối đa việc thu thuế để giúp bá tánh. Nhưng phía Bắc giặc Tàu còn hăm he trở lại trả thù, trong Nam bọn Nguyễn Ánh rước giặc Tây về đánh phá, quốc khố đang rất cần tiền bạc để trang trải cho những cuộc chiến tranh sắp tới. Trẫm muốn dung hòa hai phương châm kia, các khanh liệu việc mà ban hành.

Huy Ích tâu:

–  Chúng thần tuân lệnh.

Nguyễn Huệ hỏi:

–  Trẫm biết lòng người Bắc Hà còn đang oán hận và mang mặc cảm vì bị người Nam Hà cai trị, nay muốn xóa bỏ ý nghĩ phân biệt Bắc, Nam để có được sự thống nhất và đoàn kết thì phải làm thế nào?

Huy Ích đáp:

–  Muôn tâu. Để xóa bỏ hận thù thì không gì bằng tình thương. Đức sáng của bậc đế vương chính là tình thương dành cho muôn dân vậy. Theo lẽ tự nhiên, trên ngó xuống thì tự động dưới sẽ trông lên. Hoàng thượng là người đức độ, mang hoài bảo lớn cho dân tộc, điều này bá tánh thiên hạ ai cũng nhìn thấy. Nay chỉ cần hoàng thượng dùng đức để trị, thấu hiểu lòng người Bắc Hà, thương họ như con, vì hạnh phúc của họ mà lo lắng, được như vậy thì dẫu là người ngoại tộc cũng sẽ sống thuận hòa nói gì đến anh em Việt tộc Bắc, Nam.

–  Làm sao để thấu hiểu lòng người Bắc Hà?

Trần Văn Kỷ lên tiếng đáp thay:

– Lúc trước thần có nghe hoàng thúc Tôn Thất Dục chỉ nhờ vào một buổi nói chuyện với Vô Danh thiền sư mà chế ra được chiếc đàn Độc Huyền cầm đặc trưng cho dân Việt ta…

Nguyễn Huệ tỏ vẻ ngạc nhiên ngắt lời:

–  Việc sáng chế cây đàn Độc Huyền có quan hệ gì đến câu hỏi của ta? Cuộc nói chuyện thế nào?

Trần Văn Kỷ đáp:

–  Muôn tâu. Thiền sư nói rằng “âm thanh là tiếng lòng, là biểu tượng văn hóa của một dân tộc”. Vì vậy muốn hiểu được lòng một dân tộc, một xứ sở hay một địa phương không gì bằng tìm hiểu về âm nhạc truyền thống dân gian của xứ sở đó.

–  Vậy âm nhạc truyền thống của dân gian Bắc Hà là gì?

Phan Huy Ích vốn là người giỏi về âm nhạc nên tâu:

–  Bắc Hà có kinh đô Thăng Long hàng ngàn năm nên có nền âm nhạc cung đình, liệt vào âm nhạc thượng lưu, nhưng nền âm nhạc này có pha trộn với nhạc cổ Trung Hoa và nhạc cung đình Chiêm quốc chứ không thuần Việt. Trung lưu thì có hát ả đào, hát nói, hát chèo dành cho kẻ sĩ trung lưu và người giàu có. Còn dân gian thì có làn điệu Quan họ, mang âm hưởng dân gian từ ngàn xưa, thuở dân Bách Việt chúng ta còn ở tận bên bờ sông Dương Tử, theo bước chân Nam tiến hội tụ về vùng Kinh Bắc và lưu truyền đến bây giờ.

Nguyễn Huệ thích thú nói:

–  Thời còn nhỏ trẫm đã từng theo gánh hát bội ở Quy Nhơn lưu diễn khắp nơi vì vậy rất thích những lối hát mang tính dân gian. Trẫm muốn nghe qua làn điệu Quan họ Kinh Bắc.

Thông thường những bậc vua chúa ít khi muốn nhắc đến thuở hàn vi lao nhọc của mình, nay quần thần nghe nhà vua nhắc đến quá khứ lưu linh của mình một cách thản nhiên khiến ai nấy đều hết sức khâm phục. Phan Huy Ích không dấu được sự cảm phục nên dập đầu thành tâm nói:

–  Hoàng thượng là bậc nhân quân xưa nay hiếm có. Hạ thần khâm phục tận đáy lòng. Nếu hoàng thượng muốn chứng kiến lễ hội truyền thống của dân gian miền Kinh Bắc thì ngày mai chính là ngày hội lớn ở đó, chỉ hiềm phải nhọc lòng hoàng thượng xa giá rời cung mà thôi.

Nguyễn Huệ nói:

–  Ta từng nghe Hữu Cung hoàng hậu nói về những lễ hội truyền thống của dân gian vùng Kinh Bắc cùng những di tích văn hóa cổ xưa của dân Âu Lạc ở đó. Ta muốn ghé thăm để lễ tạ tổ tiên.

Huy Ích mừng rỡ nói:

–  Nếu hoàng thượng chịu xa giá rời cung thì còn gì hay bằng. Thần sẽ cho người thông tri để quan trấn thủ chuẩn bị tiếp giá.

Nguyễn Huệ xua tay:

–  Không cần. Trẫm sẽ cùng các khanh cải dạng như dân thường để dự hội. Hãy để dân chúng dự hội một cách tự nhiên, như vậy mới nhìn rõ được sinh hoạt bình thường của họ.

–  Hoàng thượng anh minh!

Trần Văn Kỷ tâu:

–  Theo ý thần, đất Kinh Bắc vốn là nơi phát tích nền Phật giáo Luy Lâu của nước ta, nhơn dịp rằm tháng Giêng, hoàng thượng nên ngự giá đến chùa Dâu, tổ chức một lễ cầu siêu lớn để những vong hồn tử sĩ trong cuộc chiến vừa qua được siêu thoát, cũng là một cách giải bớt sát nghiệp cho quân đội Tây Sơn.

Ngô Thời Nhậm biết trong ý của Trần Văn Kỷ muốn giải bớt sát nghiệp cho đức vua nên phụ họa:

–  Thần cũng có ý định tâu xin hoàng thượng việc này.

Nguyễn Huệ phán:

–  Vậy trẫm lệnh cho những ngôi chùa lớn trong thiên hạ lập đàn chay cầu siêu cho tử sĩ trong dịp rằm tháng Giêng này.

–  Chúng thần tuân chỉ.

Nhà vua nói thêm:

–  Ngô Văn Sở và Phan Văn Lân thu xếp ngày mai đi cùng trẫm. Hai khanh cũng phải tìm hiểu tâm tình người Bắc Hà để mai này biết mà chăm lo cho họ.

Ngô Văn Sở và Phan Văn Lân hiểu ý nhà vua nên mừng rỡ lạy tạ.

***

Họ Hồng Bàng, thủy tổ dân Âu Lạc với mười tám đời vua Hùng Vương trị vì nước Văn Lang suốt hai ngàn năm. Thời Hùng Vương, nước Văn Lang chia ra mười lăm bộ, trong đó có bộ Vũ Ninh chính là vùng Kinh Bắc, là trung tâm kinh tế, thương mại và là cái nôi của nền văn hóa cổ của người Âu Lạc. Đến đời vua An Dương Vương, sau khi thống nhất các bộ lạc Bách Việt đã xây thành Cổ Loa ở Phong Khê, đất Kinh Bắc trở thành kinh đô của Âu Lạc với nhiều di tích cổ còn lưu lại đến bấy giờ như đền Thánh Gióng, mộ vị thủy tổ Kinh Dương Vương, đền thờ Bố Lạc Long Quân và Mẹ Âu Cơ, theo truyền thuyết là người đã sinh ra trăm trứng nở trăm con, từ đó sinh sôi nẩy nở thành họ Hồng Bàng, dựng nên nước Âu Lạc. Cũng vì được sinh ra trong cùng một bọc trứng, người Âu Lạc xem nhau như anh em ruột thịt và gọi nhau bằng hai tiếng đồng bào.

Quan trấn thủ Kinh Bắc là Nguyễn Cảnh Thước nhận được mật báo nên đã âm thầm chuẩn bị mọi thứ để bảo vệ phái đoàn của nhà vua về thăm lễ hội. Nguyễn Huệ và đoàn tùy tùng gồm Phạm Cần Chánh, Tín Nhi, Ngô Văn Sở, Phan Văn Lân, Phan Huy Ích… và một số vệ sĩ, hôm nay vận áo dài the, đội khăn đóng y như hàng vạn dân làng khắp nơi về dự hội bên đồi Lim ở Tiên Du. Nhìn các thiếu nữ đi dự hội mặc áo tứ thân với yếm đào và dây thắt lưng đủ màu sắc, Nguyễn Huệ thích thú nói với Phan Huy Ích đi cạnh:

–  Trang phục của những người đi dự hội thật đẹp mắt, nhất là chiếc áo nhiều lớp với thắt lưng nhiều màu sắc và chiếc khăn đội đầu của các thiếu nữ.

Phan Huy Ích giải thích:

–  Đó là chiếc áo tứ thân, mớ ba với ba lớp áo, hoặc mớ bảy với bảy lớp áo, kết hợp bởi nhiều màu sắc. Đây là chiếc áo lễ hội truyền thống vùng Quan họ. Chiếc khăn đội đầu của các cô gái gọi là khăn mỏ quạ, chiếc nón trên tay họ có tên là nón quai thao.

Tín Nhi nói:

–  Trông cách ăn mặc và lối chào hỏi của những nam nữ đi dự hội vừa cung kính vừa thân thiện, thật là thú vị. Tôi không thấy có sự cách biệt nam nữ ở đây.

Huy Ích giải thích:

–  Trong nền văn hóa cổ của dân Bách Việt, mối quan hệ giữa nam và nữ rất bình đẳng, khác hẳn với quan niệm trọng nam khinh nữ theo kiểu Hán nhân. Lát nữa chúng ta sẽ nghe trong những câu hát Quan họ đối đáp giao duyên, họ gọi nhau bằng anh Hai, chị Ba… một cách rất tôn trọng nhưng không kém phần tình tứ và âu yếm.

Nguyễn Huệ hỏi:

–  Sao lại gọi Kinh Bắc là vùng Quan họ?

–  Tương truyền mấy ngàn năm trước, vùng Kinh Bắc là nơi giao lưu văn hóa và kinh tế của dân Bách Việt với người Hán, người Ấn Độ, người Miến Điện nhờ vào con sông Tiêu Tương, khởi nguồn từ Tây Tạng chảy qua Trung Hoa về ngang Kinh Bắc này để ra biển Đông. Vật đổi sao dời, ngày nay dòng sông Tiêu Tương không còn, sông Dâu trở thành sông Đuống, nhưng điệu hát Quan họ của những người dân Âu Lạc cổ xưa sống hai bên bờ sông Tiêu Tương vẫn còn lưu truyền cho đến nay. Do đó mà làn điệu Quan họ mang đậm nét tâm linh đặc thù thù của nền minh triết Việt cổ xưa.

–  Lúc trước ta có nghe ở Tửu Quán Bên Đường bên cạnh Hoàng Đế thành một bài ca về chàng Trương Chi, họ cho rằng làn điệu Quan họ mang âm hưởng của những khúc hát và tiếng sáo Trương Chi có đúng vậy chăng?

Phan Huy Ích thích thú giải thích:

– Thật ra thì chàng Trương Chi thời đó cũng giống như một “liền anh” bậc nhất của làn Quan họ hôm nay vì giọng ca rất tuyệt vời của chàng ta. Sở dĩ người thời nay coi Trương Chi là thủy tổ làn Quan họ chỉ vì những câu hát dân gian thời đó đã trở nên bay bổng và được yêu thích khắp nơi nhờ vào giọng ca và tiếng sáo tuyệt vời của ông ta, thêm vào đó là tình cảm của người dân Quan họ dành cho chàng trai đa tài mà xấu số kia. Có thể nói sau Trương Chi, những làn điệu dân ca của người Âu Lạc đã phong phú và lan truyền rộng rãi hơn trong dân chúng. Người Kinh Bắc có lẽ nhờ vào thổ nhưỡng nên làn hơi của họ đã làm tăng thêm vẻ đẹp, vẻ tình tứ mượt mà và sâu lắng của câu ca. Vì thế mà Kinh Bắc trở thành cái nôi của làn Quan họ.

Tín Nhi hỏi:

–  Liền anh, liền chị là gì?

–  Những người hát Quan họ nam thì gọi là liền anh, nữ gọi là liền chị.

Vừa giải thích, Phan Huy Ích vừa hướng dẫn mọi người thăm qua khắp các trò chơi của lễ hội. Nguyễn Huệ khen:

–  Lễ hội ở đây thật tưng bừng và đầy đủ các trò chơi cho bà con. Hay lắm! Nên cổ vũ và giúp đỡ các địa phương tiếp tục lưu giữ và phát triển các truyền thống văn hóa dân gian quý báu này.

Phan Huy Ích nói:

–  Trước kia hội đồi Lim không quy mô như bây giờ. Cho đến khoảng ba mươi năm trước, quan trấn thủ Thanh Hoa là Nguyễn Đình Diễn gốc người làng Đình Cả, tổng Nội Duệ, Kinh Bắc, đã dùng bổng lộc và của cải của mình cấp cho địa phương này để mở rộng và phát triển nội dung hội hè cũng như tu sửa đình làng, lăng miếu. Từ đó mà hội đồi Lim ngày một đông đảo và phong phú về cả hình thức lẫn nội dung.

Lúc ấy đoàn người đến một lán Quan họ, Huy Ích ra dấu dừng lại để nghe các “bọn nam” và “bọn nữ” hát Quan họ giao duyên đối đáp nhau. Trang phục mộc mạc nhưng rất độc đáo đã làm các cô gái có nét đẹp lạ kỳ, thêm vào làn điệu Quan họ mượt mà, tình tứ khiến Nguyễn Huệ đứng nghe đến xuất thần. Đến khi bài hát chấm dứt ông mới sực tỉnh và nức nở khen:

–  Thật duyên dáng các chàng trai và các cô gái kia và cũng thật là hay và tình tứ làm sao cái làn điệu Quan họ. Nó có nét gì đó thật thân thiết và gần gũi với ta, mặc dầu ta chỉ mới nghe lần đầu.

Phan Huy Ích giải thích:

–  Cảm nhận của Ngài (lúc này họ tránh dùng từ Hoàng thượng) thật nhạy bén và chính xác. Âm hưởng của Quan họ mang đậm nét tâm linh đặc thù của dân Lạc Việt cổ, cho nên những ai mang dòng máu Việt đều có trong tiềm thức, trong tâm linh mình không ít thì nhiều âm hưởng đó. Người mang nặng tình dân tộc, nói đúng hơn là người có nhiều dân tộc tính sẽ có sự đồng cảm mau chóng và sâu đậm hơn với giai điệu Quan họ, dù là người xứ Bắc hay đã lưu lạc từ lâu vào tận trong Nam xa xôi.

Nguyễn Huệ mỉm cười đùa:

–  Hay tổ tiên ta gốc người Kinh Bắc như Hữu cung Ngọc Hân?

Cả đoàn cười vui vẻ. Nguyễn Huệ tiếp:

–  Ta muốn tặng Hữu Cung hoàng hậu một bộ trang phục Quan họ này.

Nguyễn Cảnh Thước đi phía sau lên tiếng:

–  Thưa Ngài, việc đó tôi xin được đảm trách.

Họ tiếp tục đi xem các thuyền rồng trên sông và nghe những câu hát Quan họ đối đáp giao duyên giữa nam và nữ đến lúc trăng lên cao mới ra về.

Đêm đó nhà vua về ngự tại thành Kinh Bắc. Hôm sau Trấn thủ Nguyễn Cảnh Thước tiền hô hậu ủng hộ tống nhà vua về xứ Thuận Thành để tế mộ Kinh Dương Vương. Ngôi mộ được xây bên bờ sông Đuống, nơi có cuộc đất hội đủ tứ linh long, lân, quy, phụng của phong thủy. Sau khi lễ bái vị tổ của dân tộc, vua Quang Trung bảo:

–  Các khanh hãy nói rõ cho ta nghe về vị thủy tổ này.

Phan Huy Ích kể:

–  Theo huyền sử Việt, Đế Minh là cháu ba đời của vua Thần Nông, đi tuần thú phương Nam đến núi Ngũ Lĩnh, đóng quân tại đó rồi lấy con gái bà Vụ Tiên, sinh được một người con trai tư chất thông minh đặt tên là Lộc Tục. Sau Đế Minh truyền ngôi cho con trưởng là Đế Nghi, làm vua phương Bắc, phong cho Lộc Tục làm vua phương Nam chính là Kinh Dương Vương. Kinh Dương Vương đặt tên nước là Xích Qủy, chọn đất Kinh Bắc này làm kinh đô, truyền mười tám đời Hùng Vương, mãi đến khi Thục Phán An Dương Vương đánh thắng Âu Lạc mới dời kinh đô về đất Cổ Loa, xây thành, chống lại Triệu Đà ở Nam Quận. Nhưng đến thời Bắc thuộc, nhà Hán lại trở về Kinh Bắc dựng thành Luy Lâu để đặt bộ máy cai trị. Thời ấy, địa bàn nước Xích Qủy của vua Kinh Dương Vương rất rộng lớn, phía Bắc là miền đồng bằng thuộc lưu vực sông Dương Tử giáp Động Đình Hồ, phía Nam giáp nước Lâm Ấp, Tây giáp đất Ba Thục, Đông giáp biển Đông. Kinh Dương Vương lấy con gái Động Đình Quân là Long Nữ, sinh ra Sùng Lãm. Sau này Sùng Lãm kế vị, xưng là Lạc Long Quân. Lạc Long Quân lấy con gái của anh họ mình là vua Đế Lai (Đế Lai là con của Đế Nghi), tên là Âu Cơ. Âu Cơ được sinh ra bên bờ Âu Giang, nơi có hàng ngàn chim Âu sinh sống, vì vậy Đế Lai lấy tên chim Âu đặt cho con gái. Cũng có lẽ vì thế mà có truyền thuyết Mẹ Âu Cơ sinh ra trăm trứng nở trăm con trai tạo thành giống Bách Việt của chúng ta với nhiều bộ tộc nhỏ. Theo truyền thuyết thì vua Hùng đầu tiên chính là cháu nội của vị tổ Kinh Dương Vương này.

Nhà vua nghe kể đến đây, hỏi ngay:

–  Vậy biên giới nước ta xưa kia lên đến tận sông Dương Tử?

–  Dạ, đúng thế, tâu hoàng thượng. Cho đến đời Triệu Đà, sau khi chiến thắng vua An Dương Vương đã sáp nhập tất cả các bộ tộc Bách Việt lại với nhau lập nên nước Nam Việt và tự xưng Nam Việt Vũ Vương, đóng đô ở Phiên Ngung tức Quảng Châu ngày nay, đứng ngang hàng với nhà Hán. Cương thổ nước Nam Việt thời bấy giờ phía Bắc giáp núi Nam Lĩnh, gồm cả biên giới phía bắc của Quảng Đông và Quảng Tây, Đông đến Mân Việt, Phúc Kiến, phía Tây giáp Dạ Lang, Vân Nam và phía Nam đến Hoành Sơn của Lâm Ấp. Sau nhà Triệu bị nhà Hán tiêu diệt, dân ta phải chịu ách một ngàn năm Bắc thuộc, vùng đất Lưỡng Quảng của chúng ta đã bị người Hán chiếm lấy.

Ánh mắt vua Quang Trung chợt lóe lên một tia sáng, ông hỏi:

–  Từ sau Triệu Vũ Vương đã có ai dám đánh lại nước Trung Hoa và sánh ngang hàng với họ chưa?

Huy Ích tâu:

–  Đời Lý có Lý Thường Kiệt đánh sang nước Tống, đời Trần có Trần Hưng Đạo đánh quân Nguyên rồi đến Lê Thái Tổ đánh giặc Minh…

Nhà vua ngắt lời:

–  Nhưng đã có ai dám đánh sang để chiếm lấy đất của Tàu chưa?

–  Muôn tâu, việc này thì chưa có ai làm.

Đôi mắt vua Quang Trung lại lóe lên tia sáng cương quyết, ông hăng hái nói:

–  Chưa có ai làm vậy để trẫm làm. Chúng ta phải đòi lại đất hai tỉnh Quảng Đông và Quảng Tây về cho nước Việt.

bandonhatrieu

Phạm Cần Chánh đứng bên cạnh hừng chí lên tiếng:

–  Hoàng thượng đã được Hữu Cung hoàng hậu tặng danh hiệu “Cổ kim bách thắng Long Nhương tướng”, việc đánh sang Tàu đòi đất Lưỡng Quảng tất phải thắng lợi. Thần xin lãnh ấn tiên phuông để đánh cho chúng chích luân bất phản, phiến giáp bất hoàn như vừa rồi để từ nay bọn người Hán hết còn dám khinh thị chúng ta là Man di nữa.

Dường như vị thủy tổ Kinh Dương Vương chợt hiện về với con cháu khiến mọi người thấy tinh thần phấn chấn, hào khí bồng bột dâng cao nên đồng thanh nói:

–  Hoàng thượng ra quân, chúng thần dẫu chết cũng sẽ một tiến không lùi.

Vua Quang Trung thấy các quan hăng hái như vậy trong lòng rất đẹp. Ông nói:

–  Nếu toàn dân Việt đoàn kết lại, việc đánh thắng bọn Tàu có khó gì. Các khanh hãy xem, dân Mãn Thanh không đông bằng dân Việt, vậy mà chúng đô hộ người Hán hơn trăm năm nay rồi. Hãy dẹp bỏ lòng tự ti, thống nhất ý chí thành một khối thì giặc nào ta cũng thắng được cả. Huống chi triều đình Mãn Thanh hiện nay đang còn phải nơm nớp lo sợ người Hán, người Hồi, người Mông Cổ… nổi lên đánh đổ. Ta đem một khối thống nhất đi đánh một liên minh rệu rã thì cái thế tất thắng đã rõ ràng rồi.

Bá quan đồng thanh:

–  Chúng thần sẽ tạc dạ những lời vàng ngọc này.

Phan Huy Ích nhìn các đồng liêu phân tích thêm:

–  Đúng như lời hoàng thượng vừa dạy, đối với người Hán, chúng ta không có gì để tự ti cả như Phạm Thiết Sóc nghĩ. Suốt dòng lịch sử Trung Quốc, số phận người Hán cũng long đong, nhục nhã vì bị các dân tộc phương Bắc ức hiếp, đô hộ không biết bao nhiêu lần.

Phạm Cần Chánh thích thú giục:

–  Phan thị lang kể hết ra cho chúng tôi nghe đi.

Huy Ích vui vẻ tiếp:

–  Trong các triều đại Trung Quốc, dù Tần Thủy Hoàng đã cho xây Vạn Lý Trường Thành để che chắn mặt Bắc, nhưng triều đại nào của họ cũng bị các Rợ phương Bắc quấy nhiễu và buộc phải nộp cống. Nhà Hán thì có người Hung Nô, tức Rợ Hồ. Các vua Hồ, còn gọi là Thiền Vu, quá mạnh, đến độ các vua Hán ngoài việc triều cống rất nhiều vàng bạc, châu báu, còn phải đem cả vợ yêu của mình nộp cho họ. Đó là trường hợp của Hán Nguyên Đế, đã đem Vương Chiêu Quân, một trong Tứ đại mỹ nhân Trung Quốc, sang cống cho Thiền Vu Hồ Hán Tà, tạo nên một thiên tình sử đắng cay cho người Trung Quốc. Đến đời Tây Tấn, người Hán lại bị rợ Ngũ Hồ gồm Hung Nô, Yết, Mông Cổ, Mãn Châu và Tây Tạng đồng loạt vượt Trường thành xâm chiếm lưu vực sông Hoàng Hà và phần lớn Trung Nguyên. Thiền Vu Hung Nô là Lưu Uyên mạnh nhất trong Ngũ Hồ nên chiếm gần như toàn bộ Trung Quốc chỉ còn phần đất miền Nam sông Dương Tử là của người Hán. Lưu Uyên bỏ quốc hiệu Hán, lập nên triều đại mới là nhà Triệu, thiết lập nền cai trị khắc nghiệt đối với người Hán. Giai đoạn đó Trung Quốc bị chia cắt thành năm nước nhỏ chiến tranh liên miên, cuối cùng còn lại hai nước, đó là thời Nam Bắc Triều.

Vua Quang Trung nói:

–  Đó cũng là giai đoạn chúng đô hộ nước ta sau khi thắng nhà Triệu?

–  Tâu vâng. Thời đó, phần đất Đông Ngô của Trung Quốc không bị rợ Hung Nô xâm chiếm nên họ vẫn đủ mạnh để giữ vững nền đô hộ nước ta.

–  Kể tiếp đi.

Huy Ích nói tiếp:

–  Sau khi Lý Thế Dân thống nhất Nam Bắc Triều lập nên nhà Đường, nước Trung Hoa vẫn bị Rợ Hồ quấy nhiễu, các vua Đường phải tiến cống vàng bạc hàng năm để mua lấy sự thanh bình. Tuy vậy, sau loạn An Lộc Sơn, nhà Đường suy yếu, Rợ Hồ nhơn cơ hội xâm chiếm Trung Nguyên, vơ vét vô số tài sản và giết chết gần nửa số dân Trung Quốc.

Nhà Đường suy, Trung Quốc bị chia thành năm nước gọi là thời Ngũ Đại. Khi Triệu Khuông Dẫn diệt Ngũ Đại lập nên nhà Tống thì ở phương bắc rợ Khiết Đan và Tây Hạ cũng lớn mạnh. Khiết Đan tiêu diệt các rợ khác lập nên nước Liêu và có ý dòm ngó Trung Nguyên. Các vua Tống lại phải chịu nhục nộp cống cho nước Liêu để cầu hòa, còn phải cắt bảy trăm dặm đất để dâng cho nước Liêu. Số cống phẩm hàng năm lên đến hai mươi lăm vạn lạng bạc và hai mươi lăm vạn tấm lụa.

Mọi người kinh ngạc la lên:

–  Nhiều đến như vậy sao? Vậy thì quốc khố nước Tống còn gì?

Huy Ích nói:

–  Cho nên dân Tống lúc ấy rất nghèo khổ. Chịu nhục với nước Liêu, Tống gỡ thể diện bằng cách đem quân đánh Tây Hạ và Đại Việt, nhưng Tống bị thiệt mất gần sáu mươi vạn quân ở Tây Hạ, còn ở Đại Việt, quân Tống bị Lý Thường Kiệt đánh một trận tan tành ở sông Như Nguyệt, chết mất hai vạn quân.

Vua Quang Trung nói:

–  Và Lý Thường Kiệt đã viết nên bản tuyên ngôn độc lập đầu tiên cho nước nhà trong cuộc chiến đó.

–  Tâu vâng.

Tín Nhi nói:

–  Bọn Tống đụng đâu bị thê thảm đó thì sống sao nổi nữa.

Huy Ích nói:

–  Đúng là không sống nổi thật. Vì nước Tống bấy giờ lâm vào cảnh họa vô đơn chí. Họa nước Liêu chưa hết thì Bắc phương lại có một bộ tộc khác là Nữ Chân lớn mạnh lên và diệt nước Liêu, lập nên nước Kim. Kim quốc diệt Liêu xong đem quân đánh Tống và chiếm nửa giang san Trung Quốc, bắt vua Tống về Kim quốc, lập chính quyền bù nhìn để cai trị gọi là Bắc Tống. Cao Tôn nhà Tống chạy vào Nam lập thành nước Nam Tống, đánh nhau với Bắc Tống của Kim quốc. Sau quân Kim quá mạnh, Nam Tống lại phải chịu nhục cầu hòa, nạp cống hàng năm. Cống phẩm Nam Tống phải nộp cho Kim quốc là mười vạn lạng bạc và mười vạn tấm lụa. Vua Tống còn phải gọi vua Kim bằng bác và xưng cháu. Có thể nói thời bấy giờ, nước Trung Hoa trở thành bán thuộc địa của Kim quốc. Nhưng câu họa vô đơn chí vẫn đeo đẳng số phận nhân dân Trung Quốc khi bộ tộc Thát Đát của Thành Cát Tư Hãn thành hình lập nên đại đế quốc Mông Cổ, tiêu diệt nước Kim và chiếm trọn lãnh thổ Trung Hoa, thiết lập nên nhà Nguyên, đặt nền đô hộ ở Trung Quốc hơn trăm năm với sự đối xử hết sức phân biệt và khắc nghiệt giữa người thống trị và kẻ bị trị.

Cần Chánh hỏi:

–  Bọn Mông Cổ hung hăng như vậy nhưng khi tiến sang Đại Việt đã bị thảm bại chạy dài phải không?

–  Đúng vậy. Và không chỉ bại một, mà đến ba lần. Sau khi bị Hưng Đạo Vương đánh bại lần thứ ba, đế quốc Mông Cổ suy yếu dần. Chu Nguyên Chương nổi dậy đuổi được Mông Cổ về sa mạc, lập nên nhà Minh. Dân Trung Quốc sống thanh bình được gần ba trăm năm thì lại bị người Mãn Châu đánh chiếm và đặt nền đô hộ từ gần một thế kỷ rưỡi nay. Dấu ấn sâu đậm nhất trong lòng người Trung Quốc lần này là việc bị người Mãn Châu bắt bỏ kiểu tóc búi tó, cạo đầu phía trước và thắt hai bím dài sau lưng theo tục lệ người Mãn.

Tín Nhi hỏi:

– Như vậy so với Đại Việt nhỏ bé chúng ta, số phận của tên không lồ Trung Quốc còn bi đát và nhục nhã hơn nhiều phải không?

Phan Huy Ích cảm thán:

–  Có thể nói, hai dân tộc, một lớn một nhỏ, nhưng số phận truân chuyên thì gần như nhau.

Vua Quang Trung chợt hỏi:

–  Khanh nói Đế Minh phong Đế Nghi làm vua phương Bắc, như vậy nước của Đế Nghi có quan hệ thế nào với nước Trung Quốc của người Hán?

Huy Ích tâu:

–  Đế Nghi truyền ngôi cho con là Đế Lai. Đế Lai sau khi lên ngôi, nhớ đến chuyện tuần thú phương Nam gặp được tiên của ông nội mình là Đế Minh nên giao nước cho viên cận tướng là Xuy Vưu thay mình trông coi, còn ông dẫn con gái yêu là Âu Cơ tuần du xuống phương nam, tạo nên mối duyên lành giữa tổ Lạc Long Quân và Mẹ Âu Cơ của chúng ta. Trong khi đó ở phương Bắc, người Hán, một sắc dân du mục bên kia bờ Hoàng Hà, dưới sự lãnh đạo của Hoàng Đế đã vượt sông đánh chiếm đất nước của Đế Lai. Xuy Vưu giao chiến với Hoàng Đế một trận quyết định ở Trác Lộc nhưng thất bại, quân hai bên chết đến ức vạn. Trận đánh kinh hoàng đó còn lưu truyền mãi đến nay qua câu nói: “Tích nhựt Hoàng Đế chiến Xuy Vưu. Trác Lộc kinh kim vị nhược hưu”. Từ đó người Hán thôn tính dần lãnh thổ Trung Nguyên của Đế Lai, lập nên nước Trung Quốc. Một số dân Việt bỏ chạy vào phương Nam tìm lại anh em, đại đa số ở lại sống chung với người Hán. Với bản tính hung hăng của dân du mục, nước Trung Quốc của Hán tộc ngày một lớn mạnh, đẩy dần dân ta vào phương Nam và thừa hưởng di sản văn hóa nông nghiệp của dân Bách Việt. Đặc biệt hơn hết là nền Minh triết Việt Nho.

Chợt nhớ đến bài chiếu lên ngôi, vua Quang Trung hỏi:

– Ta nghe trong bài Bình Ngô Đại Cáo, Nguyễn Trãi đã đem những triều đại của Trung Hoa và Đại Việt ra để so sánh, trong đó có cả nhà Triệu sánh với nhà Hán, tại sao trong bài chiếu lên ngôi, Thời Nhậm chỉ ghi từ các đời Đinh, Lê, Lý, Trần?

Phan Huy Ích thất sắc vội tâu:

–  Muôn tâu. Hôm thảo chiếu, Ngô huynh có phân vân về điều này, chỉ vì trong cuốn Việt Sử Tiêu Án, nhạc phụ của hạ thần đã đưa nhà Triệu vào phần ngoại sử cho nên…

Nhà vua ngạc nhiên ngắt lời:

–  Sao lại liệt nhà Triệu vào ngoại sử?

Huy Ích lo sợ tâu:

–  Nhạc phụ cho rằng vì Triệu Vũ Vương là người Hán đem quân thôn tính các bộ lạc Bách Việt lập nên nhà Triệu. Tuy Triệu Vũ Vương đã lấy vợ Việt, áp dụng cách trị nước và mọi sinh hoạt khác theo phong tục dân Việt, nhưng vẫn phải coi nhà Triệu như là một sự đô hộ, là ngoại sử của Đại Việt. Cũng vì việc này, giữa nhạc phụ và Ngô huynh đã sinh ra xung khắc đến mức giận nhau tạo cớ cho người đời vu oan Ngô huynh đã gây nên cái chết cho nhạc phụ trong vụ án Nhâm Tý lúc trước.

–  Thời Nhậm đã không đồng ý với cha, sao trong chiếu vẫn chỉ ghi từ nhà Đinh?

Huy Ích lo sợ ngần ngại đáp:

–  Muôn tâu. Ngô huynh nghĩ lời chiếu chỉ nên nhắc đến các giai đoạn độc lập gần đây, không nhắc đến nhà Triệu vì không muốn đụng đến thời kỳ ngàn năm nô lệ.

Nhà vua biết Huy Ích không dám nói ra vấn đề Ngô Thời Nhậm tránh né vì sợ làm tủi vong linh của cha mình. Ông gật gù tỏ vẻ thông cảm hỏi:

–  Ý khanh về vấn đề này thế nào?

Huy Ích tâu:

–  Thần cũng không đồng ý với nhạc phụ. Vì lẽ tuy Triệu Đà là người Hán nhưng ông ta đã lấy vợ Việt và bị Việt hóa từ con người cho đến cách trị nước. Các đời vua kế tiếp của nhà  Triệu đều có dòng máu Việt trong người. Huống chi nếu chúng ta từ chối nhà Triệu thì phải từ chối luôn cả triều đại của Thục Phán An Dương Vương, vì ông ta là người nước Thục. Vì vậy theo ý hạ thần, những cuộc chiến tranh thời đó giữa Triệu Đà và An Dương Vương cũng chỉ là cuộc nội chiến giữa các bộ tộc Bách Việt, cuối cùng dẫn đến sự thống nhất thành nước Nam Việt, giống như hiện tình đất nước chúng ta chia rẽ thành Nam Hà, Bắc Hà, đến khi hoàng thượng đứng ra thống nhất trở lại thành một mối.

Vua Quang Trung tươi cười khen:

–  Hay lắm. Trẫm đang có ý định đòi lại đất Lưỡng Quảng về cho Đại Việt, nếu gạt bỏ nhà Triệu ra khỏi chính sử thì lấy cớ gì để yêu sách với Càn Long.

–  Dạ, hoàng thượng.

Nhà vua lại hỏi tiếp:

– Trẫm nghe nói nhà Lê hàng năm có lệ phải tiến cống người vàng cho nhà Minh để đền mạng Liễu Thăng và vẫn giữ lệ ấy cho đến nay phải không?

–  Dạ đúng vậy.

Ánh mắt vua Quang Trung long lên một tia sáng cương quyết, ông cười gằn:

–  Bọn nhà Minh vì ngân khố bị các rợ phương Bắc vét sạch nên quay sang áp bức dân ta. Chúng ta vừa giết chết Hứa Thế Hanh và vô số tướng lãnh khác, chẳng lẽ cũng phải đền cho chúng những con người vàng ấy nữa hay sao. Hừ! Từ nay trẫm sẽ bỏ cái lệ cống vàng vô lý đó xem Càn Long làm gì được chúng ta cho biết.

Sự hân hoan và thán phục hiện rõ trên nét mặt bá quan. Họ tin rằng một khi vua Quang Trung đã khẳng định, việc tất phải được thực hiện và thực hiện thành công.

*

Rời lăng mộ Kinh Dương Vương, vua Quang Trung được các quan đưa đến tế mộ của Lạc Long Quân và Âu Cơ cách đó không xa. Sau khi tế mộ các vị thủy tổ, vua Quang Trung ngự đến chùa Dâu để chủ trì lễ cầu siêu. Đây là ngôi chùa cổ nhất Đại Việt, được xây dựng vào thế kỷ thứ ba. Đến thế kỷ thứ sáu, Thiền sư Tì Ni Đa Lưu Chi từ Ấn Độ sang Trung Hoa rồi qua Đại Việt đã dừng lại ở đây và khai sáng Thiền phái Tì Ni Lưu Chi. Phật giáo Đại Việt bắt đầu phát triển mạnh từ ngôi chùa Dâu này.

Trước sân chùa, dưới chân tòa bảo tháp, tăng chúng đã cho lập một đàn cầu siêu lớn. Bấy giờ tuy đầu Xuân nhưng bầu trời khắp vùng Thăng Long tứ trấn rất âm u có lẽ do khói lửa chiến tranh và âm hồn của bao nhiêu vạn người chết còn vương vất cõi trần tụ lại. Sau lễ đọc kinh cầu siêu của các vị đại sư chùa Dâu, vua Quang Trung được mời lên đàn để đọc bài văn tế vong hồn tử sĩ do Phan Huy Ích soạn. Nhà vua hôm nay mình khoác áo đạo sĩ, đầu đội mũ tam toà, cất giọng như chuông đồng nhưng âm hưởng rất bi thương đọc bài văn tế có đoạn như sau:

“… Hỡi các oan hồn tử sĩ phương Bắc! Trẫm biết các ngươi chỉ vì tuân lệnh bề trên nên phải thác oan nơi xứ người do đó âm hồn chẳng biết về đâu, vất vưởng không nơi nương tựa. Nay Trẫm lập đàn bên sông cúng tế, cho thu nhặt hài cốt các ngươi chôn cất thành gò đống, lập miếu để thờ, không phân biệt các ngươi là người phương Bắc, lòng thương của Trẫm như nhau…

Thương thay! Hỡi các oan hồn còn vất vưởng trên kia, nay Trẫm thể theo lòng nhân của trời đất, đích thân đốt nén hương này hòa quyện cùng lòng thành thương xót, đưa tiễn các ngươi trở về nơi hương chỉ, trở lại với đất tổ quê cha để còn đầu thai hóa kiếp.

Thượng hưởng”

Khi nhà vua đọc dứt bài văn tế, lạ thay bầu trời Thăng Long tứ trấn đang âm u bỗng trở nên quang đãng, rực rỡ nắng xuân. Hàng ngàn người có mặt tại sân chùa đều cho rằng lòng thành của nhà vua đã khiến cho những oan hồn của mấy mươi vạn quân Thanh và tử sĩ Đại Việt cảm thông và siêu thoát.

***

Tám trăm quân kỵ dưới quyền chỉ huy của Tôn Khánh Thành đã tìm cách băng rừng vượt suối hộ tống Tôn Sĩ Nghị chạy về được bên kia biên giới của nước mình. Về tới Gia Lâm thuộc Quảng Tây, vì tuổi già sức yếu lại phải bôn ba suốt mấy ngày đêm, Tôn Sĩ Nghị gần như kiệt sức, phải nằm dưỡng bệnh một thời gian mới tạm hồi phục. Liên tục những ngày sau đó, vua tôi Lê Chiêu Thống và gia quyến cùng một số bồi thần cũng lần lượt chạy qua biên giới, được quan quân nhà Thanh đưa đến Gia Lâm để tị nạn. Gặp lại Lê Chiêu Thống, Tôn Sĩ Nghị nói bằng một giọng căm tức:

–  Ngày nào chưa diệt được tên Nguyễn Quang Bình thì ta nhất định không chịu thôi[1].

Chiêu Thống buồn rầu nói:

–  Đa tạ Tôn đại soái đã có lòng chiếu cố. Chỉ bởi tôi có số truân kiểu mới khiến cho Tôn đại soái phải một phen lao nhọc, hao quân. Nay chúng tôi chỉ xin tạm lánh nạn ít lâu rồi sẽ tự thân trở về cố thổ mưu đồ phục quốc, không dám phiền lụy đến thiên triều nữa.

Tôn Sĩ Nghị thấy Chiêu Thống như đã mất hết niềm tin đối với thiên triều thì trấn an:

–  Quốc vương đừng vội nản chí. Ta sẽ tấu cùng hoàng thượng xin cử đại binh chín tỉnh để sang báo thù bọn Tây Sơn. Tạm thời Quốc vương cứ ở lại Gia Lâm mà chờ tin.

Lê Chiêu Thống đang lúc đường cùng nên phải nghe theo. Vài hôm sau, Thang Hùng Nghiệp cùng bọn Phan Khải Đức và binh lính thiên triều lục tục vượt biên giới chạy về nước, người nào kẻ nấy chỉ còn một tấm thân tàn ma dại, quần áo rách bươm vì phải vượt núi băng rừng để thoát khỏi sự truy lùng của quân Tây Sơn. Tôn Sĩ Nghị viết ngay một tờ biểu chương tâu trình việc đại quân bị bại trận để gởi về Yên Kinh chịu tội cùng vua Càn Long. Ông cũng không quên sai người mang thật nhiều châu báu đến đút lót cho Hòa Khôn, nhờ ông ta gỡ tội. Tời biểu tạ tội có vài đoạn như sau:

” … Kinh thành nhà Lê đã thu phục, phần đất phía Nam tiếp giáp với Tây Sơn vua Lê tự cai quản lấy. Cứ theo lời cáo tri của quốc vương thì ngày mồng 2 tháng Giêng năm nay, quân Tây Sơn lại hưng khởi. Quan quân của thần trước kia thắng giặc Tây nhiều trận liên tiếp, vậy mà quốc vương Lê Duy Kỳ mới nghe Nguyễn Huệ thân đến đã vội vàng tay bồng con thơ, tay dắt mẹ già bỏ chạy qua sông Phú Lương. Dân chúng thấy vậy hoảng sợ trốn hết…”

“…Thần cùng Đề đốc Hứa Thế Hanh đốc suất quân quyết một phen huyết chiến. Nhưng giặc đến quá đông, bủa vây bốn mặt, thần và Hứa Thế Hanh không liên lạc được với nhau. Thần phải đột phá trùng vi mà ra. Đến phù kiều, sai Tổng binh Lý Hóa Long qua sông chiếm Bắc ngạn. Chẳng ngờ Lý Hóa Long ra đến giữa sông, sẩy chân rơi xuống nước. Thần sai phó tướng Khánh Thành quay lại bắn súng điểu thương, đem quân từ phù kiều đến bắc ngạn đến đóng ở sông Thị Cầu. Sai người đến Lạng Sơn, Nam Quan trông coi mẹ con Lê Duy Kỳ, bảo vào cửa quan tạm trú.

“Thần lãnh trách nhiệm nặng, không sớm thành công, xin được cách chức và trị tội để làm gương răn đe những kẻ điều khiển trái phép…”[2]

Tin đại quân hai mươi vạn đã bị Tây Sơn tiêu diệt, Đề đốc Hứa Thế Hanh và các tướng tử trận cùng với tờ biểu tạ tội của Tôn Sĩ Nghị bay về đến Yên Kinh khiến vua tôi Càn Long kinh hồn bạt vía. Càn Long vội triệu tập Quân Cơ Xứ lại, tức tối vỗ án phán như thét:

–  A Quế lập tức ra lệnh triệu hồi Tôn Sĩ Nghị về kinh trị tội. Điều Phúc Khang An từ Phúc Kiến sang giữ chức tổng đốc Lưỡng Quảng, lãnh binh năm mươi vạn lấy từ chín tỉnh kéo sang tiêu diệt bọn An Nam trả mối hận này cho trẫm ngay.

Trận thua nhục nhã này đã khiến cho vua tôi nhà Thanh ai nấy đều cảm thấy bỉ mặt, khi nghe vua Càn Long ra lệnh cử đại binh trả thù, tất cả Quân Cơ đại thần đều hưởng ứng ngay. A Quế tâu:

–  Quyết định của hoàng thượng thật anh minh. Phúc Khang An là người có tài điều binh khiển tướng có thể trả được mối hận này. Thần lập tức lên kế hoạch để xuất quân.

Hòa Khôn đã nhận được của đút lót của Sĩ Nghị nên tâu giúp:

–  Việc cử binh tiễu phạt để báo thù thật nên làm, duy việc trị tội Tôn Sĩ Nghị, thần xin hoàng thượng xét lại cho ông ta.

Càn Long giận dữ hỏi:

–  Sĩ Nghị thân làm đại soái lại để tổn hao đến hơn mười vạn quân, chết mất mấy người Đề, Trấn, tội ấy làm sao có thể tha được?

Hòa Khôn tâu:

–  Căn cứ theo tờ biểu tạ tội của họ Tôn thì trăm sự cũng bởi bọn Lê Duy Kỳ chết nhát mà ra, chưa chi đã bỏ chạy khiến lòng dân rối loạn, tạo thế cho giặc hung hăng thêm, dẫn đến quân ta bị cô lập rồi thất thố. Hơn nữa, xét theo công trạng của họ Tôn trong chiến dịch này, chỉ chưa đầy một tháng mà ông ta đã thu phục được thành Lê, giao nước lại cho Chiêu Thống, thực hiện đúng ý chỉ “hưng diệt kế tuyệt” của hoàng thượng đề ra. Luận về công và tội, theo ý thần, họ Tôn chưa đến độ phải bị xử phạt. Xin hoàng thượng anh minh xét lại.

Càn Long nghe Hòa Khôn phân giải một hồi, lại nghĩ việc tiến đánh An Nam lần này phần lớn là do ý mình đề xuất nên cơn giận cũng nguôi dần, nhà vua nói:

–  Lời khanh nói cũng có lý, vậy chuyện xử tội hãy đợi trẫm xem xét lại, nhưng việc triệu hồi hắn về kinh để Phúc Khang An thay thế giữ chức tổng đốc Lưỡng Quảng chuẩn bị đem quân hỏi tội bọn An Nam thì phải tiến hành ngay.

Hoà Khôn sụp lạy nói:

–  Hạ thần tuân chỉ.

Càn Long lại nói:

–  Theo báo cáo, đề đốc Hứa Thế Hanh, ba tổng binh Thượng Duy Thăng, Trương Triều Long, Lý Hóa Long, tham tướng Dương Hưng Long, Vương Tuyên, Anh Lâm, du kích Minh Quế… vì nước hy sinh, phải lo biệt thưởng tử tuất và cho con cháu được hưởng quyền thế tập. Giặc Huệ dám giết đại quan của thiên triều, tức phạm tội đại ác không thể dung tha. Tuy nhiên xứ này đang vào tiết xuân có nhiều chướng lệ chưa tiện thâm nhập hỏi tội, trẫm lệnh cho các đốc phủ miền duyên biên cùng các doanh cho quân luyện tập tinh nhuệ, chuẩn bị binh lương đầy đủ, sẵn sàng đợi lịnh tiến binh hỏi tội. Các khanh mau thông tri xuống các nơi lập tức thi hành.[3]

Quân Cơ Xứ lập tức thi hành mệnh lệnh. Tin đến Phúc Kiến, Phúc Khang An vội vã lên đường sang Nam Ninh nhậm chức. Đến nơi, công văn chín tỉnh cũng vừa gởi đến báo cáo việc chuẩn bị binh lương đã đầy đủ, sẵn sàng đợi lệnh của tân tổng đốc điều hợp.

Phúc Khang An cho gọi Tôn Vĩnh Thanh và Thang Hùng Nghiệp đến hỏi:

–  Nay hoàng thượng chỉ định cho ta chuẩn bị năm mươi vạn quân mở cuộc Nam chinh trả hận bọn Tây Sơn, hai ông đã từng tham chiến, nói cho ta biết sự lợi hại, mạnh yếu của giặc Tây thế nào?

Thang Hùng Nghiệp vừa từ cõi chết trở về nên nỗi sợ hãi hãy còn ám ảnh trong lòng, nghe hỏi ông ta vô tình đưa tay sờ vào cổ mình rồi thở dài nói:

–  Từ lâu chúng ta đã đánh giá bọn Nam man một cách hết sức sai lầm. Đất nước đó địa bàn trùng trùng hiểm trở, dân nước đó khi có giặc ngoại bang thì thống nhất làm một, còn quân đội đó, bọn Tây Sơn, là một đám quân vừa tinh nhuệ, vừa đánh giỏi lại không biết sợ chết là gì. Lâm trận chúng chỉ biết tiến chứ không biết lùi, dù phải xông lên giữa rừng tên đạn. Đánh một kẻ không sợ chết đã khó, nay chúng ta phải đánh hàng vạn tên liều mạng như vậy thì cuộc chiến này là cuộc chiến tất bại, không có một phần thắng nào trong tay ta cả.

Phúc Khang An trợn mắt có vẻ không tin, hỏi lại:

–  Ông nói thật chứ? Bọn Tây Sơn hung dữ đến mức đó à?

Thang Hùng Nghiệp vô tình đưa tay sờ lại cổ mình lần nữa, giọng ngán ngẩm tiếp:

–  Xin tổng đốc đừng cho tôi sợ giặc mà nói quá. Tổng đốc hãy hỏi Trần Nguyên Nhiếp, người cầm ấn tín của Hứa đề đốc chạy về đây thì rõ.

Khang An xua tay:

–  Ta chỉ hỏi vậy thôi chứ nào có nghi ngờ lời ông nói. Theo ý hai ông, chúng ta nên làm gì trong trường hợp tiến thoái lưỡng nan này?

Trước khi Phúc Khang An đến Nam Ninh, Tôn Vĩnh Thanh và Thang Hùng Nghiệp đã hội ý với nhau trước nên khi nghe Khang An hỏi, Hùng Nghiệp đưa mắt nhìn Vĩnh Thanh. Tôn Vĩnh Thanh hiểu ý đáp:

–  Đánh mà không thể thắng chi bằng ta nghĩ cách giảng hòa cho tiện lợi đôi bên.

Phúc Khang An vừa trải qua trận chiến gian khổ ở Đài Loan nên đã ngán ngẩm việc chiến tranh, lại thấy gương thảm bại của Tôn Sĩ Nghị cũng lo sợ. Nghe hai người đều có ý chủ hòa nên xuôi theo, hỏi:

–  Hoàng thượng đang rất tức giận, quyết ý trả thù. Việc giảng hòa tiến hành thế nào để hoàng thượng vui lòng chấp thuận?

Hùng Nghiệp nói:

–  Lê thần Phan Khải Đức là người Tôn tổng đốc rất tin cẩn, ta cứ giao cho hắn tiếp xúc với bọn Tây Sơn.

–  Vậy được. Ông hãy viết một bức thư hù dọa bọn Tây Sơn, bảo chúng phải sang khất hàng và chịu tội cùng thiên triều để khỏi bị trừng phạt.

Hùng Nghiệp vâng lệnh trở về thảo một bức mật thư giao cho Phan Khải Đức đem đến trấn Nam Quan trao cho Hô Hổ hầu. Trước khi đi, Hùng Nghiệp dặn:

– Ngươi bảo bọn Hô Hổ hầu nói với Nguyễn Huệ nên mau chóng thực hiện việc cầu hòa, mọi việc đã có ta đứng sau lo liệu. Đừng chậm trễ, nếu để Đại hoàng đế hạ chỉ xuất quân thì không tốt đâu.

Phan Khải Đức vâng dạ rồi tìm đến trấn Nam Quan trao thư. Hô Hổ hầu hỏi:

–  Ý tứ của bọn chúng thế nào?

Khải Đức đáp:

–  Rất sợ Tây Sơn nên không dám ra quân. Hô Hổ hầu tin cho hoàng thượng hay, cứ giữ thế thượng phong mà thương thuyết. Mọi việc bên trong đã có Thang Hùng Nghiệp và Tôn Vĩnh Thanh giúp đỡ.

Bức mật thư của Thang Hùng Nghiệp được cấp tốc mang về Thăng Long, vua Quang Trung mở ra đọc, nội dung thư viết như sau:

“…Lê Duy Kỳ bỏ nước trốn, Thiên triều quyết không đem nước An Nam cho y nữa. Hãy thừa lúc trước khi chưa vâng chỉ dụ xuất binh tảo phạt, cử người gõ cửa quan kêu xin, ngõ hầu có thể ngưỡng cầu ân điển…

Bản đạo nhân vì giữ chức ở biên giới, tương lai có rất nhiều việc giao thiệp với các ngươi vì vậy viết kín thư này bảo cho biết. Thuận theo thì hưởng phước, nghịch lại thì chuốc họa, tùy ngươi tự chủ lấy.”[4]

Vua Quang Trung đọc xong cả cười nói với quần thần:

–  Bọn chúng đã sợ uy quân ta nên mở lối xúi ta cầu hòa trước. Thời Nhậm hãy dùng lời lẽ của kẻ chiến thắng viết một tờ biểu trần tình để dằn mặt chúng trước cho chúng biết ta không vì sợ trả thù mà gõ cửa quan cầu xin.

Thời Nhậm nghe theo thảo ngay tờ biểu dâng lên. Vua Quang Trung đọc xong gật gù tán thưởng, giao thư cho Tín Nhi mang đi và dặn:

–  Ngươi mang thư cùng một số ngân lượng lên Nam Quan lo việc giảng hòa cho ta. Ý tứ thế nào ngươi đã rõ rồi.

Tín Nhi vâng lệnh lên ngay biên giới. Bấy giờ Phúc Khang An đã đem rất nhiều binh mã đóng dọc theo biên giới để thị uy, cờ xí rợp trời, khí thế dời non. Bên này, Tây Sơn cũng cho tập trung đại quân, doanh trại đóng giăng giăng hàng mấy dặm, không khí biên giới hai nước hết sức căng thẳng. Hô Hổ hầu nhận tờ biểu liền đích thân mang đến cho Thang Hùng Nghiệp. Hùng Nghiệp mở ra đọc, biểu viết có những đoạn:

“…Đốc bộ đường Tôn Sĩ Nghị là đại thần ở biên giới đáng lẽ phải tra xét kỹ, tìm nguyên do vì sao Duy Kỳ bỏ nước và vì sao tôi phải đem quân vào, rồi tâu rõ lên Đại hoàng đế, chờ ngài phân xử… Thế mà vì nghe theo lời người đến trước, Sĩ Nghị xé biểu chương của tôi ném xuống đất, rồi truyền hịch khắp trong nước, mượn tiếng khôi phục nhà Lê… Nghị điều binh qua cửa ải, chực “nhổ cỏ, nhổ cả rễ”, chém giết bừa bãi để hả dạ tham tàn. Tôi ở tít tận chân trời xa xôi, chẳng biết việc đó là do Đại hoàng đế sai khiến hay là tự kẻ bầy tôi nơi biên giới trá mệnh để cầu công?...”

“Ngày hôm ấy, quân Sĩ Nghị xông ra đánh trước, vừa mới giao phong đã vỡ chạy tán loạn, thây chết chồng chất lên nhau, đầy đồng, nghẽn sông…”

“Này, đường đường là triều đình Thiên tử lại đi so hơn thua với nước rợ nhỏ thì ắt là muốn cùng khốn binh sĩ, lạm dụng vũ lực hầu sướng khoái lòng tham tàn thì thật cái lòng của Thánh thượng không nhẫn.”

“Trong muôn một nếu can qua nối tiếp không dứt, tình thế đến nỗi nào thì thật không phải do tôi muốn, mà cũng không dám biết nữa.”

“Tôi đóng quân ở thành Long Biên, ngóng trông về cửa trời… có tờ biểu tạ tội và trần tình này, nhờ quan Quảng Tây phân tuần Tả giang binh bị đạo chuyển tâu trình giúp…

Tôi kính cẩn sai sứ sang cửa khuyết, xưng phiên thần, sửa lễ cống… Lại sẽ xin đem số người hiện còn của nhà vua mà dâng nộp để bày tỏ tấc lòng chân thật này”[5].

Thang Hùng Nghiệp đọc xong thất kinh nói:

–  Nay không phải hai nước đánh nhau, sao hành sự toàn một giọng giận dữ? Nói thế là muốn cầu hòa hay muốn gây tiếp can qua chăng? Ông về bảo vua ông hãy viết lại, dùng lời lẽ nhã nhặn hơn để được lòng thánh thượng.

Rồi sao lại một bản, bản chính trả cho Hô Hổ hầu đem về. Theo lệ nhà Thanh, thư của sứ giả các nước khi đến biên giới không được dán kín, quan giữ biên giới xem qua rồi mới dán lại gởi về triều. Tờ biểu trần tình của Tây Sơn tuy bị trả lại nhưng bản sao vẫn được gửi về cho Càn Long. Trong thời gian qua, vì có sự lo lót của nhóm Phúc Khang An, Tôn Vĩnh Thanh và Thang Hùng Nghiệp, sủng thần Hòa Khôn đã khéo léo khuyên vua Càn Long nên chấp nhận đề nghị cầu hòa của Tây Sơn, do đó sau khi đọc tờ trần tình, Càn Long ra chỉ dụ bảo Phúc Khang An, dụ có đoạn:

““… Phúc Khang An truyền hịch dụ Nguyễn Huệ, trong sự nghiêm khắc nên mở một con đường. Nên dụ rằng: “Ngươi hối tội đầu hàng, nhưng trong biểu văn dùng từ cũng chưa ổn; Bản bộ đường đáng phải bác trả lại. Nếu tình và từ ngữ thành khẩn, lập ngôn cung thuận, sẽ giúp ngươi trần tấu, để đợi chỉ tuân hành…”

“Nguyễn Huệ như muốn khất hàng, trước hết phải đưa các quan binh tống xuất, trói những tên đã giết các Đề, Trấn đem hiến, như vậy Bản bộ đường mới có thể tâu thay để khẩn cầu Đại hoàng đế gia ân mở lượng khoan hồng… Nếu Nguyễn Huệ không lo sửa đổi ngay chỉ gởi người đến để thử, Bản bộ đường sẽ cử binh bốn lộ hội tiễu, quét sạch sào huyệt thì chẳng còn hối được nữa.[6]

Phúc Khang An nhận được chỉ dụ, theo lời dặn vội viết thư sai người đem đến Nam Quan. Hô Hổ hầu  cho mang gấp về Thăng Long. Vua Quang Trung đọc thư xong bảo Ngô Thời Nhậm:

–  Vậy là bọn chúng đã chấp thuận việc cầu hòa. Từ nay nên dùng lời lẽ nhu thuận vuốt mặt Càn Long. Khanh hãy thảo tờ biểu cầu phong giao cho Quang Hiển thay ta sang Yên Kinh nộp cống, xưng thần. Ngày mai ta phải trở về Phú Xuân để Nguyễn Ánh e dè, mọi việc bang giao, khanh cùng Phan Huy Ích và các quan bàn bạc sao cho có kết quả tốt đẹp, trừ phi là việc tối quan trọng, đừng chờ đợi ý của trẫm làm mất thời gian.

Ngô Thời Nhậm tâu:

–  Thần sẽ hết sức để không phụ lòng tin cậy của hoàng thượng.

Vua Quang Trung dặn Ngô Văn Sở:

–  Khanh cho người hộ tống tất cả tù binh lên biên giới trao trả lại cho Phúc Khang An. Việc quân quản ngoài này giao cho khanh cùng Ngô Thời Nhậm trông coi.

Văn Sở tâu:

–  Thần tuân chỉ.

Nhà vua dặn Quang Hiển:

–  Nếu Càn Long chấp thuận hòa hảo cho đến Yên Kinh gặp mặt, cháu thay mặt ta sang gặp lão, để Tín Nhi đi theo hộ tống. Hắn biết phải làm gì cho ta.

–  Dạ cháu hiểu rồi.

Hôm sau Ngô Thời Nhậm dâng tờ biểu lên và tâu:

–  Thần theo ý hoàng thượng dùng lời lẽ mềm mỏng, chỉ sợ tổn hại đến người. Mời hoàng thượng xem qua.

Vua Quang Trung đọc qua:

“…Thần khởi lên ở đất Tây Sơn, đầu tiên có đất Quảng Nam, vốn không có sự phân biệt cao thấp với họ Lê.

“Năm ngoái thần đã từng sai người gõ cửa quan trình bày đầy đủ duyên cớ việc gây hấn với họ Lê. Quan Trấn thủ biên cương bác thơ không đề đạt ngay lên Bệ hạ.

“Kịp khi binh ra quan ải đi chinh phạt, thì tháng Giêng năm nay thần đã ra Lê thành để hỏi duyên cớ và kêu xin quân của Thiên triều.

” Không ngờ  vừa trông thấy, quan quân liền phấn khởi hăng hái tàn sát, bọn thủ hạ của thần thình lình khó bó tay chịu trói, lại gặp cầu trên sông bị gãy, quan binh bị tổn thương, kinh hoàng khôn xiết.

“Thần đã nhiều lần sai người gõ cửa quan xin tội, cùng đưa về những quan binh chưa chạy khỏi nước An Nam. Còn những kẻ đã sát hại quan Đề, Trấn thì trót đã mắt thấy nên đem xử theo pháp luật rồi.

“Thần vốn phải đích thân đến triều khuyết trần tình xin tội, nhưng vì trong nước việc binh cách dân tình chưa yên, kính cẩn sai cháu ruột là Nguyễn Quang Hiển mang theo tờ biểu vào chầu..”[7]

Đọc xong nhà vua mỉm cười nói:

–  Viết hay lắm. Lời lẽ của Càn Long và Phúc Khang An càng hống hách bao nhiêu, khanh cứ thay ta mềm mỏng bấy nhiêu để vua tôi hắn hởi dạ mà gật đầu. Trẫm chẳng màng đến những việc nhỏ mọn này đâu.

Ngô Thời Nhậm thầm phục trong lòng. Ông cúi đầu nói:

–  Thần lãnh ý hoàng thượng.

Thu xếp mọi việc xong, vua Quang Trung lên đường trở lại Phú Xuân, không quên sai quân mang theo một số cành hoa đào Thăng Long về làm quà cho các hoàng hậu cùng chiếc áo dài Quan họ tặng riêng cho Hữu cung Ngọc Hân.

** * * *

[1] Nguyên văn câu nói của Tôn Sĩ Nghị: “Quang Bình bất diệt tất bất hưu!”

[2] Thanh Cao Tông Thực Lục. Trích từ dụ số 50, ngày 19-2-1789. Bản dịch Hồ Bạch Thảo.

[3] Cao Tông Thực Lục. Dụ số 51, ngày 20-2- 1789.

[4] Bản dịch chữ Hán của Hoa Bằng.

[5] Bang giao tập – Ngô Thời Nhậm.

[6] Cao Tông Thực Lục – Dụ ngày 27-2-1789.

[7] Theo Đại Nam Chính Biên Liệt Truyện.